Đứng giữa thôn Phước Nhơn, quý vị có thể nhìn thấy hai nơi thờ tự cùng một lúc mà không cần bước thêm bước nào. Một bên là nếp nhà dài quét vôi sáng, không mái vòm, không tháp, không biểu tượng trên nóc, cửa đóng gần trọn năm. Bên kia, cách chừng một trăm mét, là khối nhà có vòm và trên cao là hình trăng lưỡi liềm ôm một ngôi sao, cửa mở mỗi ngày.
Bài này viết về khối nhà thứ hai, tức thánh đường Islam mang số hiệu 102, tên riêng là Jamiul Muslimin, nơi lễ của cộng đồng Chăm Islam theo lối chính thống. Nếp nhà thứ nhất là Thánh đường Bàni Phước Nhơn, tức Sang Magik của người Chăm Bàni trong cùng làng, thuộc một hệ đạo khác hẳn. Trong cả bốn nơi thờ của hai làng Phước Nhơn và An Nhơn, đây là cặp đứng gần nhau nhất.

IPalei Mblap Baruw Và Con Số 102
Xin nói rõ ngay từ dòng đầu, vì đây là chỗ hay bị xếp nhầm nhất. Nơi này là thánh đường của Hồi Giáo Islam chính thống, thuộc cộng đồng Chăm Islam. Đây không phải một thánh đường Bàni, dù ngôi Bàni của cùng làng đứng ngay bên cạnh.
Người trong làng không gọi nhau bằng tên hành chính. Tên Chăm của Phước Nhơn là palei Mblap Baruw (các tài liệu còn phiên âm là Pamblap Baruw hoặc Pamblap Biraw), đặt cặp với palei Mblap Klak là thôn An Nhơn kề bên. Hai chữ cuối nói rõ quan hệ giữa hai làng, một bên là Mblap cũ và một bên là Mblap mới, vốn tách ra từ cùng một gốc. Tên palei ấy dùng chung cho cả người Bàni lẫn người Islam trong làng, vì cả hai bên đều là người của cùng một palei.
Theo khảo cứu của Chu Văn Tuấn trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, ngôi này mang tên riêng là Thánh đường Jamiul Muslimin 102 Phước Nhơn (một số danh bạ cộng đồng Hồi giáo còn ghi tên Al Mubarak), nằm trên khu đất rộng 2.400 mét vuông, có diện tích khuôn viên lớn nhất trong bốn thánh đường Islam của vùng. Còn con số 102 là số ghi trong danh mục bốn thánh đường của tỉnh cũ, gồm 101 ở Văn Lâm, 102 ở đây, 103 ở An Nhơn và 104 ở Nho Lâm. Người trong cộng đồng dùng con số ấy như một cách gọi gọn, tiện tới mức thành tên thật của từng ngôi.
Theo giáo nghĩa Islam, nền tảng là niềm tin vào Đấng Allah, không hình tướng và không thể vẽ ra. Vì vậy trong thánh đường không đặt tượng, không treo tranh người hay vật, không có bát hương và không có lễ vật dâng cúng. Trang trí chỉ gồm hoa văn hình học và thư pháp chép lời kinh.
Cộng đồng Chăm Islam ở đây theo hệ phái Sunni, thực hành theo trường phái giáo luật Shafi'i. Bổn phận của tín đồ gồm năm cột trụ là tuyên xưng đức tin, lễ nguyện năm lần mỗi ngày, nhịn chay trọn tháng Ramadan, bố thí, và hành hương Mecca nếu đủ sức. Ở dòng Islam chính thống, năm việc ấy là bổn phận của từng tín đồ chứ không giao cho ai làm thay, nên thánh đường mở quanh năm và có người tới mỗi ngày.
Việc đạo của một thánh đường do một ban quản trị trông coi mà người Chăm gọi là Ban Hakem, đứng đầu là vị Hakim, dưới có Imâm dẫn lễ, Khotib giảng kinh và Tuan lo phần dạy đọc kinh Qur'an. Ban ấy do cộng đồng bầu ra theo nhiệm kỳ năm năm chứ không theo lối truyền thừa trong dòng họ, và đó là một chỗ khác căn bản với hệ chức sắc bên Bàni. Theo khảo cứu công bố năm 2019, Ban quản trị của thánh đường 102 có bảy thành viên, và vị trưởng ban quản trị của ngôi này đồng thời là Trưởng ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Islam của toàn tỉnh cũ.
Hai cộng đồng Chăm trong vùng cùng nhận một gốc nhưng đã đi thành hai lối từ nhiều thế kỷ, và chỗ khác nhau giữa hai bên đủ lớn để không thể mô tả gộp. Thư viện ghi lại như ghi một dữ kiện, không xếp bên nào đúng hơn bên nào.
Bên Islam chính thống, tức dòng mà ngôi 102 thuộc về, giao năm cột trụ cho từng tín đồ. Nơi thờ gọi là masjid, tiếng Việt dịch là thánh đường, có mái vòm và khối vươn cao, mở quanh năm cho năm lần lễ nguyện mỗi ngày. Buổi trưa thứ Sáu là buổi tập trung của cả cộng đồng. Cả cộng đồng cùng nhịn chay trọn tháng Ramadan theo lịch Hijri, và việc hành hương Mecca là điều được trông đợi khi có đủ điều kiện.
Bên Bàni, tức dòng của ngôi đứng cách đây một trăm mét, là một nhánh hình thành tại chỗ, đã hòa với tín ngưỡng bản địa và với phong tục Chăm. Nơi thờ gọi là Sang Magik, không có mái vòm, không có tháp, và chỉ mở trong kỳ lễ. Các bổn phận được giao cho lớp chức sắc, quen gọi là các vị Acar, đảm nhận thay cho cả cộng đồng. Tháng Ramưwan tính theo lịch Chăm, mở đầu bằng tảo mộ và mời tổ tiên về nhà, sau đó các chức sắc vào ở hẳn trong Sang Magik để giữ chay thay cho cả làng.
Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm chê trách ai.
Thứ nhất, hai ngôi trong một làng không phải hai chi nhánh của một tổ chức. Người ngoài đi ngang hay tưởng ngôi lớn là nơi thờ chính và ngôi nhỏ là nơi phụ, hoặc tưởng hai ngôi luân phiên nhau. Thực ra đó là hai cộng đồng riêng hẳn, hai hệ chức sắc riêng, hai thứ lịch riêng và hai mùa chay riêng. Chỗ chung của họ là tên làng, tiếng nói và quan hệ họ hàng.
Thứ hai, gọi nơi này là chùa là gọi sai. Chữ chùa chỉ cơ sở thờ tự của Phật Giáo, có tượng Phật và có tăng ni. Ở đây không có tượng, không có sư và không có ban thờ. Cách gọi ấy vốn là lối nói quen của người ngoài cộng đồng, và người trong cộng đồng không dùng cho cả hai hệ.
IINgôi thứ hai trong bốn ngôi
Ngôi thánh đường này không có văn bia khởi dựng và cũng không có văn bản gốc nào được công bố. Những gì khảo được đều đến từ các nghiên cứu về cộng đồng, nên thư viện ghi các mốc theo khảo cứu và nói rõ chỗ các nguồn chênh nhau, chứ không viết như một mốc đã đóng đinh.
- Khoảng 1959 tới 1960Islam chính thống khởi nguồn từ người Phước NhơnTheo các khảo cứu của Tạ Long, Ngô Thị Chính và Chu Văn Tuấn, người đầu tiên tiếp nhận Islam chính thống ở Sài Gòn năm 1959 rồi đưa về truyền bá tại Ninh Thuận cũ chính là một trí thức người Chăm quê ở thôn Phước Nhơn. Buổi đầu truyền đạo tại Phước Nhơn gặp sự phản bác của cộng đồng Bàni nên chuyển sang Văn Lâm, sau đó mới bắt rễ trở lại Phước Nhơn và sinh hoạt tạm tại nhà riêng trước khi có thánh đường.
- 1960 hoặc 1962Thánh đường 101 Văn LâmNgôi Islam đầu tiên của vùng dựng ở thôn Văn Lâm, mở đường cho ba ngôi sau. Nguồn ghi năm dựng khác nhau giữa 1960 và 1962.
- 1962, 1963 hoặc 1964Dựng thánh đường 102 Phước NhơnNgôi thứ hai của dòng Islam chính thống trong vùng được dựng ngay trong thôn Phước Nhơn, cách Sang Magik Bàni của làng chừng một trăm mét. Ba nguồn khảo cứu ghi ba năm dựng khác nhau là 1962, 1963 và 1964, chi tiết nêu ngay dưới đây.
- 1964 hoặc 1968Thánh đường 103 An NhơnNgôi thứ ba dựng ở thôn An Nhơn kề bên, tức palei Mblap Klak, cũng là một làng có cả hai hệ đạo.
- 1964, 1974 hoặc 1986Thánh đường 104 Nho LâmNgôi thứ tư dựng ở thôn Nho Lâm. Từ đây vùng có đủ bốn thánh đường Islam mang bốn số hiệu liền nhau.
- 1993Trùng tu thánh đường 102Theo số liệu của Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Islam công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, thánh đường Jamiul Muslimin 102 Phước Nhơn được trùng tu vào năm 1993 trên tổng diện tích 2.400 mét vuông.
- 2011 và 2012Lập ban đại diện cấp tỉnhCộng đồng Islam trong tỉnh cũ lập ban đại diện lâm thời tháng 3 năm 2011 và chính thức thành lập năm 2012. Tới nay cộng đồng có khoảng ba nghìn tín đồ, riêng ngôi 102 có từ 617 tới 750 người tùy kỳ thống kê.
Có ba chỗ cần nói rõ thay vì viết cho gọn.
Về niên đại khởi dựng và trùng tu. Các nguồn học thuật ghi tới ba mốc khác nhau cho năm dựng ngôi 102. Báo cáo của Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Islam tỉnh Ninh Thuận cũ do Chu Văn Tuấn dẫn năm 2019 ghi thánh đường 102 xây dựng năm 1962 và trùng tu năm 1993 (bài Thánh đường Bàni Phước Nhơn trên thư viện cũng dẫn theo mốc 1962 này). Bản công bố năm 2005 của Tạ Long và Ngô Thị Chính ghi năm 1963. Trong khi đó, sách do Nguyễn Hồng Dương chủ biên năm 2007 và bản công bố năm 2008 của Tạ Long, Ngô Thị Chính lại ghi năm 1964. Thư viện chưa tra được văn bản khởi dựng hay tấm bia nào của chính thánh đường nên ghi đủ cả ba mốc 1962, 1963 và 1964 theo từng nguồn.
Về số tín đồ và nghề thuốc nam. Báo cáo năm 2018 của Ban Đại diện ghi thánh đường 102 có 617 tín đồ, còn đợt khảo sát thực tế tháng 9 năm 2019 của Chu Văn Tuấn ghi nhận 245 hộ với khoảng 750 nhân khẩu. Khảo cứu cũng ghi nhận một nét đời sống riêng là tại thánh đường 102 Phước Nhơn có một bộ phận tín đồ làm nghề bán thuốc nam truyền thống của làng Mblap, chủ yếu đi bán hoặc mở hiệu thuốc ở các tỉnh khác.
Về năm lập ban đại diện cấp tỉnh. Bản tin VOV ghi lễ ra mắt Ban đại diện lâm thời vào tháng 3 năm 2011, còn khảo cứu của Chu Văn Tuấn ghi Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Islam tỉnh Ninh Thuận chính thức thành lập năm 2012. Các nguồn thống nhất ở chỗ ban này trông coi việc chung của cả bốn thánh đường, và vị trưởng ban đại diện cấp tỉnh đồng thời là trưởng ban quản trị của thánh đường 102.
IIIVòm, mihrab và cái khác với nếp nhà bên cạnh
Ở Phước Nhơn, hai kiểu nơi thờ đứng gần nhau tới mức quý vị có thể so sánh chỉ bằng cách quay đầu. Nếp nhà Bàni thấp, dài, tường phẳng, không mái vòm, không khối vươn cao và không có biểu tượng trên nóc, trông gần như một nhà hội của làng. Thánh đường Islam thì có vòm, có khối vươn cao để xướng lời gọi lễ, và trên cao là hình trăng lưỡi liềm ôm ngôi sao.
Cái khác ấy không phải chuyện thẩm mỹ mà là chuyện công dụng. Một bên chỉ mở trong kỳ lễ nên không cần gọi ai. Một bên phải tập hợp người tới lễ năm lần mỗi ngày nên phải có chỗ để tiếng gọi vang xa. Hình dáng theo công dụng, và công dụng theo giáo lý.
Một gian rộng để trống, nền trải phẳng, không ghế, không tượng, không tranh, không ban thờ. Người lễ đứng thành hàng ngang vai kề vai, không phân biệt trên dưới trong hàng.
Hốc tường lõm ở bức tường chính, chỉ hướng qiblah về Mecca. Mihrab không phải ban thờ và không có vật thờ, nó làm đúng một việc là chỉ hướng cho cả hàng người đứng lễ.
Bục giảng có bậc, đặt cạnh mihrab, dùng cho bài thuyết giảng trong buổi lễ ngày thứ Sáu. Đây là chỗ duy nhất cao hơn mặt bằng chung, và nó cao vì công dụng chứ không vì phẩm vị.
Bể nước và hệ vòi ở lối vào, dùng cho phép rửa bắt buộc trước mỗi buổi lễ, gồm rửa tay, súc miệng, rửa mặt, rửa hai cánh tay, xoa đầu rồi rửa chân theo thứ tự.
Bộ phận để xướng lời gọi lễ, tiếng Arab phiên âm là minaret. Ở thánh đường làng trong vùng, khối này gọn và thấp hơn nhiều so với các ngôi lớn ở miền Tây.
Chỉ dùng hoa văn hình học, hoa lá cách điệu và thư pháp chép lời kinh, vì giáo nghĩa không cho vẽ người và vật. Trên cao có hình trăng lưỡi liềm ôm ngôi sao năm cánh.
Một điều dễ nhận ra với người quen đi đình chùa là ở đây không có trục dọc nhiều lớp. Đình chùa Việt dẫn người ta qua tam quan, sân, tiền đường rồi mới tới hậu cung, mỗi bước một lớp kín hơn. Thánh đường thì mở, đi qua sân, rửa nước, vào một gian rộng duy nhất. Không có chỗ nào kín hơn chỗ nào, vì không có vật thiêng nào để cất vào trong.
Điểm chung duy nhất về mặt bố cục giữa hai nếp nhà của làng nằm ở chỗ ít ai để ý là cả hai đều quay về cùng một hướng. Phần sau của bài sẽ nói kỹ điều ấy.
IVThế đất và hướng
Phần này cần rào trước cho thật rõ. Islam không dạy phong thủy. Hướng của một thánh đường được định bằng một quy tắc duy nhất và bắt buộc của đạo là hướng qiblah, tức hướng về Ngôi Đền Kaaba ở Mecca, tính theo đường ngắn nhất trên mặt cầu Trái Đất. Từ đất Việt Nam, hướng ấy rơi về phía tây chếch lên bắc. Người dựng không có quyền chọn khác. Không có la bàn phong thủy, không có tuổi người lập, không có cung mệnh nào tham gia vào việc chọn hướng ấy, và nếu thửa đất không thuận thì người ta xoay hàng người đứng lễ chứ không xoay lại hướng.
Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối ấy, không phải điều giáo lý dạy và cũng không phải điều cộng đồng tính tới khi dựng.
Điều đáng đọc trước nhất ở Phước Nhơn là hai nơi thờ song song. Sang Magik Bàni và thánh đường Islam đứng cách nhau chừng một trăm mét, thuộc hai hệ khác nhau, hai hệ chức sắc khác nhau, hai thứ lịch khác nhau, vậy mà cả hai đều quay về cùng một điểm ở rất xa. Phong thủy cổ truyền không có tình huống nào như vậy. Phép cũ định hướng theo thế đất, theo dòng nước, theo tuổi người ở, nên hai công trình cạnh nhau thường phải khác hướng để khỏi phạm nhau. Ở đây điểm quy chiếu nằm ngoài khu đất và cách xa hàng nghìn dặm, nên mọi nơi thờ trong làng đều song song. Đọc bằng con mắt cũ thì đây là một hệ lấy tâm ngoài, và phép cổ truyền không có khái niệm nào tương đương.
Về thế đất, làng nằm trên dải đồng ven biển Nam Trung Bộ, phía tây là dãy núi thấp, phía đông là biển, đất khô, nắng gắt và gió nhiều. Theo lối đọc cũ thì cả làng nằm trong thế tựa sơn hướng hải, có núi làm chỗ dựa sau lưng, có biển làm minh đường mở rộng trước mặt. Bài toán thật của vùng này không phải thiếu khí mà là gió mạnh và nắng lớn, và cách người Chăm xử lý là làm nhà thấp, tường dày, cửa nhỏ, xóm quây kín, cây trồng thành hàng chắn gió. Khối nhà thánh đường đi theo đúng nếp ấy.
Về khoảng cách trăm mét, phép cũ có bàn tới chuyện hai công trình thờ tự đứng gần nhau, và thường khuyên nên có một khoảng đệm, một hàng cây hay một lối đi để hai khí không chạm. Ở đây khoảng đệm ấy hình thành tự nhiên bằng nhà ở và đường xóm của chính hai cộng đồng. Nhưng xin nói cho sòng phẳng rằng người dựng không đặt vấn đề như vậy. Hai ngôi gần nhau vì hai nhóm người là bà con của nhau và không ai dọn đi đâu cả. Cái mà phép cũ gọi là khoảng đệm, ở đây chỉ là chỗ ở của họ hàng hai bên.
Cuối cùng là hướng tây theo con mắt cổ truyền. Trong phép cũ, phương Tây thuộc hành Kim, ứng với mùa thu và với sự thu liễm, và nhà ở nước ta ít khi chuộng hướng ấy vì nắng chiều gắt, nhất là ở vùng khô hạn như đây. Hướng tây ở đây được chọn không vì khí hậu, không vì thế đất và không vì tuổi ai cả, mà vì Mecca nằm về phía đó. Đó là một ví dụ rõ về việc một nguyên tắc tôn giáo đứng trên mọi tính toán về đất.
VHai Mùa Chay Trong Một Làng
Nhịp của thánh đường chia làm ba lớp gồm lễ nguyện năm lần mỗi ngày, lễ tập thể ngày thứ Sáu, và các kỳ lễ trong năm tính theo lịch Hijri, tức lịch mặt trăng của Islam. Lịch này ngắn hơn năm dương lịch chừng mười một ngày, nên các kỳ lễ dịch dần qua các mùa chứ không đứng yên như hội hè theo âm lịch của người Việt.
Điều làm Phước Nhơn khác mọi nơi khác là trong cùng một làng có hai thứ lịch chạy song song. Bên Islam đi theo lịch Hijri. Bên Bàni đi theo lịch Chăm, và tháng Ramưwan của họ dịch chuyển chậm theo lịch riêng ấy. Hai mùa chay mang hai cái tên nghe gần giống nhau, hai cách giữ chay khác hẳn nhau, và diễn ra giữa những người cùng họ hàng.
| Thời điểm theo lịch Hijri | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mỗi ngày | Năm lần lễ nguyện | Năm buổi chia theo vị trí mặt trời trong ngày, gồm sáng sớm, trưa, chiều, hoàng hôn và tối. Trước mỗi buổi phải làm phép tẩy thể bằng nước tại khu nước ở lối vào. |
| Thứ Sáu hằng tuần | Lễ tập trung buổi trưa | Buổi lễ đông nhất trong tuần, có bài thuyết giảng đọc từ minbar rồi cả hàng cùng lễ. Theo khảo cứu, tỷ lệ tín đồ dự buổi này cao hơn hẳn các ngày thường. |
| Ngày 12 tháng Rabi al Awwal | Lễ Maulid | Lễ kỷ niệm ngày sinh của Nhà tiên tri Muhammad, một trong các kỳ lễ lớn trong năm của cộng đồng. |
| Trọn tháng Ramadan | Tháng nhịn chay | Tháng thứ chín của lịch Hijri. Tín đồ nhịn ăn uống từ rạng đông tới khi mặt trời lặn, buổi tối tụ về thánh đường dùng bữa xả chay và lễ nguyện thêm. |
| Mùng 1 tháng Shawwal | Lễ mừng mãn chay | Lễ kết thúc tháng nhịn chay, tên quốc tế là Eid al Fitr (Raya Eidil Fit-ri). Cả cộng đồng tới thánh đường lễ nguyện rồi thăm hỏi nhau. |
| Mùng 10 tháng Dhul Hijjah | Đại lễ hành hương và hiến sinh | Tên quốc tế là Eid al Adha (Raya Eidil Adha hoặc đại lễ Haji), trùng dịp hành hương Mecca. Có nghi thức xẻ thịt gia súc chia cho người trong cộng đồng và người thiếu thốn. |
Ngoài phần lễ, thánh đường giữ phần bố thí theo nếp chung của một masjid, gồm khoản bắt buộc hằng năm mà tiếng Arab phiên âm là zakat cùng khoản tự nguyện gọi là sadaqah, và giữ phần dạy kinh cho con em trong xóm. Các nghi lễ vòng đời như lễ cưới và lễ tang cũng được tổ chức tại thánh đường.
Chỗ đáng suy nghĩ nhất của Phước Nhơn không nằm trong lịch lễ mà nằm ở khoảng cách một trăm mét kia. Ranh giới giữa hai hệ đạo của người Chăm không phải ranh giới địa lý, không chạy theo con sông hay dãy núi nào. Nó chạy ngay trong lòng một làng, đôi khi ngay trong một dòng họ, và nó là ranh giới của một lựa chọn. Theo khảo cứu của Tạ Long và Ngô Thị Chính, những vướng mắc trước kia quanh việc đưa người mất về thánh đường trong làng làm lễ đã được nhân sĩ, trí thức địa phương hòa giải vào năm 2004, và các khảo cứu gần đây ghi nhận hai cộng đồng sống hòa thuận với nhau, giữ giao lưu thăm hỏi theo quan hệ họ hàng và làng xóm, dù không có liên hệ nào về mặt tôn giáo. Đứng ở Phước Nhơn thì thấy điều ấy rõ hơn bất cứ nơi nào khác.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Phước Nhơn, xã Xuân Hải, tỉnh Khánh Hòa
- Đường tới
- Thánh đường nằm ở thôn Phước Nhơn, xã Xuân Hải, tỉnh Khánh Hòa (trước thuộc huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận cũ), trên dải đồng phía bắc Phan Rang. Trong cùng thôn còn có thánh đường Bàni Phước Nhơn, cách chừng một trăm mét và là một cơ sở khác hẳn.
- Toạ độ
- 11.6602, 109.0017
Đây là nơi hành lễ đang hoạt động nằm giữa chỗ ở của các gia đình, không phải điểm tham quan, nên lệ của nơi ấy là lệ phải theo. Bỏ giày trước khi vào gian lễ. Ăn mặc kín đáo, nam mặc quần dài áo có tay, nữ trùm khăn và kín tay chân. Gian lễ chính dành cho nam giới, nữ giới có khu vực hành lễ riêng. Không đi cắt ngang trước mặt người đang lễ nguyện, không nói to, không chụp ảnh người đang hành lễ. Ngôi Bàni đứng gần đó là một cơ sở khác và có lệ riêng, xin quý vị đừng mang lệ bên này sang bên kia.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thánh đường Islam 102 Phước Nhơn
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
thánh đường islam 102 phước nhơn ở đâu
Ở thôn Phước Nhơn, xã Xuân Hải, tỉnh Khánh Hòa, trên dải đồng phía bắc Phan Rang. Đây là thánh đường của Hồi Giáo Islam chính thống, tên riêng là Jamiul Muslimin, ngôi thứ hai của dòng ấy trong vùng Ninh Thuận cũ. Trong cùng thôn còn có một thánh đường Bàni, cách chừng một trăm mét và là cơ sở khác hẳn.
thánh đường 102 phước nhơn xây năm nào
Các nguồn khảo cứu ghi ba năm khác nhau, gồm năm 1962 (theo số liệu Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Islam do Chu Văn Tuấn dẫn năm 2019, trùng tu năm 1993), năm 1963 (theo bản 2005 của Tạ Long và Ngô Thị Chính) và năm 1964 (theo sách của Nguyễn Hồng Dương năm 2007 và bản 2008 của Tạ Long, Ngô Thị Chính). Tất cả các nguồn đều thống nhất đây là ngôi thứ hai, dựng sau ngôi 101 ở Văn Lâm.
palei mblap baruw là làng nào
Là tên Chăm của thôn Phước Nhơn (còn viết là Pamblap Baruw hay Pamblap Biraw), đặt cặp với palei Mblap Klak là thôn An Nhơn kề bên. Hai chữ cuối chỉ quan hệ giữa hai làng, một bên là Mblap cũ và một bên là Mblap mới, vốn tách ra từ cùng một gốc. Tên palei dùng chung cho cả người Bàni lẫn người Islam trong làng.
vì sao một thôn có cả thánh đường bàni lẫn thánh đường islam
Vì từ đầu thập niên 1960 một bộ phận người Chăm Bàni trong vùng chuyển sang thực hành theo Islam chính thống mà vẫn ở nguyên trong làng cũ. Họ dựng lấy thánh đường cho mình, ngay cạnh Sang Magik của bên Bàni. Ranh giới hai hệ vì thế là ranh giới của lựa chọn chứ không phải ranh giới địa lý.
ramadan và ramưwan khác nhau ra sao
Ramadan là tháng chay của Islam chính thống, tính theo lịch Hijri, cả cộng đồng nhịn ăn uống từ rạng đông tới khi mặt trời lặn suốt trọn tháng. Ramưwan là tháng lễ của người Chăm Bàni, tính theo lịch Chăm, mở đầu bằng tảo mộ và mời tổ tiên về nhà, và các vị chức sắc vào ở trong Sang Magik để giữ chay thay cho cả làng.