VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Kim Cương Phong (Kongōbu-ji), núi Kōya

Kongōbu-ji, Kōyasan Kongōbu-ji, Kim Cương Phong tự, Cao Dã Sơn, Kōyasan, Kongobuji Temple

Ngôi chùa đứng đầu Chân Ngôn tông Kōyasan, trên bồn đất cao 800 mét mà Đại sư Kūkai chọn làm đạo tràng Mật tông năm 816, và là nơi hơn một trăm chùa trên núi quy về.

Khai sơn
816
Kūkai được ban núi Kōya làm đạo tràng
Chính điện
Dựng lại năm 1863
mang tên Kongōbu-ji từ năm 1869
Xếp hạng
Di sản Thế giới UNESCO
năm 2004, cùng các nơi thiêng dãy núi Kii

Xe lên tới đỉnh thì núi mở ra thành một bồn đất bằng giữa rừng tuyết tùng, và trên bồn đất ấy là một thị trấn chùa. Đi dọc con đường chính, quý vị qua hết cổng chùa này tới cổng chùa khác, rồi tới một cổng gỗ lớn sau hàng bậc đá. Bên trong là một tòa nhà dài mái vỏ bách xám bạc, trên nóc đặt những thùng gỗ đựng nước. Vào trong, hành lang gỗ dẫn qua những gian phòng cửa lùa vẽ hạc, vẽ mai, vẽ liễu, rồi mở ra một vườn đá rộng, sỏi trắng cào thành sóng, đá xám nhô lên như lưng rồng.

Đây là Kim Cương Phong Tự (Kongōbu-ji) trên núi Kōya (Kōyasan), tỉnh Wakayama. Tên Hán ở đầu trang là tên chính thức của chùa, thư viện không suy ra. Chùa là tổng bản sơn của phái Chân Ngôn tông Kōyasan (Kōyasan Shingon-shū), một dòng Mật tông Phật Giáo do Đại sư Kūkai, thụy hiệu Kōbō Daishi (Không Hải, Hoằng Pháp Đại Sư), đưa về Nhật Bản. Theo bảo tàng Reihōkan của núi, trên bồn đất nay có 117 ngôi chùa, và tất cả quy về ngôi chùa này.

Chùa Kim Cương Phong (Kongōbu-ji), núi Kōya
Chùa Kim Cương Phong (Kongōbu-ji), núi Kōya. Ảnh: Naokijp, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

ITổng Bản Sơn Của Mật Tông Chân Ngôn

Chữ tổng bản sơn trong Phật Giáo Nhật chỉ ngôi chùa đứng đầu một phái, nơi đặt vị đứng đầu phái và quản các chùa thuộc phái. Chân Ngôn tông ở Nhật có nhiều phái, Kongōbu-ji đứng đầu phái Kōyasan. Tên chùa lấy từ tên một bộ kinh Mật tông, Kim Cương Phong Lâu Các Nhất Thiết Du Già Du Kỳ Kinh. Người đi lễ gọi cả vùng núi là Kōyasan, còn chùa là trụ sở hành chính và nơi hành lễ lớn của cả núi.

Theo giáo nghĩa

Chân Ngôn tông, hay Mật tông, lấy Đại Nhật Như Lai (Mahāvairocana) làm Phật chủ, tức Phật pháp thân chiếu khắp vũ trụ. Giáo nghĩa cốt lõi là tức thân thành Phật, nghĩa là người tu có thể thành Phật ngay trong thân hiện tại qua ba mật gồm thân mật (bắt ấn khế), khẩu mật (tụng chân ngôn) và ý mật (quán tưởng). Hai mạn đà la căn bản là Thai Tạng giới và Kim Cương giới, một bên chỉ lý, một bên chỉ trí. Tên Kim Cương Phong của chùa gắn với dòng kinh Kim Cương giới ấy.

Theo sử liệu

Kūkai (774 tới 835) sang nhà Đường năm 804, thụ pháp Mật tông với sư Huệ Quả ở chùa Thanh Long tại Trường An rồi về nước. Về năm ngài đưa Chân Ngôn về Nhật, nguồn vênh nhau. Bảng dữ kiện của thư viện và trang japan-guide ghi năm 805. Tiểu sử Kūkai trong bách khoa toàn thư mở ghi năm 805 là năm ngài thụ pháp ở Trường An, còn năm ngài về tới Nhật là 806. Cách hiểu hợp lý là năm 805 đánh dấu việc nhận pháp, năm 806 đánh dấu việc đem pháp về.

Năm 816, theo trang của chùa và bảo tàng Reihōkan, Kūkai được Thiên hoàng Saga ban núi Kōya làm đạo tràng tu Mật tông. Năm 835 ngài nhập định trên núi. Năm 921 triều đình Thiên hoàng Daigo ban thụy hiệu Kōbō Daishi, chùa còn giữ một lễ riêng ngày 27 tháng 10 để nhớ việc ấy.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay hiểu lầm. Thứ nhất, nhiều người tưởng tên Kongōbu-ji từ xưa đã là tên riêng của tòa nhà này. Thật ra Kūkai vốn đặt tên Kongōbu-ji cho toàn bộ đạo tràng núi Kōya, còn tòa nhà đứng ở vị trí Bản phường hôm nay vốn là chùa Seigan-ji (Thanh Nham tự) do Toyotomi Hideyoshi dựng năm 1593, tới năm 1869 hợp nhất với chùa Kōzan-ji (Hưng Sơn tự, dựng năm 1590) bên cạnh và lấy tên chung là Kongōbu-ji. Thứ hai, người ngoài đạo hay nói Kūkai mất năm 835. Tín đồ Chân Ngôn không nói vậy mà tin rằng ngài vào thiền định vĩnh viễn (nyūjō) tại lăng Okunoin phía đông núi, và chùa gọi ngày ấy là ngày nhập định. Thư viện ghi cả hai cách nói để quý vị hiểu vì sao lịch lễ ở đây xoay quanh Đại sư như một người vẫn đang có mặt.

IIMười Hai Thế Kỷ Trên Núi Kōya

Lịch sử núi Kōya dài hơn lịch sử của tòa nhà mang tên Kongōbu-ji. Đạo tràng có từ năm 816, còn chính điện hiện nay chỉ mới hơn một trăm sáu mươi năm tuổi. Các mốc dưới đây ghi cả hai lớp ấy, theo trang của chùa, bảo tàng Reihōkan và UNESCO.

  • 816Khai sơn núi Kōya
    Kūkai được ban núi làm đạo tràng Mật tông, mở đầu quần thể chùa trên bồn đất cao chừng 800 mét.
  • 835Kūkai nhập định
    Theo tín ngưỡng Chân Ngôn, ngày 21 tháng 3 âm lịch Đại sư vào thiền định vĩnh viễn tại Okunoin. Chùa vẫn làm lễ ngày ấy cả theo dương lịch lẫn âm lịch.
  • 921Ban thụy hiệu Kōbō Daishi
    Danh hiệu Hoằng Pháp Đại Sư được ban, từ đó người Nhật quen gọi ngài là Odaishi-sama, ngài Đại sư.
  • 1593Dựng chùa Seigan-ji
    Toyotomi Hideyoshi dựng chùa Seigan-ji ở chỗ này để cầu siêu cho mẹ, bên cạnh chùa Kōzan-ji lập năm 1590.
  • 1863Dựng lại chính điện
    Sau các lần cháy, tòa chính điện (Ōshuden) hiện nay được dựng lại năm Văn Cửu thứ 3 (1863).
  • 1869Mang tên Kongōbu-ji
    Chùa Seigan-ji và chùa Kōzan-ji bên cạnh hợp làm một, nhận tên Kongōbu-ji và làm tổng bản sơn của toàn núi.
  • 1934 và 1984Hai kỳ kỷ niệm nhập định
    Năm 1934 dựng Biệt điện nhân 1100 năm Kūkai nhập định. Năm 1984 dựng Tân Biệt điện và vườn đá Banryūtei nhân 1150 năm.
  • 2004Di sản Thế giới UNESCO
    Núi Kōya cùng Yoshino và Ōmine, Kumano Sanzan được UNESCO ghi danh là Các địa điểm linh thiêng và đường hành hương dãy núi Kii, theo tiêu chí ii, iii, iv và vi. Tới tháng 1 năm 2024, 12 tòa nhà thời Edo của khu Bản phường Kongōbu-ji được xếp Di sản văn hóa quan trọng của Nhật Bản.
Theo sử liệu

Có hai chỗ nguồn từng ghi khác nhau cần nói rõ. Về năm dựng quần thể điện tháp trung tâm Danjō Garan, trang japan-guide ghi Kūkai khởi dựng năm 826, trong khi năm khai sơn mà chùa và bảo tàng ghi là 816. Hai mốc ấy không mâu thuẫn vì 816 là năm được ban núi còn 826 là năm khởi dựng tháp lớn ở Garan. Về cấp xếp hạng di sản trong nước, trước đây trang của chùa chỉ ghi lầu chuông là di sản cấp tỉnh còn trang JNTO lại nhắc tới Quốc bảo. Thực tế là trong khu Danjō Garan và bảo tàng Reihōkan thuộc Kongōbu-ji có các công trình và hiện vật xếp Quốc bảo (như Bất Động đường Fudō-dō dựng năm 1197 và 21 bộ bảo vật), còn 12 tòa nhà thời Edo của khu Bản phường Kongōbu-ji (gồm Chính điện Ōshuden, Áo thư viện Okushoin, Cổng chính, Kho kinh, Lầu chuông, Hộ Ma đường, Chân Nhiên đường, Ái Nhiễm đường và Nhà bếp lớn) đã được Chính phủ Nhật Bản chính thức xếp hạng Di sản văn hóa quan trọng cấp quốc gia vào tháng 1 năm 2024.

IIIChính Điện, Tranh Cửa Lùa Và Vườn Đá

Chính điện Kongōbu-ji không giống điện Phật cao vút như chùa Đông Đại ở Nara. Đây là một khối nhà dài 54 mét theo chiều đông tây, sâu 63 mét theo chiều bắc nam, mang dáng dinh thự của vị đứng đầu tông phái vì chức năng của nó là nơi ở, nơi họp và nơi hành lễ của cả núi. Mái lợp vỏ cây bách (hiwadabuki), trên nóc đặt tám thùng gỗ chứa nước mưa (tensuioke) để dập tàn lửa khi có cháy. Giá trị nghệ thuật lớn bên trong nằm ở các gian phòng cửa lùa vẽ tranh của những họa sư lớn thời Edo.

Phòng Ōhiroma

Gian đại sảnh dùng cho các nghi lễ quan trọng, cửa lùa vẽ đàn hạc và tùng bách trên nền thếp vàng, tương truyền của họa sư phái Kanō là Saitō Tōshitsu (thế kỷ 17).

Phòng Mai và phòng Liễu

Phòng Mai (Ume-no-ma) có bộ tranh cửa lùa Mai, trăng và suối của danh họa Kanō Tan'yū (1602 tới 1674). Phòng Liễu (Yanagi-no-ma) có bộ tranh Liễu và cò trắng của Yamamoto Tansai. Trang của chùa còn ghi các phòng có tranh của hai cha con Unkoku Tōeki và Unkoku Tōji.

Vườn đá Banryūtei

Kiến tạo năm 1984 nhân kỷ niệm 1150 năm Kūkai nhập định, rộng 2.340 mét vuông với 140 phiến đá hoa cương lấy từ quê hương Shikoku của Đại sư bày thành đôi rồng ẩn hiện giữa biển mây sỏi trắng Kyoto, là vườn đá lớn nhất Nhật Bản.

Nhà bếp cổ (Daidokoro)

Dựng lại năm 1862 với trần cao ám khói, đặt ba lò nấu cơm lớn, mỗi lượt nấu được 98 kg gạo (khoảng 7 đấu), đủ phần cơm cho hai nghìn tăng chúng.

Lầu chuông, kho kinh và cổng chính

Cổng chính (1593, dựng lại cuối thế kỷ 17), kho kinh (1679) và lầu chuông mái hakamagoshi (1864) nằm trong số 12 công trình khu Bản phường được xếp Di sản văn hóa quan trọng của Nhật Bản năm 2024.

Biệt điện và Tân Biệt điện

Biệt điện dựng năm 1934, Tân Biệt điện năm 1984, dùng để tiếp người hành hương và thuyết pháp trong các kỳ lễ lớn của Đại sư.

Ngoài khu Bản phường, hai thánh địa làm nên trục tâm linh của núi Kōya là Danjō Garan, quần thể điện tháp trung tâm với ngôi Căn Bản Đại Tháp (Konpon Daitō) cao 48,5 mét sơn son tượng trưng cho mạn đà la và Bất Động đường (Fudō-dō, 1197, Quốc bảo), cùng Okunoin, lăng nhập định của Đại sư ở cuối con đường gần hai cây số qua rừng tuyết tùng cổ thụ. Bảo tàng Reihōkan ghi trong 117 chùa trên núi hiện có hơn năm mươi chùa mở cửa đón khách hành hương nghỉ lại qua đêm theo lệ túc phường (shukubō).

IVThế Đất Và Hướng

Núi Kōya là trường hợp hiếm vì chính truyền thống của nơi này đã có sẵn một cách đọc thế đất, không cần thư viện mang lối Việt tới. Vì vậy phần dưới tách làm hai lớp. Lớp đầu là điều bảo tàng Reihōkan của núi ghi. Lớp sau mới là cách thư viện đọc theo con mắt phong thủy cổ truyền Việt Nam, để quý vị có chỗ đối chiếu, và đó là kiến giải, không phải điều chép trong tư liệu của chùa. Trang của chùa không bàn về hướng phong thủy của cổng chính điện, thư viện không đoán.

Thế đất và hướng

Lớp thứ nhất, theo Reihōkan, bồn đất trên núi dài khoảng 6 km theo chiều đông tây, rộng 3 km theo chiều bắc nam, chu vi 15 km, cao chừng 800 mét, bao quanh là các ngọn núi cao khoảng 1.000 mét. Truyền thống của núi gọi vòng tám ngọn núi trong là nội bát diệp, vòng tám ngọn ngoài là ngoại bát diệp, tức tám cánh sen trong và tám cánh sen ngoài, và coi cả bồn đất là đài sen ở giữa mạn đà la. Người tu Mật tông nhìn toàn bộ núi Kōya như một mạn đà la bằng đất đá.

Lớp thứ hai là cách đọc của thư viện. Theo lối Việt, một bồn đất bằng trên cao có núi vây kín bốn phía là thế tàng phong tụ khí điển hình, khi gió lớn bị vòng núi chặn lại và khí trong lòng bồn không thoát ra ngoài. Thế đất này sách cổ coi là đất tụ nhất, thường dành cho kinh đô hay những chốn tổ lớn. Điều đáng chú ý là hai hệ thống, Mật tông Nhật và phong thủy Việt, cùng đi tới một nhận định rằng lòng bồn đất là chỗ quý nhất, dù một bên diễn đạt bằng hình hoa sen tám cánh, một bên diễn đạt bằng sự tụ khí.

Về bố cục, trên bồn đất Danjō Garan nằm ở phía tây, lăng Okunoin ở phía đông, Kongōbu-ji ở khoảng giữa. Đọc theo lối Việt, đó là một trục đông tây, trong đó phía đông (hướng mặt trời mọc và theo ngũ hành thuộc Mộc) là nơi Đại sư nhập định, ứng với sự sống không dứt, còn phía tây là quần thể điện tháp hành lễ. Chùa Kongōbu-ji đứng ở giữa làm chỗ nối, đúng vai trò tổng bản sơn của nó. Thư viện ghi như một chỗ trùng khớp của vị trí, không nói người xưa đặt chùa theo phép ấy.

Cuối cùng là nước và cây. Rừng tuyết tùng phủ kín sườn núi, mưa nhiều, sương nhiều. Theo ngũ hành, rừng thuộc Mộc, nước thuộc Thủy, Thủy sinh Mộc, núi cao ẩm lạnh là thứ đất nuôi rừng. Đó cũng là thử thách của nơi này, vì chùa gỗ giữa rừng bách từng cháy nhiều lần nên trên nóc chính điện luôn đặt tám thùng nước gỗ để phòng hỏa.

VLịch Lễ Của Hoằng Pháp Đại Sư

Chùa theo lịch Nhật, phần lớn là dương lịch, nhưng giữ lại vài lễ tính theo âm lịch, trong đó có lễ nhập định của Kūkai. Hai ngày quan trọng nhất trong năm của cả núi là ngày 21 tháng 3, ngày Đại sư nhập định, và ngày 15 tháng 6, ngày sinh của Đại sư. Bảng dưới lấy theo trang lịch lễ của chùa, bỏ bớt các lễ nhỏ.

Các lễ chính trong năm theo trang lịch lễ của chùa. Lễ Vu Lan Urabon-e làm ngày 11 tháng 8 dương lịch, trước lễ nến hai ngày. Nguồn: koyasan.or.jp, mục Annual Events..
NgàyTheo lịch nàoLễNội dung
1 tới 3 tháng 1Lịch Nhật, dương lịchShushō-eLễ đầu năm, cầu quốc thái dân an cho năm mới.
14 và 15 tháng 2Lịch Nhật, dương lịchJōraku-eLễ Thường Lạc hội (Niết Bàn), tưởng niệm ngày Đức Phật Thích Ca nhập diệt.
21 tháng 3Lịch Nhật, dương lịchShō-miekuLễ Chính Ngự Ảnh Cúng nhớ ngày Kūkai nhập định, các vị trụ trì toàn núi cùng làm lễ tạ ơn Đại sư.
21 tháng 3 âm lịchÂm lịchKyū-shō-miekuLễ nhập định tính theo lịch cũ, thường rơi vào tháng 4 dương lịch, dâng hoa và nến tại Okunoin.
8 tháng 4Lịch Nhật, dương lịchBusshō-eLễ Phật đản, người Nhật gọi là Hana Matsuri.
15 tháng 6Lịch Nhật, dương lịchShūso Gotan-e, Aoba MatsuriLễ mừng ngày sinh của Kūkai (Lễ hội Lá Xanh), có đám rước lớn của toàn núi.
13 tháng 8Lịch Nhật, dương lịchMandō Kuyō-e, lễ nếnTrang của chùa ghi khoảng một trăm nghìn ngọn nến thắp dọc đường vào Okunoin trong mùa Vu Lan.
27 tháng 10Lịch Nhật, dương lịchShigō Hōsan-eLễ kỷ niệm việc triều đình ban thụy hiệu Kōbō Daishi năm 921.

Quý vị người Việt nên để ý chỗ khác nhau về lịch. Phật đản ở đây là ngày 8 tháng 4 dương lịch, không phải rằm tháng tư âm lịch, và Vu Lan rơi vào tháng 8 dương lịch, không phải rằm tháng bảy âm lịch. Riêng lễ nhập định của Đại sư thì chùa làm cả hai lần, một theo dương lịch, một theo âm lịch, như một cách giữ lịch cũ bên cạnh lịch mới. Các nguồn đã mở không nói tới sinh hoạt của cộng đồng người Việt tại núi Kōya, nên thư viện không ghi.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
132 Koyasan, Koya-cho, Ito-gun, Wakayama 648-0294 (132)
Đường tới
Chùa nằm giữa thị trấn Kōya, huyện Ito, tỉnh Wakayama. Từ Osaka đi tàu Nankai tới ga Gokurakubashi, lên cáp treo tới ga Kōyasan rồi đi xe buýt tới bến Kongōbu-ji-mae trước cửa chùa.
Toạ độ
34.214, 135.5841
Khi tới nơi

Kongōbu-ji là chùa đang có tăng chúng tu học và hành lễ. Theo lệ của chùa, quý vị cởi giày khi vào chính điện, đi theo lối hành lang đã định, không chạm vào cửa lùa vẽ tranh và không bước xuống vườn đá Banryūtei. Nếu quý vị ở lại một chùa túc phường (shukubō) trên núi thì giữ theo lệ của chùa ấy, gồm dùng cơm chay tinh tấn (shōjin ryōri), dậy sớm dự thời khóa sáng nếu được mời và giữ yên lặng trong đêm.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Kim Cương Phong (Kongōbu-ji), núi Kōya

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Kongobuji thuộc tông phái nào

Chùa là tổng bản sơn của Chân Ngôn tông Kōyasan, một phái Mật tông Phật Giáo do Đại sư Kūkai, thụy hiệu Kōbō Daishi, đưa về Nhật Bản đầu thế kỷ thứ chín. Chân Ngôn tông lấy Đại Nhật Như Lai làm Phật chủ và dạy giáo lý tức thân thành Phật qua ba mật thân, khẩu, ý.

Núi Koya do ai khai sơn và từ năm nào

Theo trang của chùa và bảo tàng Reihōkan, Đại sư Kūkai được Thiên hoàng Saga ban núi Kōya làm đạo tràng năm 816. Trang japan-guide ghi việc khởi dựng quần thể tháp ở Danjō Garan năm 826. Kūkai nhập định trên núi năm 835 và được ban thụy hiệu Kōbō Daishi năm 921.

Kongobuji được xếp hạng di sản gì

Quần thể Kongōbu-ji và núi Kōya được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới năm 2004 trong mục Các địa điểm linh thiêng và đường hành hương dãy núi Kii. Trong nước, 12 tòa nhà thời Edo của khu Bản phường Kongōbu-ji (gồm Chính điện năm 1863, Cổng chính, Kho kinh, Lầu chuông, Nhà bếp cổ) được xếp Di sản văn hóa quan trọng của Nhật Bản năm 2024, còn khu Danjō Garan và bảo tàng Reihōkan của chùa lưu giữ các công trình và hiện vật cấp Quốc bảo (như Bất Động đường năm 1197).

Vườn đá Banryutei có gì đặc biệt

Vườn làm năm 1984 nhân kỷ niệm 1150 năm Kūkai nhập định, rộng 2.340 mét vuông, gồm 140 phiến đá hoa cương lấy từ Shikoku bày thành đôi rồng ẩn hiện giữa biển mây sỏi trắng Kyoto, được ghi nhận là vườn đá lớn nhất Nhật Bản.

Lễ lớn nhất ở núi Koya là lễ gì

Hai lễ lớn nhất gắn với Đại sư Kūkai là lễ nhập định (Shō-mieku) ngày 21 tháng 3, được chùa cử hành cả theo dương lịch lẫn âm lịch, và lễ mừng ngày sinh Aoba Matsuri ngày 15 tháng 6 dương lịch. Ngoài ra lễ nến Mandō Kuyō-e tối 13 tháng 8 thắp khoảng một trăm nghìn ngọn nến dọc đường vào Okunoin.

›Đọc Tiếp