Từ bến thuyền phía nam đập nước Aswan Cũ, khi chiếc thuyền máy rẽ làn nước trong xanh phẳng lặng len lỏi qua những khối đá hoa cương hồng tròn trịa nhô lên giữa lòng sông Nile tại khu vực Thác ghềnh thứ nhất, du khách bỗng thấy hiện ra phía trước một hòn đảo đá tuyệt đẹp được bao quanh bởi những hàng cột sa thạch vàng óng, hai tòa tháp môn uy nghi và một ngôi đình mười bốn cột mở toang bốn mặt đón gió sông. Nhìn bóng ngôi đền in xuống mặt hồ êm ả giữa tiếng chim nước gọi bầy, ít ai ngờ rằng toàn bộ quần thể kiến trúc cổ đại ấy từng bị nhấn chìm dưới dòng nước lũ suốt hơn nửa thế kỷ và đã được các kỹ sư của nhân loại tháo rời từng viên đá để chuyển sang một hòn đảo mới cao ráo hơn.
Thánh địa huyền thoại ấy là Đền thần Isis trên đảo Philae, Aswan (phiên âm tiếng Ả Rập: Ma'bad Filah, tên cổ Ai Cập là Pilak hay P-aaleq, nghĩa là Điểm Tận Cùng hay Biên Giới Xa Xôi Nhất giữa Ai Cập và vùng đất Nubia). Từng là trung tâm hành hương quốc tế sùng kính Thánh mẫu Isis và vị thần thủy tổ Osiris của cả thế giới Địa Trung Hải lẫn vương quốc Meroe phương Nam, đảo Philae chính là nơi chương cuối cùng của nền văn minh Ai Cập cổ đại khép lại sau hơn ba thiên niên kỷ rưỡi: chính trên bức tường đá của ngôi đền này, vị tư tế cuối cùng đã khắc dòng chữ tượng hình cuối cùng của lịch sử loài người vào năm 394 sau Công nguyên trước khi ngọn lửa tế lễ cổ xưa tắt hẳn vào thế kỷ thứ 6.

IThánh Mẫu Isis (Aset), Lăng Mộ Thủy Tổ Osiris Trên Đảo Cấm Bigeh Và Dòng Chữ Tượng Hình Cuối Cùng Của Nhân Loại
Trong tâm thức tâm linh và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Ai Cập cổ đại, không có câu chuyện thần thoại nào chạm tới chiều sâu tình nghĩa gia đình và khát vọng trường sinh mạnh mẽ như huyền thoại về Osiris, Isis và Horus. Theo thần thoại cổ, Osiris vốn là vị Pharaoh hiền minh đầu tiên dạy cho loài người biết trồng lúa mì, làm rượu nho và lập nên pháp luật, nhưng bị người em trai đố kỵ là Seth sát hại rồi chặt thi thể làm mười bốn mảnh (hoặc mười sáu mảnh) rải khắp dòng sông Nile. Người vợ trung trinh của ngài là Nữ thần Isis (tên gốc Ai Cập là Aset, nghĩa là Ngôi Báu) đã cùng em gái Nephthys đi khắp đất nước tìm kiếm từng mảnh thi hài của chồng, dùng phép thuật và dải băng vải ướp xác đầu tiên ghép lại để hồi sinh Osiris thành Vua của Cõi Vĩnh Hằng (Chúa tể cõi âm Duat), đồng thời sinh hạ và nuôi dạy người con trai là thần chim ưng Horus (thờ chính tại Đền thần Horus tại Edfu) để nối ngôi cha.
Theo truyền thống tư tế vùng Thượng Ai Cập, một trong những mảnh thi hài linh thiêng nhất của thần tổ Osiris (chân trái hoặc trái tim tạo ra nguồn nước lũ sông Nile) được chôn cất ngay trên hòn đảo đá Bigeh (tiếng Ai Cập cổ là Senmet, người Hy Lạp gọi là Abaton, nghĩa là Nơi Bất Khả Xâm Phạm) nằm sát cạnh bờ tây của đảo Philae. Vì đảo Bigeh là lăng mộ thiêng tuyệt đối cấm người phàm đặt chân lên và cấm cả chim chóc hay tiếng ồn làm kinh động giấc ngủ của thần tổ Osiris, các vị vua Ai Cập đã xây dựng Đại đền Nữ thần Isis trên đảo Philae ngay đối diện để Nữ thần Isis luôn nhìn sang canh giữ lăng mộ của phu quân mình, và cứ mỗi mười ngày lại tự mình ngự thuyền sang đảo Bigeh dâng sữa tươi cùng nước mát lên 365 bàn tế lễ quanh mộ Osiris.
Từ thời kỳ Ptolemaios sang thời kỳ Đế chế La Mã (thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên tới thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên), hình tượng Nữ thần Isis tại Philae đã vượt ra khỏi biên giới sông Nile để trở thành một vị Thánh Mẫu cứu khổ cứu nạn mang tầm vóc toàn cầu, có đền thờ trải rộng từ Alexandria, Athens, Pompeii, Roma cho tới tận sông Danube và thành Luân Đôn (Londinium). Được tôn xưng là Nữ thần của Mười Nghìn Tên Gọi (Isis Myrionymos), Ngôi Sao Của Biển Cả (Stella Maris) và Hiền Mẫu Vũ Trụ, hình ảnh Nữ thần Isis ngồi trên ngai báu dịu dàng nâng bầu sữa cho hài nhi Horus (Isis Lactans) được chạm khắc khắp Điện Đản Sinh (Mammisi) trên đảo Philae chính là biểu tượng cao quý nhất về tình mẫu tử thiêng liêng và niềm hy vọng phục sinh sau cái chết trong thế giới cổ đại.
Nhờ vị trí nằm ở biên giới cực nam giáp với vùng đất Nubia, Đền thần Isis trên đảo Philae đã làm nên một kỳ tích lịch sử độc nhất vô nhị: trở thành pháo đài hợp pháp cuối cùng của tôn giáo Ai Cập cổ đại. Vào năm 391 sau Công nguyên, khi Hoàng đế La Mã Theodosius I ban hành sắc lệnh đóng cửa tất cả các đền thờ đa thần trên toàn cõi Đế chế, riêng Đền Philae vẫn được phép hoạt động bình thường nhờ một hiệp ước ngoại giao đặc biệt (được Hoàng đế Marcion tái ký năm 452 CN) với các bộ tộc du mục hùng mạnh vùng Thượng Nubia là người Blemmyes và người Nobadae, những người hằng năm vẫn vượt sa mạc tới Philae để cầu đảo và rước pho tượng Nữ thần Isis về xứ sở của họ xin lời sấm truyền.
Chính tại Cổng Hadrian (Gate of Hadrian) nằm ngay phía tây bắc đền Isis hướng sang đảo mộ Osiris, vào ngày 24 tháng 8 năm 394 sau Công nguyên (ngày sinh của thần Osiris, năm thứ 110 triều đại Diocletian), vị tư tế Nesmeterakhem (Esmet-Akhom) thuộc một gia tộc tư tế lâu đời tại Philae đã chạm khắc bức phù điêu thần Mandulis kèm theo một dòng văn tự bằng cả chữ tượng hình (Hieroglyphs) và chữ bình dân (Demotic) với lời nguyện: Trước mặt thần Mandulis, con trai của Horus, bởi bàn tay của Nesmeterakhem, con trai của Nesmeter, tư tế viết sách thứ hai của Nữ thần Isis, cho tới muôn đời vĩnh cửu. Đó chính là dòng chữ tượng hình Ai Cập cổ đại cuối cùng có ghi ngày tháng được biết đến trong lịch sử nhân loại (kèm theo dòng chữ Demotic cuối cùng khắc ngày 11 tháng 12 năm 452 CN cũng tại Philae), trước khi Hoàng đế Đông La Mã Justinian I sai tướng Narses đến đóng cửa ngôi đền vào khoảng năm 535 tới 537 sau Công nguyên.
Một sự thật thú vị mà du khách cần lưu ý là hòn đảo mà quý vị đang bước chân lên tham quan ngày nay thực chất không phải là đảo Philae nguyên thủy, mà là đảo đá hoa cương Agilkia nằm cách đảo Philae gốc khoảng 500 mét về phía tây bắc. Sau khi người Anh xây dựng Đập nước Aswan Cũ (Aswan Low Dam) vào năm 1902 và hai lần nâng cao đập vào năm 1912 và 1934, đảo Philae nguyên thủy đã bị nước sông Nile nhấn chìm từ 6 tới 10 tháng mỗi năm (khiến du khách thời đầu thế kỷ 20 phải chèo thuyền gỗ luồn qua các đầu cột nhô lên mặt nước). Tới năm 1960, khi Đại đập Cao Aswan (Aswan High Dam) được khởi công ở phía nam, đảo Philae nằm kẹt giữa hai con đập bị ngập nước vĩnh viễn và chịu sự bào mòn dữ dội của dòng nước lên xuống hằng ngày. Để cứu vãn kiệt tác này cùng với Đền đá Abu Simbel, từ năm 1972 tới 1980, UNESCO và Chính phủ Ai Cập đã đóng một vòng tường vây bằng thép kép (cofferdam) quanh đảo Philae, hút cạn nước, tháo dỡ toàn bộ các ngôi đền thành hơn 40.000 khối đá đánh số thứ tự, đồng thời dùng thuốc nổ san gọt đỉnh đảo Agilkia bên cạnh cao hơn 12 mét để tạo dáng địa hình giống hệt đảo Philae rồi lắp ghép lại toàn bộ quần thể đền chính xác tới từng milimét.
IITừ Đình Thờ Nectanebo I Qua Kỷ Nguyên Ptolemaios - La Mã Tới Chiến Dịch Giải Cứu Thế Kỷ Của UNESCO
Mặc dù các hiện vật nhỏ tìm thấy tại Philae có niên đại từ thời Vương triều thứ 25 của các Pharaoh xứ Kush (Taharqa, thế kỷ 7 TCN) và Vương triều thứ 26 (Psamtik II, Amasis), công trình kiến trúc cổ xưa nhất còn đứng vững trên đảo hiện nay là Đình cột đón thuyền của Pharaoh Nectanebo I (Vương triều thứ 30, trị vì khoảng năm 380 tới 362 TCN), vị vua bản địa cuối cùng của Ai Cập cổ đại. Ngay sau đó, các vị vua thuộc Vương triều Ptolemaios (gốc Hy Lạp Macedonia, từ năm 305 tới 30 TCN) đã biến toàn bộ đảo Philae thành đại công trường thánh địa của Nữ thần Isis, được tiếp nối bởi các Hoàng đế La Mã từ Augustus tới Diocletian và cả các vị quốc vương Nubia xứ Meroe.
- Khoảng 380 tới 362 TCN (Vương triều 30)Pharaoh Nectanebo I xây dựng Đình cột phía Nam và cổng tháp môn cổPharaoh Nectanebo I dựng ngôi đình 14 cột có đầu cột chạm mặt nữ thần Hathor ở mũi cực nam của đảo làm bến đón thuyền hành hương và cổng vào khu đền cổ.
- Khoảng 285 tới 30 TCN (Thời kỳ Ptolemaios)Ptolemy II Philadelphus khởi dựng Đại đền Isis và các vua kế vị hoàn thiệnVua Ptolemy II và Ptolemy III xây dựng phần thân chính của Đại đền Isis, hai Tháp môn và Điện Đản Sinh (Mammisi); các vua Ptolemy VI, Ptolemy VIII và Ptolemy XII Auletes tiếp tục chạm khắc phù điêu, dựng cặp cột Obelisk tại cổng trước.
- Năm 30 TCN tới cuối thế kỷ 3 CN (Thời kỳ La Mã)Các Hoàng đế Augustus, Tiberius, Trajan, Hadrian và Diocletian tô điểm hòn đảoHoàng đế Augustus và Tiberius xây dựng hai dãy hành lang cột dài ở sân ngoài; Hoàng đế Trajan (trị vì 98 tới 117 CN) dựng Ngôi đình Trajan (Giường của Pharaoh) tuyệt đẹp bên bờ đông; Hoàng đế Hadrian dựng cổng rước sang đảo mộ Osiris.
- Năm 394, năm 452 và khoảng năm 535 tới 537 CNKhắc dòng chữ tượng hình cuối cùng và đóng cửa thánh địa cổ đạiNgày 24 tháng 8 năm 394 CN tư tế Esmet-Akhom khắc dòng chữ tượng hình cuối cùng; ngày 11 tháng 12 năm 452 khắc dòng chữ Demotic cuối cùng; khoảng năm 535 tới 537 CN Hoàng đế Justinian I đóng cửa đền và Giám mục Theodore lập Nhà thờ Thánh Stephen trong sảnh cột.
- Năm 1815 tới 1822Cột Obelisk Philae giúp Jean-François Champollion giải mã chữ tượng hình Ai CậpNhà thám hiểm người Anh William John Bankes phát hiện cây cột Obelisk bằng đá hoa cương hồng tại Philae có khắc song ngữ chữ Hy Lạp và chữ tượng hình tên vua Ptolemy và nữ hoàng Cleopatra, cung cấp chìa khóa quyết định cùng Bia đá Rosetta để Champollion đọc thông chữ tượng hình năm 1822.
- Năm 1972 tới ngày 10 tháng 3 năm 1980UNESCO di dời toàn bộ quần thể đền sang đảo Agilkia và ghi danh Di sản Thế giớiSau 8 năm đóng đập vây thép, tháo dỡ hơn 40.000 khối đá từ đảo Philae bị ngập nước và lắp ghép lại nguyên vẹn trên đảo Agilkia (được ghi danh Di sản Thế giới năm 1979, mã số 88), quần thể đền mới chính thức khánh thành ngày 10 tháng 3 năm 1980.
Cột Obelisk đảo Philae và bước ngoặt giải mã chữ tượng hình năm 1822. Nhiều người chỉ biết tới tấm Bia đá Rosetta (hiện ở Bảo tàng Anh) mà quên mất rằng để giải mã hoàn chỉnh bảng chữ cái tượng hình Ai Cập cổ đại, nhà bác học Pháp Jean-François Champollion đã phải dựa vào một bảo vật thứ hai lấy từ chính cổng Tháp môn thứ nhất của Đền thần Isis trên đảo Philae: Cột bút tháp Obelisk Philae (Bankes Obelisk) cao 6,7 mét bằng đá hoa cương hồng dựng năm 118 trước Công nguyên dưới thời vua Ptolemy VIII cùng hai hoàng hậu Cleopatra II và Cleopatra III. Trong khi Bia đá Rosetta chỉ có khung tên hoàng gia (cartouche) của vua Ptolemy, thì cây cột Obelisk tại Philae (được học giả Anh William John Bankes tìm thấy năm 1815 và đưa về điền trang Kingston Lacy ở Dorset) lại có cả văn khắc tiếng Hy Lạp trên bệ đá lẫn hai khung tên chữ tượng hình của cả Ptolemy và Cleopatra trên thân cột. Nhờ đối chiếu các chữ cái trùng nhau như P, T, O, L, E trong hai cái tên ấy vào năm 1822, Champollion mới chứng minh được chữ tượng hình Ai Cập vừa mang tính biểu âm vừa mang tính biểu ý, mở toang cánh cửa bước vào lịch sử cổ đại Ai Cập.
IIIHai Dãy Hành Lang Cột Đầu Hoa Độc Bản, Hai Tháp Môn, Điện Đản Sinh Mammisi Và Ngôi Đình Của Hoàng Đế Trajan
Quần thể đền thần Isis trên đảo Agilkia (Philae mới) trải dài khoảng 450 mét theo chiều Bắc - Nam và rộng khoảng 150 mét theo chiều Đông - Tây, quy tụ hơn mười công trình kiến trúc đá sa thạch hài hòa tuyệt đối với mặt nước sông Nile bao quanh. Không giống vẻ đồ sộ nặng nề của thời Tân Vương quốc, kiến trúc thời kỳ Ptolemaios và La Mã tại Philae nổi bật bởi sự thanh thoát, duyên dáng với những hàng cột có đầu cột chạm hình hoa sen, hoa giấy cói, lá cọ và mặt nữ thần Hathor không có cây cột nào trùng lặp hoàn toàn với cây cột nào.
Khi bước từ bến thuyền lên mũi phía nam của đảo, công trình đầu tiên đón du khách là Đình cột của Pharaoh Nectanebo I (thế kỷ 4 TCN) gồm 14 cột đá đội đầu cột mặt nữ thần Hathor nối bằng các bức tường lửng. Từ đây mở ra Sân Trước cực rộng được kẹp hai bên bởi hai dãy hành lang cột dài thời Hoàng đế Augustus và Tiberius: Hành lang phía Tây dài 93 mét gồm 31 cây cột (mỗi đầu cột là một tác phẩm điêu khắc thực vật khác nhau) có các cửa sổ đá mở thẳng ra bờ sông nhìn sang đảo thiêng Bigeh nơi có mộ thần Osiris; còn Hành lang phía Đông gồm 16 cột gắn liền với đền thờ thần Nubia Arensnuphis và thần y Imhotep.
Đứng chắn ngang đầu bắc của Sân Trước là Tháp môn thứ nhất rộng 45,5 mét và cao 18 mét. Trên mặt tường hai cánh tháp môn khắc bức phù điêu khổng lồ miêu tả vua Ptolemy XII Auletes (cha ruột của Nữ hoàng Cleopatra VII) đang vung chùy trừng phạt kẻ thù trước sự chứng giám của Nữ thần Isis, thần Horus xứ Edfu và Nữ thần Hathor. Giữa hai tháp môn là Cổng chính cổ kính hơn do vua Ptolemy II Philadelphus xây dựng, còn bên cánh trái có một cổng phụ nối thẳng vào Điện Đản Sinh.
Bước qua Tháp môn thứ nhất là Sân Giữa, nơi phía tây tọa lạc tòa Điện Đản Sinh (Mammisi) dài 48 mét được bao quanh bởi các hàng cột có đầu cột chạm hình bông hoa kết hợp mặt nữ thần Hathor. Đây là không gian nghi lễ tôn vinh thiên chức làm mẹ của Nữ thần Isis: các bức phù điêu bên trong và ngoài phòng thờ kể lại cảnh Nữ thần Isis sinh hạ hài nhi thần chim ưng Horus (Harpocrates) ẩn náu giữa đầm lầy cây giấy cói vùng châu thổ sông Nile để tránh sự truy sát của thần Seth, có thần lùn vui vẻ Bes đánh đàn hạc, nữ thần Hathor cho trẻ bú và thần Thoth đứng bảo vệ.
Phía bắc Sân Giữa là Tháp môn thứ hai rộng 32 mét và cao 12 mét (bên chân tháp môn phía đông tận dụng luôn một tảng đá hoa cương tự nhiên nhô lên từ nền đảo để khắc tấm bia hiến đất Dodekaschoinos của vua Ptolemy VI). Đi qua Tháp môn thứ hai là Tiền sảnh Đa trụ (Pronaos) gồm 10 cây cột đá sa thạch tròn trịa vẫn còn giữ lại những mảng màu xanh ngọc, đỏ nâu trên đầu cột và trần đá khắc cánh chim kền kền cùng các chòm sao thiên văn, đồng thời trên thân cột còn nguyên các cây thánh giá Coptic được đục vào thế kỷ thứ 6. Sâu nhất bên trong là Hậu cung tối thẳm của Nữ thần Isis, nơi vẫn còn bệ đá hoa cương nguyên khối do vua Ptolemy III và hoàng hậu Berenice đặt để nâng đỡ chiếc thuyền thiêng mạ vàng chở pho tượng Nữ thần.
Từ bên trong đền chính có cầu thang đá dẫn lên các phòng thờ thần Osiris nằm trên tầng mái (Osiris Chambers), nơi các bức phù điêu khắc họa chi tiết nghi lễ ướp xác, cái chết và sự phục sinh nảy mầm sự sống của thần tổ Osiris giữa 42 tỉnh thành của Ai Cập. Ở ngay phía tây bên ngoài Tháp môn thứ hai là Cổng Hadrian (Gate of Hadrian) dẫn ra bến thuyền đi sang đảo mộ Bigeh: chính trên bức tường phía bắc bên trong cổng này là nơi lưu giữ bức khắc thần Mandulis và dòng chữ tượng hình cuối cùng của nhân loại ghi ngày 24 tháng 8 năm 394 sau Công nguyên.
Nằm tách biệt bên bờ đông của hòn đảo nhìn thẳng ra mặt nước sông Nile là công trình có hình dáng thơ mộng và nổi tiếng nhất tại Philae: Ngôi đình của Hoàng đế Trajan (Kiosk of Trajan, được người dân địa phương gọi là Giường của Pharaoh, dài 20 mét, rộng 15 mét và cao gần 16 mét). Công trình gồm 14 cây cột đá cao vút có đầu cột chạm bó hoa sen và hoa giấy cói nâng đỡ hệ dầm đá hình chữ nhật mở thông hoàn toàn với bầu trời, vốn là bến đình nghi lễ nơi thuyền thiêng của Nữ thần Isis dừng chân. Ngay phía bắc đình Trajan là ngôi đền nhỏ duyên dáng thờ Nữ thần Hathor, nơi các cây cột khắc hình những chú khỉ đầu chó và thần lùn Bes đang vui vẻ gẩy đàn hạc, thổi sáo đôi và đánh trống đón mừng Nữ thần trở về.
| Hạng mục kiến trúc | Niên đại và kích thước kỹ thuật | Đặc điểm nghệ thuật và lịch sử tiêu biểu |
|---|---|---|
| Đình cột Nectanebo I và Hành lang Tây | Đình Nectanebo I (380 tới 362 TCN, 14 cột); Hành lang Tây dài 93 m gồm 31 cột | Cột đầu bò Hathor cổ nhất đảo; 31 đầu cột hoa lá độc bản có cửa sổ nhìn sang đảo mộ Osiris (Bigeh) |
| Tháp môn thứ nhất (First Pylon) | Rộng 45,5 mét, cao 18 mét (Ptolemy II tới Ptolemy XII Auletes) | Phù điêu khổng lồ khắc vua Ptolemy XII trước Nữ thần Isis; nơi từng đặt cặp cột Obelisk Philae |
| Điện Đản Sinh (Mammisi) | Dài 48 mét, nằm ở phía tây Sân Giữa (Ptolemy III tới Augustus) | Tôn vinh sự ra đời của thần Horus và hình tượng Thánh mẫu Isis cho con bú (Isis Lactans) |
| Tháp môn thứ hai và Sảnh Đa trụ | Tháp môn rộng 32 m, cao 12 m; Sảnh Đa trụ gồm 10 cột lớn | Giữ nguyên màu sơn khoáng trên trần đá thiên văn và dấu ấn thánh giá nhà thờ Coptic thế kỷ 6 |
| Hậu cung Isis và Cổng Hadrian | Hậu cung đặt bệ đá hoa cương Ptolemy III; Cổng Hadrian ở phía tây bắc | Nơi đặt thuyền thiêng của Nữ thần Isis; Cổng Hadrian lưu giữ dòng chữ tượng hình cuối cùng (24/8/394 CN) |
| Đình của Hoàng đế Trajan và Đền Hathor | Đình Trajan (98 tới 117 CN): dài 20 m, rộng 15 m, cao 15,85 m gồm 14 cột | Biểu tượng kiến trúc của đảo Philae bên bờ đông; Đền Hathor khắc hình thần Bes và khỉ gẩy đàn |
IVThế Đất Và Hướng
Trong địa lý thiêng của người Ai Cập cổ đại, khu vực Thác ghềnh thứ nhất (First Cataract) tại Aswan không chỉ là biên giới tự nhiên phía nam của vương quốc mà còn là cội nguồn thần thoại của dòng nước lũ sông Nile: người xưa tin rằng dưới các hang đá ngầm giữa đảo Elephantine, đảo Bigeh và đảo Philae là nơi vị thần sông Nile Hapi và chân trái của thủy tổ Osiris khơi nguồn mạch nước nuôi sống cả đất nước Ai Cập. Khi UNESCO di dời quần thể đền từ đảo Philae sang đảo Agilkia vào thập niên 1970, các kỹ sư đã giữ nguyên tuyệt đối cả hình dáng hòn đảo lẫn phương vị la bàn của từng tòa tháp môn. Dưới đây là góc nhìn đối chiếu thế đất thủy cục của Đền Philae theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét trên đại cục sơn thủy tại tọa độ 24,0256 độ vĩ bắc, 32,8842 độ kinh đông, Đền thần Isis trên đảo Philae (nay là đảo Agilkia) mang cách cục hiếm có của một Thủy trung linh châu (hòn ngọc nổi giữa lòng đại thủy). Toàn bộ quần thể đền ngự trên một khối đá hoa cương hồng nguyên khối (granite batholith) trồi lên giữa lòng hồ chứa nước sông Nile nằm giữa Đập Aswan Cũ ở phía bắc và Đại đập Cao Aswan ở phía nam. Bốn bề xung quanh đảo được bao bọc bởi mặt nước xanh thẳm êm ả tạo thành thế Tứ thủy triều quy, kim thành thang trì, trong khi bao quanh lòng hồ ở cả bờ Đông, bờ Tây và các đảo lân cận là những dãy đồi đá hoa cương tròn trịa xếp lớp như đàn voi thần và rùa thiêng chầu phục. Đặc biệt, nhìn ngay sang phía tây và tây nam qua một lạch nước hẹp là đảo đá Bigeh (tức thánh địa Abaton cổ đại nơi đặt lăng mộ thần tổ Osiris) có thế núi đá cao sừng sững đứng làm Hữu Bạch Hổ kiêm Triều sơn đối diện trực tiếp với Cổng Hadrian và 31 cây cột của Hành lang phía Tây.
Xét về sơn hướng và trục dẫn khí linh hoạt theo thế đảo, toàn bộ Đại đền Nữ thần Isis được lập theo thế tọa Đông Bắc hướng Tây Nam (trục chính đi từ Hậu cung ra Tháp môn thứ nhất mở về hướng Nam - Tây Nam, phương vị khoảng 205 độ). Hướng Nam - Tây Nam này vừa đón thẳng dòng chảy nguyên thủy của sông Nile từ thượng nguồn Nubia đổ về (thế Nghịch thủy triều đường thu nạp trọn vẹn nguồn sinh khí đầu nguồn sông Nile), vừa hướng về phía chòm sao Thiên Lang (Sirius, tức sao Sothis), ngôi sao của chính Nữ thần Isis mà mỗi lần mọc lên cùng mặt trời vào mùa hè lại báo hiệu mùa nước lũ sông Nile bắt đầu. Đồng thời, các kiến trúc sư thời Ptolemaios đã khéo léo xoay lệch trục của Tháp môn thứ nhất và Tháp môn thứ hai đi vài độ theo đường cong tự nhiên của sống lưng đá trên đảo, trong khi mở Ngôi đình của Hoàng đế Trajan quay mặt thẳng về hướng Đông đón ánh bình minh trên mặt hồ và mở Cổng Hadrian quay mặt thẳng về hướng Tây nhìn sang lăng mộ thần tổ Osiris, tạo nên sự giao hòa trọn vẹn giữa bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc giữa lòng sông thiêng.
VĐại Lễ Khoiak Tái Sinh Thần Tổ Osiris, Cuộc Rước Tượng Quốc Tế Vùng Nubia Và Đêm Ánh Sáng Trên Đảo Thiêng
Vào thời cổ đại, đảo Philae là một trung tâm lễ hội sôi động quanh năm, nơi các đoàn hành hương từ khắp Ai Cập, Hy Lạp, La Mã và vương quốc Nubia phương Nam cùng hội tụ bằng thuyền trên sông Nile. Các văn khắc chữ tượng hình trên tường phòng Osiris và Cổng Hadrian đã ghi lại chi tiết lịch trình nghi lễ thiêng liêng của hòn đảo này:
| Thời điểm tổ chức | Hệ lịch áp dụng | Tên đại lễ và nghi thức | Nội dung hành lễ và hoạt động văn hóa tại Đền thần Isis (Philae) |
|---|---|---|---|
| Cứ mỗi 10 ngày một lần (Cuối mỗi tuần lễ thập nhật cổ đại) | Lịch Mặt Trời Ai Cập cổ đại | Lễ Nữ thần Isis ngự thuyền sang đảo cấm Bigeh tế mộ Thần tổ Osiris | Cứ 10 ngày một lần, các vị tư tế rước pho tượng Nữ thần Isis từ hậu cung xuống chiếc thuyền thiêng tại bến Cổng Hadrian, chèo vượt qua lạch nước sang đảo cấm Bigeh (Abaton) để rót 365 bình sữa tươi lên 365 bàn tế lễ quanh lăng mộ thần tổ Osiris và đốt hương trầm cầu cho linh hồn ngài bất tử. |
| Tháng thứ 4 mùa Nước Lũ Akhet (từ ngày 12 tới ngày 30 tháng Khoiak) | Lịch Mặt Trời Ai Cập cổ đại | Đại lễ Huyền nhiệm Khoiak (Lễ Gieo hạt Lúa mạch và Phục sinh Thần Osiris) | Được chạm khắc chi tiết tại các phòng thờ Osiris trên mái đền: các tư tế lấy bùn sông Nile trộn với hương liệu đắp vào khuôn hình thần Osiris rồi gieo hạt lúa mạch lên trên và tưới nước mỗi ngày; khi mầm lúa xanh vươn lên trong bóng tối đúng vào ngày 30 tháng Khoiak, toàn đảo cử hành đại lễ mừng thần tổ Osiris đã chiến thắng cái chết và phục sinh. |
| Mùa nước lũ sông Nile dâng cao (Tháng 7 tới tháng 8 hằng năm) | Lịch Ai Cập cổ đại và Hiệp ước La Mã - Nubia | Đại lễ Hành hương Quốc tế của người Nubia (Blemmyes và Nobadae) rước tượng Isis | Suốt từ thời Ptolemaios tới tận giữa thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên, các vị tư tế và tù trưởng người Nubia đi thuyền tới đảo Philae dâng vàng bạc lễ vật, sau đó được phép rước pho tượng Nữ thần Isis lên thuyền rồng ngược dòng sông Nile về thăm các bộ lạc phương Nam để ban lời sấm truyền và chúc phúc mùa màng. |
| Các buổi tối hằng tuần quanh năm (Trên đảo Agilkia) | Chương trình di sản đương đại | Chương trình Âm thanh và Ánh sáng Đền Philae (Philae Sound and Light Show) | Du khách đi thuyền máy trong đêm vượt mặt nước hồ Aswan sang đảo Agilkia, đi bộ giữa hai hàng cột được thắp sáng lung linh và ngồi trước Tháp môn thứ hai để lắng nghe câu chuyện thần thoại cảm động về tình yêu chung thủy của Nữ thần Isis dành cho thần Osiris và hành trình giải cứu ngôi đền của UNESCO. |
Hình tượng Osiris nảy mầm lúa xanh và triết lý sinh tử vĩnh hằng. Một trong những nghi vật độc đáo nhất gắn liền với Đại lễ Khoiak tại đảo Philae là những Khuôn đất trồng lúa hình thần Osiris (Corn Mummies hay Osiris Beds). Người Ai Cập cổ đại không nhìn cái chết của tổ tiên như sự chấm dứt hư vô, mà nhìn thấy trong hạt giống được vùi xuống lớp bùn đen của sông Nile hình ảnh của chính thi hài thần tổ Osiris: hạt giống phải nằm trong bóng tối của lòng đất thì mới có thể nảy mầm vươn lên thành bông lúa vàng nuôi sống con cháu. Chính niềm tin nhân văn sâu sắc ấy cùng hình ảnh người vợ hiền Isis không quản gian lao đi tìm chồng, nuôi con đã khiến thánh địa Philae trở thành ngọn hải đăng tâm linh rực sáng suốt gần một thiên niên kỷ ở biên cương cực nam của thế giới cổ đại.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đảo Agilkia (hồ chứa đập Aswan Cũ tại Thác ghềnh thứ nhất), thành phố Aswan, tỉnh Aswan, Ai Cập
- Đường tới
- Bến thuyền đi đảo Philae (Marina Philae Temple) nằm ở phía nam Đập nước Aswan Cũ (Aswan Low Dam), cách trung tâm thành phố Aswan khoảng 8 tới 10 km về phía nam và cách Sân bay Quốc tế Aswan khoảng 12 km về phía đông bắc. Từ đường bờ sông Corniche el-Nil ở trung tâm thành phố Aswan, quý vị có thể đi taxi hoặc thuê xe riêng (kết hợp tham quan Cột Obelisk Chưa Hoàn Thành và Đại đập Cao Aswan trên cùng một cung đường) chạy khoảng 15 tới 20 phút là tới thẳng bến thuyền Marina Philae.
- Toạ độ
- 24.0256, 32.8842
Vì Đền thần Isis tọa lạc biệt lập trên đảo Agilkia giữa hồ nước nằm giữa hai con đập Aswan, cách duy nhất để tới thăm đền là đi thuyền máy có gắn động cơ (motorboat) từ bến thuyền chính thức Marina Philae trên đất liền (mất khoảng 10 tới 15 phút lướt trên mặt nước). Quý vị mua vé vào cổng khu di tích tại quầy vé trên đất liền trước, sau đó xuống bến thuyền thỏa thuận giá thuê thuyền khứ hồi (nên đi ghép đoàn hoặc thống nhất rõ mức giá thuê trọn chuyến cho cả lượt đi, thời gian chờ khoảng 1,5 tới 2 giờ trên đảo và lượt về trước khi bước lên thuyền). Trên đảo Agilkia có gió sông thổi mát mẻ hơn so với các đền trên sa mạc, nhưng quý vị vẫn nên đi vào sáng sớm (từ 7 giờ tới 10 giờ sáng) hoặc chiều muộn, nhớ dừng chân ngắm 31 đầu cột hoa lá khác nhau ở Hành lang phía Tây, tìm xem dòng chữ tượng hình cuối cùng năm 394 CN ở bức tường bên phải trong Cổng Hadrian và chụp ảnh tại Ngôi đình của Hoàng đế Trajan bên bờ đông.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền thần Isis trên đảo Philae, Aswan
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao Đền thần Isis trên đảo Philae lại được coi là thành trì cuối cùng của văn minh Ai Cập cổ đại?
Sau khi Hoàng đế La Mã Theodosius I ra sắc lệnh đóng cửa các đền thờ đa thần vào năm 391 sau Công nguyên, nhờ vị trí nằm ở biên giới phía nam và hiệp ước ngoại giao cho phép các bộ tộc Nubia (Blemmyes và Nobadae) tới hành hương, Đền thần Isis tại Philae vẫn tiếp tục hoạt động thêm gần một thế kỷ rưỡi cho tới khi Hoàng đế Đông La Mã Justinian I đóng cửa vào khoảng năm 535 tới 537 CN. Đây cũng là nơi lưu giữ dòng chữ tượng hình cuối cùng (khắc ngày 24 tháng 8 năm 394 CN) và dòng chữ Demotic cuối cùng (năm 452 CN) của lịch sử nhân loại.
Dòng chữ tượng hình cuối cùng trong lịch sử tại Đền Philae nằm ở vị trí nào và viết nội dung gì?
Văn khắc chữ tượng hình cuối cùng (Graffito of Esmet-Akhom) nằm trên bức tường phía bắc bên trong Cổng Hadrian (ngay phía tây Tháp môn thứ hai, nhìn sang đảo Bigeh). Văn khắc được vị tư tế của Nữ thần Isis là Nesmeterakhem (Esmet-Akhom) chạm vào ngày 24 tháng 8 năm 394 sau Công nguyên (ngày sinh thần Osiris) bên cạnh hình chạm nổi thần mặt trời Nubia Mandulis, cầu chúc cho tên tuổi và lời cầu nguyện của mình được tồn tại muôn đời.
UNESCO đã giải cứu Đền Philae khỏi lòng nước sông Nile vào thập niên 1970 bằng cách nào?
Sau khi Đập Aswan Cũ (1902) và Đại đập Cao Aswan (1960 tới 1970) được xây dựng, đảo Philae nguyên thủy nằm kẹt giữa hai đập bị nước sông Nile nhấn chìm quanh năm. Từ năm 1972 tới 1980, UNESCO và Chính phủ Ai Cập đã đóng một vòng đập vây bằng hai lớp cừ thép (cofferdam) quanh đảo Philae, bơm cạn nước, tháo dỡ toàn bộ các ngôi đền thành hơn 40.000 khối đá đánh số, dùng thuốc nổ san gọt đảo đá hoa cương Agilkia cách đó 500 mét (cao hơn 12 mét) theo đúng hình dáng đảo cũ rồi lắp ghép lại nguyên vẹn 100%.
Hòn đảo Bigeh nằm ngay đối diện bờ tây của Đền Philae có ý nghĩa tâm linh gì?
Đảo đá Bigeh (tên cổ Ai Cập là Senmet, tiếng Hy Lạp là Abaton nghĩa là Nơi Bất Khả Xâm Phạm) nằm ngay sát phía tây đảo Philae được người Ai Cập cổ đại tôn kính là một trong những nơi chôn cất mảnh thi hài linh thiêng của thần thủy tổ Osiris. Thời cổ đại, người thường tuyệt đối không được phép đặt chân lên đảo Bigeh để giữ sự tĩnh lặng tuyệt đối cho giấc ngủ của thần Osiris; chỉ có tượng Nữ thần Isis từ đảo Philae được các tư tế rước bằng thuyền sang đảo Bigeh cứ mỗi 10 ngày một lần để tưới sữa tươi lên 365 bàn tế lễ.
Công trình Ngôi đình của Hoàng đế Trajan (Giường của Pharaoh) trên đảo Philae dùng để làm gì?
Ngôi đình của Hoàng đế Trajan (Kiosk of Trajan, được xây dựng dưới thời Hoàng đế La Mã Trajan từ năm 98 tới 117 sau Công nguyên và người dân địa phương quen gọi là Giường của Pharaoh) gồm 14 cây cột đầu hoa cao gần 16 mét nằm sát bờ đông của đảo. Đây thực chất là tòa đình nghi lễ đón thuyền (Waystation / Bark Kiosk), nơi chiếc thuyền thiêng chở pho tượng Nữ thần Isis từ bờ sông bước vào nghỉ chân trước khi rước vào đại đền.