VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Thánh đường Islam 103 An Nhơn

Thánh đường Al Noor 103 An Nhơn, Thánh đường 103, Masjid 103 An Nhơn

Ngôi nhỏ nhất trong bốn thánh đường Islam của vùng, đứng cách ngôi Bàni của cùng làng chừng hai trăm mét.

Dựng
1964 hoặc 1968
các khảo cứu ghi khác nhau, trùng tu năm 1995
Số hiệu
103
tên riêng Al Noor, ngôi thứ ba của vùng
Tín đồ
150 tới 229
ít nhất trong bốn ngôi, trên khu đất 550 m2

Thôn An Nhơn không lớn, và đi hết chiều dài của xóm cũng chỉ mất mươi phút. Trong khoảng ấy, quý vị đi qua hai nơi thờ tự thuộc hai hệ đạo khác nhau. Một nếp nhà dài quét vôi sáng, không mái vòm, không tháp, cửa đóng gần trọn năm. Rồi chừng hai trăm mét sau là một khối nhà nhỏ có vòm, trên cao có hình trăng lưỡi liềm ôm một ngôi sao, cửa mở mỗi ngày và có người tới cả năm buổi.

Bài này viết về khối nhà thứ hai, tức thánh đường Islam mang số hiệu 103, tên riêng là Al Noor, nơi lễ của cộng đồng Chăm Islam theo lối chính thống. Nếp nhà thứ nhất là Thánh đường Bàni An Nhơn, tức Sang Magik của người Chăm Bàni trong cùng làng. Đây là ngôi có diện tích và số tín đồ ít nhất trong bốn thánh đường Islam của vùng, và chính vì nhỏ nên nó cho thấy rõ nhất một cộng đồng nhỏ giữ nếp đạo bằng cách nào.

Thánh đường Islam 103 An Nhơn
Thánh đường Islam 103 An Nhơn. Ảnh: nguyenquoctuan, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

INgôi Nhỏ Nhất Trong Bốn Ngôi

Xin nói rõ ngay từ dòng đầu, vì đây là chỗ hay bị xếp nhầm nhất. Nơi này là thánh đường của Hồi Giáo Islam chính thống, thuộc cộng đồng Chăm Islam. Đây không phải một thánh đường Bàni, dù trong cùng thôn An Nhơn có một ngôi Bàni đứng cách đây chừng hai trăm mét.

Tên Chăm của làng là palei Mblap Klak (tài liệu còn chép là Pamblap Klak hoặc Pamblap A Lhak), đặt cặp với palei Mblap Baruw là thôn Phước Nhơn kề bên. Hai chữ cuối nói rõ quan hệ giữa hai làng, một bên là Mblap cũ và một bên là Mblap mới, vốn tách ra từ cùng một gốc. Tên palei ấy dùng chung cho cả người Bàni lẫn người Islam trong làng, vì cả hai bên đều là người của cùng một palei.

Theo khảo cứu của Chu Văn Tuấn trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, ngôi 103 có tên riêng là Thánh đường Al Noor 103 An Nhơn, xây trên khu đất rộng 550 mét vuông và có khoảng 150 tới 229 tín đồ (tùy kỳ thống kê), ít nhất trong bốn thánh đường của vùng, trong khi ngôi 101 ở Văn Lâm có từ một nghìn năm trăm tới hai nghìn người. Tuy nhỏ nhất về quy mô, ngôi 103 lại là nơi đặt trụ sở tạm thời của Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Islam tỉnh Ninh Thuận cũ, và từ khoảng năm 2014 còn đón thêm một nhóm khoảng sáu mươi tín đồ mới chuyển sang Islam ở thôn Thành Tín (xã Phước Hải cũ, nơi chưa có thánh đường Islam) sang dự lễ trưa thứ Sáu hằng tuần.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Islam, nền tảng là niềm tin vào Đấng Allah, không hình tướng và không thể vẽ ra. Vì vậy trong thánh đường không đặt tượng, không treo tranh người hay vật, không có bát hương và không có lễ vật dâng cúng. Trang trí chỉ gồm hoa văn hình học và thư pháp chép lời kinh.

Cộng đồng Chăm Islam ở đây theo hệ phái Sunni, thực hành theo trường phái giáo luật Shafi'i. Bổn phận của tín đồ gồm năm cột trụ là tuyên xưng đức tin, lễ nguyện năm lần mỗi ngày, nhịn chay trọn tháng Ramadan, bố thí, và hành hương Mecca nếu đủ sức. Ở dòng Islam chính thống, năm việc ấy là bổn phận của từng tín đồ chứ không giao cho ai làm thay, nên thánh đường mở quanh năm và có người tới mỗi ngày.

Ở một cộng đồng nhỏ, điều này có một hệ quả đáng chú ý. Vì không ai được làm thay ai, nên số người ít không làm giảm số việc phải làm. Một ngôi khoảng hai trăm tín đồ vẫn phải đủ Ban Hakem để trông coi (theo khảo cứu công bố năm 2019, Ban Hakem của thánh đường 103 có sáu người, do cộng đồng bầu theo nhiệm kỳ năm năm), đủ vị Hakim đứng đầu, đủ Imâm dẫn lễ, Khotib giảng kinh và Tuan lo phần dạy đọc kinh, vẫn phải mở cửa năm lần mỗi ngày và vẫn phải có người xướng lời gọi lễ. Gánh trên mỗi người vì thế nặng hơn ở các ngôi lớn.

Theo sử liệu

Hai cộng đồng Chăm trong vùng cùng nhận một gốc nhưng đã đi thành hai lối từ nhiều thế kỷ, và chỗ khác nhau giữa hai bên đủ lớn để không thể mô tả gộp. Thư viện ghi lại như ghi một dữ kiện, không xếp bên nào đúng hơn bên nào.

Bên Islam chính thống, tức dòng mà ngôi 103 thuộc về, giao năm cột trụ cho từng tín đồ. Nơi thờ gọi là masjid, có mái vòm và khối vươn cao, mở quanh năm cho năm lần lễ nguyện mỗi ngày, buổi trưa thứ Sáu là buổi tập trung của cả cộng đồng. Cả cộng đồng cùng nhịn chay trọn tháng Ramadan theo lịch Hijri. Hệ chức sắc do cộng đồng bầu ra.

Bên Bàni, tức dòng của ngôi đứng cách đây hai trăm mét, là một nhánh hình thành tại chỗ, đã hòa với tín ngưỡng bản địa và với phong tục Chăm. Nơi thờ gọi là Sang Magik, không mái vòm, không tháp, và chỉ mở trong kỳ lễ. Các bổn phận được giao cho lớp chức sắc, quen gọi là các vị Acar, đảm nhận thay cho cả cộng đồng. Tháng Ramưwan tính theo lịch Chăm, mở đầu bằng tảo mộ và mời tổ tiên về nhà, sau đó chức sắc vào ở hẳn trong Sang Magik để giữ chay thay cho cả làng. Bên Bàni còn giữ phần thờ cúng tổ tiên, phần mà bên Islam không có.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm chê trách ai.

Thứ nhất, ngôi nhỏ không phải là ngôi phụ. Người ngoài đi qua hay tưởng thánh đường nhỏ trong làng là một chỗ lễ phụ của ngôi lớn hơn ở làng bên. Thực ra mỗi thánh đường là một cơ sở đủ tư cách, có ban quản trị riêng, có hệ chức sắc riêng và có cộng đồng tín đồ riêng. Bốn ngôi của vùng đứng ngang nhau, chỉ khác nhau về số người.

Thứ hai, gọi nơi này là chùa là gọi sai. Chữ chùa chỉ cơ sở thờ tự của Phật Giáo, có tượng Phật và có tăng ni. Ở đây không có tượng, không có sư và không có ban thờ. Cách gọi ấy vốn là lối nói quen của người ngoài cộng đồng, và người trong cộng đồng không dùng cho cả hai hệ.

IINgôi thứ ba trong bốn ngôi

Ngôi thánh đường này không có văn bia khởi dựng và cũng không có văn bản gốc nào được công bố. Các làng Chăm phần lớn không giữ loại văn bản ấy, nên những gì khảo được đều đến từ các nghiên cứu về cộng đồng. Thư viện ghi các mốc theo khảo cứu và nói rõ chỗ các nguồn chênh nhau, chứ không viết như một mốc đã đóng đinh.

  • Khoảng 1959 tới 1960Islam chính thống vào vùng
    Một số người ở các thôn Văn Lâm, Phước Nhơn và An Nhơn (làng gốc của Phước Nhơn) vào Sài Gòn học giáo lý Islam chính thống rồi trở về truyền đạo trong họ hàng. Buổi đầu chưa có thánh đường, nhóm tín đồ ở thôn An Nhơn tụ họp làm lễ tại nhà riêng.
  • 1960 hoặc 1962Thánh đường 101 Văn Lâm
    Ngôi Islam đầu tiên của vùng dựng ở thôn Văn Lâm, mở đường cho ba ngôi sau. Nguồn ghi năm dựng khác nhau giữa 1960 và 1962.
  • 1962, 1963 hoặc 1964Thánh đường 102 Phước Nhơn
    Ngôi thứ hai dựng ở thôn Phước Nhơn kề bên, tức palei Mblap Baruw, cách Sang Magik Bàni của làng ấy chừng một trăm mét.
  • 1964 hoặc 1968Dựng thánh đường 103 An Nhơn
    Ngôi thứ ba của dòng Islam chính thống trong vùng được dựng ngay trong thôn An Nhơn, cách Sang Magik Bàni của làng chừng hai trăm mét. Các nguồn khảo cứu ghi năm dựng là 1964 hoặc 1968, chi tiết nêu ngay dưới đây.
  • 1964, 1974 hoặc 1986Thánh đường 104 Nho Lâm
    Ngôi thứ tư dựng ở thôn Nho Lâm, gần trục quốc lộ 1. Từ đây vùng có đủ bốn thánh đường Islam mang bốn số hiệu liền nhau.
  • 1995Trùng tu thánh đường 103
    Theo số liệu của Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Islam công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, thánh đường Al Noor 103 An Nhơn được trùng tu vào năm 1995 trên khuôn viên rộng 550 mét vuông.
  • 2011 và 2012Lập ban đại diện cấp tỉnh, đặt trụ sở tạm tại ngôi 103
    Sau lễ ra mắt ban lâm thời tháng 3 năm 2011, Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Islam tỉnh Ninh Thuận cũ chính thức thành lập năm 2012 và đặt trụ sở tạm thời tại thánh đường 103 thôn An Nhơn.
Theo sử liệu

Có ba chỗ cần nói rõ thay vì viết cho gọn.

Về niên đại khởi dựng và trùng tu. Các khảo cứu ghi hai mốc khác nhau cho năm dựng ngôi 103. Báo cáo của Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Islam tỉnh Ninh Thuận cũ do Chu Văn Tuấn dẫn năm 2019, cùng bản công bố năm 2005 của Tạ Long và Ngô Thị Chính, ghi thánh đường 103 xây dựng năm 1964 và trùng tu năm 1995 (bài Thánh đường Bàni An Nhơn trên thư viện cũng dẫn theo mốc 1964 này). Trong khi đó, sách do Nguyễn Hồng Dương chủ biên năm 2007 và bản công bố năm 2008 của Tạ Long, Ngô Thị Chính lại ghi năm 1968. Dù chênh nhau về năm cụ thể, các nguồn đều thống nhất thứ tự rằng 103 là ngôi thứ ba, dựng sau Văn Lâm và Phước Nhơn.

Về số tín đồ. Báo cáo năm 2018 của Ban Đại diện ghi thánh đường 103 có 229 tín đồ, trong khi đợt khảo sát thực tế tháng 9 năm 2019 của Chu Văn Tuấn ghi nhận tại thôn có 52 hộ với khoảng 150 nhân khẩu (chưa kể nhóm khoảng 60 người mới theo Islam ở thôn Thành Tín sang dự lễ trưa thứ Sáu). Ở cả hai cách thống kê, đây đều là ngôi có ít tín đồ nhất trong bốn thánh đường của vùng.

Về năm lập ban đại diện cấp tỉnh. Bản tin VOV ghi lễ ra mắt Ban đại diện lâm thời vào tháng 3 năm 2011, còn khảo cứu của Chu Văn Tuấn ghi Ban Đại diện chính thức thành lập năm 2012 và đặt trụ sở tạm thời ngay tại thánh đường 103 thôn An Nhơn.

IIIMột masjid thu nhỏ vẫn đủ bộ

Cái đáng xem ở ngôi 103 không phải quy mô mà là tính đủ bộ. Một thánh đường Islam chỉ cần ba thứ để làm tròn việc của nó, gồm chỗ tẩy thể bằng nước, chỗ tập hợp cả hàng cùng lễ, và một dấu chỉ hướng. Ba thứ ấy không được bớt, dù cộng đồng chỉ vài trăm người và khu đất rộng 550 mét vuông chỉ nhỉnh hơn một mảnh vườn.

Các bộ phận của một thánh đường

Gian lễ chính

Một gian rộng để trống, nền trải phẳng, không ghế, không tượng, không tranh, không ban thờ. Người lễ đứng thành hàng ngang vai kề vai, không phân biệt trên dưới trong hàng.

Mihrab

Hốc tường lõm ở bức tường chính, chỉ hướng qiblah về Mecca. Mihrab không phải ban thờ và không có vật thờ, nó làm đúng một việc là chỉ hướng cho cả hàng người đứng lễ.

Minbar

Bục giảng có bậc, đặt cạnh mihrab, dùng cho bài thuyết giảng trong buổi lễ ngày thứ Sáu. Ở các ngôi nhỏ, minbar có khi chỉ là vài bậc gỗ, nhưng không vì thế mà bỏ đi.

Khu nước tẩy thể

Bể nước và hệ vòi ở lối vào, dùng cho phép rửa bắt buộc trước mỗi buổi lễ. Không làm phép này thì không vào hàng lễ được, nên đây là bộ phận không bao giờ bị cắt bớt dù đất hẹp tới đâu.

Khối vươn cao trên mái

Bộ phận để xướng lời gọi lễ, tiếng Arab phiên âm là minaret. Ở một xóm nhỏ, khối này chỉ cần đủ cao để tiếng gọi vang tới đầu kia của xóm.

Trang trí

Chỉ dùng hoa văn hình học, hoa lá cách điệu và thư pháp chép lời kinh, vì giáo nghĩa không cho vẽ người và vật. Trên cao có hình trăng lưỡi liềm ôm ngôi sao năm cánh.

Đặt cạnh nếp nhà Bàni cách đó hai trăm mét thì khác biệt hiện ra ngay ở phần trên mái. Sang Magik Bàni thấp, dài, tường phẳng, không vòm, không khối vươn cao, không biểu tượng trên nóc. Thánh đường Islam thì có cả ba thứ ấy. Cái khác không phải chuyện thẩm mỹ mà là chuyện công dụng, bởi một bên chỉ mở trong kỳ lễ nên không cần gọi ai, còn một bên phải tập hợp người năm lần mỗi ngày nên phải có chỗ để tiếng gọi vang xa.

Một điều dễ nhận ra với người quen đi đình chùa là ở đây không có trục dọc nhiều lớp. Đình chùa Việt dẫn người ta qua tam quan, sân, tiền đường rồi mới tới hậu cung, mỗi bước một lớp kín hơn. Thánh đường thì mở, chỉ có một gian rộng duy nhất, và không có chỗ nào kín hơn chỗ nào, vì không có vật thiêng nào để cất vào trong.

IVThế đất và hướng

Phần này cần rào trước cho thật rõ. Islam không dạy phong thủy. Hướng của một thánh đường được định bằng một quy tắc duy nhất và bắt buộc của đạo là hướng qiblah, tức hướng về Ngôi Đền Kaaba ở Mecca, tính theo đường ngắn nhất trên mặt cầu Trái Đất. Từ đất Việt Nam, hướng ấy rơi về phía tây chếch lên bắc. Người dựng không có quyền chọn khác. Không có la bàn phong thủy, không có tuổi người lập, không có cung mệnh nào tham gia vào việc chọn hướng ấy, và nếu thửa đất không thuận thì người ta xoay hàng người đứng lễ chứ không xoay lại hướng.

Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối ấy, không phải điều giáo lý dạy và cũng không phải điều cộng đồng tính tới khi dựng.

Thế đất và hướng

Trước hết là chuyện một hướng duy nhất. Phong thủy cổ truyền định hướng nhà theo thế đất, theo dòng nước, theo tuổi người ở, nên mỗi công trình một hướng khác nhau. Islam làm ngược lại, mọi thánh đường trên khắp mặt đất đều quay về cùng một điểm, nên hướng của công trình không phụ thuộc vào mảnh đất nó đứng. Ở An Nhơn, điều ấy dẫn tới một cảnh mà phép cũ không có chỗ để bàn, khi ngôi Bàni và ngôi Islam của cùng một làng, thuộc hai hệ khác hẳn nhau, lại đứng song song nhau vì cùng lấy một điểm quy chiếu nằm ngoài khu đất và cách xa hàng nghìn dặm. Đọc bằng con mắt cũ thì đây là một hệ lấy tâm ngoài, và phép cổ truyền không có khái niệm nào tương đương.

Về thế đất, làng nằm trên dải đồng ven biển Nam Trung Bộ, phía tây là dãy núi thấp, phía đông là biển, đất khô, nắng gắt và gió nhiều. Theo lối đọc cũ thì cả làng nằm trong thế tựa sơn hướng hải, có núi làm chỗ dựa sau lưng, có biển làm minh đường mở rộng trước mặt. Bài toán thật của vùng này không phải thiếu khí mà là gió mạnh và nắng lớn, và cách người Chăm xử lý là làm nhà thấp, tường dày, cửa nhỏ, xóm quây kín. Khối nhà thánh đường đi theo đúng nếp ấy.

Về khối nhà nhỏ, phép cũ có một ý đáng nêu ở đây. Sách xưa không coi to là hơn, cái được coi trọng là tương xứng, tức nhà vừa với đất, đất vừa với người. Một khối nhà quá lớn so với xóm bị gọi là lấn thế, còn một khối nhà vừa vặn thì được coi là an. Ngôi 103 nhỏ vì cộng đồng nhỏ, và đọc theo lối cũ thì đó lại là chỗ hợp lẽ. Xin nói cho sòng phẳng rằng quy mô ấy đến từ số người chứ không từ một tính toán nào về đất.

Cuối cùng là hướng tây theo con mắt cổ truyền. Trong phép cũ, phương Tây thuộc hành Kim, ứng với mùa thu và với sự thu liễm, và nhà ở nước ta ít khi chuộng hướng ấy vì nắng chiều gắt, nhất là ở vùng khô hạn như đây. Hướng tây ở đây được chọn không vì khí hậu, không vì thế đất và không vì tuổi ai cả, mà vì Mecca nằm về phía đó và gian hành lễ phải xoay theo. Đó là một ví dụ rõ về việc một nguyên tắc tôn giáo đứng trên mọi tính toán về đất, và thư viện nêu ra để quý vị thấy rõ giới hạn của việc đối chiếu.

VNhịp Ngày, Nhịp Tuần Và Nhịp Năm

Nhịp của thánh đường chia làm ba lớp gồm lễ nguyện năm lần mỗi ngày, lễ tập thể ngày thứ Sáu, và các kỳ lễ trong năm tính theo lịch Hijri, tức lịch mặt trăng của Islam. Lịch này ngắn hơn năm dương lịch chừng mười một ngày, nên các kỳ lễ dịch dần qua các mùa chứ không đứng yên như hội hè theo âm lịch của người Việt.

Các mốc tính theo lịch Hijri chứ không theo âm lịch Việt Nam và cũng không theo lịch Chăm, nên mỗi năm rơi vào một khoảng dương lịch khác nhau. Nguồn: Các khảo cứu về cộng đồng Chăm Islam ở tỉnh Ninh Thuận cũ và về sự phát triển của Islam trong người Chăm..
Thời điểm theo lịch HijriLễNội dung
Mỗi ngàyNăm lần lễ nguyệnNăm buổi chia theo vị trí mặt trời trong ngày. Trước mỗi buổi phải làm phép tẩy thể bằng nước tại khu nước ở lối vào. Vào các buổi ngày thường người đi làm nương rẫy nhiều nên chỉ một số người có mặt tại thánh đường, phần đông tự làm lễ tại nhà.
Thứ Sáu hằng tuầnLễ tập trung buổi trưaBuổi lễ đông nhất trong tuần, có bài thuyết giảng đọc từ minbar rồi cả hàng cùng lễ. Nhóm tín đồ mới theo Islam ở thôn Thành Tín (xã Phước Hải cũ) chưa có thánh đường riêng cũng về ngôi 103 dự buổi lễ này.
Ngày 12 tháng Rabi al AwwalLễ MaulidLễ kỷ niệm ngày sinh của Nhà tiên tri Muhammad, một trong các kỳ lễ lớn trong năm của cộng đồng.
Trọn tháng RamadanTháng nhịn chayTháng thứ chín của lịch Hijri. Tín đồ nhịn ăn uống từ rạng đông tới khi mặt trời lặn, buổi tối tụ về thánh đường dùng bữa xả chay và lễ nguyện thêm.
Mùng 1 tháng ShawwalLễ mừng mãn chayLễ kết thúc tháng nhịn chay, tên quốc tế là Eid al Fitr (Raya Eidil Fit-ri). Cả cộng đồng tới thánh đường lễ nguyện rồi thăm hỏi nhau.
Mùng 10 tháng Dhul HijjahĐại lễ hành hương và hiến sinhTên quốc tế là Eid al Adha (Raya Eidil Adha hoặc đại lễ Haji), trùng dịp hành hương Mecca. Có nghi thức xẻ thịt gia súc chia cho người trong cộng đồng và người thiếu thốn.

Ngoài phần lễ, thánh đường giữ phần bố thí theo nếp chung của một masjid, gồm khoản bắt buộc hằng năm mà tiếng Arab phiên âm là zakat cùng khoản tự nguyện gọi là sadaqah, và giữ phần dạy kinh cho con em trong xóm.

Điều đáng viết nhất về An Nhơn vẫn là chuyện hai mùa chay trong một làng. Khi bên Bàni bước vào tháng Ramưwan theo lịch Chăm, làng có tảo mộ, có mâm cơm mời tổ tiên, và các vị chức sắc vào ở trong Sang Magik để giữ chay thay cho cả cộng đồng. Khi bên Islam bước vào tháng Ramadan theo lịch Hijri, thì mỗi người tự nhịn chay trọn tháng, không ai làm thay ai. Hai mùa lễ mang hai cái tên nghe gần giống nhau, tính theo hai thứ lịch khác nhau, và diễn ra giữa những người cùng họ hàng, cùng tiếng nói, cùng một tên palei.

Các khảo cứu ghi nhận sau khi những vướng mắc cũ được nhân sĩ địa phương hòa giải vào năm 2004, hai cộng đồng trong vùng sống hòa thuận với nhau và giữ giao lưu theo các quan hệ họ hàng và làng xóm, dù không có liên hệ nào về mặt tôn giáo. Hai ngôi trong một làng là chuyện không tìm thấy ở đâu khác trong vùng ngoài An Nhơn, Phước Nhơn và Văn Lâm, và đó là nét riêng nhất của vùng đất này.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Thôn An Nhơn, xã Xuân Hải, tỉnh Khánh Hòa
Đường tới
Thánh đường nằm ở thôn An Nhơn, xã Xuân Hải, tỉnh Khánh Hòa (trước thuộc huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận cũ), trên dải đồng phía bắc Phan Rang, kề thôn Phước Nhơn. Trong cùng thôn còn có thánh đường Bàni An Nhơn, cách chừng hai trăm mét và là một cơ sở khác hẳn.
Toạ độ
11.646, 108.9907
Khi tới nơi

Đây là nơi hành lễ đang hoạt động nằm giữa chỗ ở của các gia đình, không phải điểm tham quan, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Bỏ giày trước khi vào gian lễ. Ăn mặc kín đáo, nam mặc quần dài áo có tay, nữ trùm khăn và kín tay chân. Gian lễ chính dành cho nam giới, nữ giới có khu vực hành lễ riêng. Không đi cắt ngang trước mặt người đang lễ nguyện, không nói to, không chụp ảnh người đang hành lễ. Ngôi Bàni trong cùng thôn là một cơ sở khác và có lệ riêng, xin quý vị đừng mang lệ bên này sang bên kia.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thánh đường Islam 103 An Nhơn

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

thánh đường islam 103 an nhơn ở đâu

Ở thôn An Nhơn, xã Xuân Hải, tỉnh Khánh Hòa, trên dải đồng phía bắc Phan Rang, kề thôn Phước Nhơn. Đây là thánh đường của Hồi Giáo Islam chính thống, tên riêng là Al Noor, ngôi thứ ba của dòng ấy trong vùng Ninh Thuận cũ. Trong cùng thôn còn có một thánh đường Bàni, cách chừng hai trăm mét.

thánh đường 103 an nhơn xây năm nào

Các khảo cứu ghi hai mốc khác nhau. Số liệu của Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Islam do Chu Văn Tuấn dẫn năm 2019 và bản năm 2005 của Tạ Long, Ngô Thị Chính ghi xây dựng năm 1964 và trùng tu năm 1995. Trong khi đó, sách của Nguyễn Hồng Dương năm 2007 và bản năm 2008 của Tạ Long, Ngô Thị Chính ghi dựng năm 1968. Cả hai nguồn đều thống nhất đây là ngôi thứ ba, dựng sau Văn Lâm và Phước Nhơn.

palei mblap klak là làng nào

Là tên Chăm của thôn An Nhơn (còn chép là Pamblap Klak hay Pamblap A Lhak), đặt cặp với palei Mblap Baruw là thôn Phước Nhơn kề bên. Hai chữ cuối chỉ quan hệ giữa hai làng, một bên là Mblap cũ và một bên là Mblap mới, vốn tách ra từ cùng một gốc. Tên palei dùng chung cho cả người Bàni lẫn người Islam trong làng.

thánh đường islam nào ít tín đồ nhất ninh thuận cũ

Theo khảo cứu đã công bố thì đó là ngôi 103 (Al Noor) ở thôn An Nhơn, với diện tích 550 mét vuông và khoảng 150 tới 229 tín đồ tùy kỳ thống kê. Dù nhỏ nhất về quy mô, ngôi 103 vẫn là cơ sở đủ tư cách với Ban Hakem sáu người, là nơi đặt trụ sở tạm thời của Ban Đại diện cấp tỉnh, và là nơi nhóm tín đồ mới ở thôn Thành Tín về dự lễ trưa thứ Sáu.

chăm bàni và chăm islam ở an nhơn khác nhau thế nào

Chăm Islam theo lối chính thống hệ phái Sunni, trong đó mỗi tín đồ tự lễ nguyện năm lần mỗi ngày, cả cộng đồng chay trọn tháng Ramadan theo lịch Hijri, thánh đường mở quanh năm. Chăm Bàni giao các bổn phận ấy cho lớp chức sắc Acar đảm nhận thay, giữ thêm phần thờ cúng tổ tiên, tháng lễ là Ramưwan tính theo lịch Chăm, và Sang Magik chỉ mở trong kỳ lễ.

›Đọc Tiếp