Đứng ở khu vực số 2 đường Văn Miếu (góc giao với số 1 đường Tổ Sơn), quý vị nhìn lên và sẽ mất một lúc mới nhận ra đây là một nhà thờ. Mái lợp ngói âm dương màu xanh, các góc mái hất cong lên như mái đình. Sàn nhà thờ không đặt sát đất mà nâng cao, có ba lối bậc dẫn lên, đúng cách làm của một nếp nhà sàn miền núi phía bắc. Giữa khối nhà là một ngọn tháp năm tầng, hai bên là hai tháp nhỏ hai tầng, mỗi tháp treo một chiếc đèn lồng gỗ.
Đây là nhà thờ chính tòa của giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng, mang tước hiệu Thánh Đaminh, giáo dân quen gọi là nhà thờ Cửa Nam theo tên giáo xứ. Điều đáng viết ở đây không phải quy mô đồ sộ, vì công trình chỉ ngang ba mươi mét và dài hai mươi lăm mét. Điều đáng viết là cách một ngôi nhà thờ Công giáo mượn trọn bộ ngôn ngữ kiến trúc của vùng biên ải để làm nhà thờ mẹ của cả một giáo phận.

ITên gọi, tước hiệu Thánh Đaminh và nghĩa của chữ chính tòa
Trong Công giáo, mỗi ngôi nhà thờ khi được cung hiến đều dâng kính một đấng, và tước hiệu ấy định ngày lễ bổn mạng cũng như tên các hội đoàn trong xứ. Khi giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt cử hành lễ cung hiến ngôi nhà thờ mới vào ngày 2 tháng 10 năm 2004, nhà thờ chính tòa Lạng Sơn được dâng kính Thánh Đaminh (lễ bổn mạng cử hành vào ngày 8 tháng 8 dương lịch hằng năm). Thánh Đaminh cũng đồng thời là thánh quan thầy của cả giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng, bởi vùng truyền giáo này từ năm 1913 đã được Tòa Thánh trao cho các tu sĩ dòng Đaminh thuộc Tỉnh dòng Lyon (Pháp) coi sóc.
Bên cạnh tước hiệu phụng vụ, giáo xứ ở đây mang tên giáo xứ Chính tòa Cửa Nam, hình thành từ năm 1913 ở khu vực Cửa Nam thành cổ Lạng Sơn, nên người trong vùng quen gọi ngôi thánh đường là nhà thờ Cửa Nam.
Nhà thờ chính tòa là ngôi nhà thờ có đặt cathedra, tức ngai tòa của vị giám mục coi sóc giáo phận. Ngai tòa đặt trong khu cung thánh, phần trong cùng của nhà thờ, cạnh bàn thờ. Vì ngai tòa là dấu chỉ của quyền giảng dạy và coi sóc, ngôi ấy được coi là nhà thờ mẹ của cả giáo phận. Lễ truyền chức linh mục, thánh lễ Dầu trong Tuần Thánh và các nghi lễ trọng thể của giáo phận đều cử hành tại đây. Mỗi giáo phận chỉ có một ngôi như vậy, và điều làm nó khác các nhà thờ giáo xứ là chức năng ấy chứ không phải kích thước.
Một nếp nữa cần biết là trong Công giáo, một ngôi nhà thờ chỉ trở thành nơi thánh sau nghi thức cung hiến, tức nghi thức dâng hẳn công trình cho việc thờ phượng. Ngày cung hiến vì thế thành một mốc riêng và về sau thành ngày kỷ niệm hằng năm của chính ngôi nhà thờ ấy.
Về giáo phận, tư liệu ghi rõ ba bậc phát triển. Phủ doãn tông tòa Lạng Sơn và Cao Bằng được thiết lập ngày 30 tháng 12 năm 1913, tách từ giáo phận Bắc Ninh. Đến ngày 11 tháng 7 năm 1939 (một bản tin cũ ghi nhầm thành 1929), phủ doãn được nâng lên hàng đại diện tông tòa dưới thời giám mục tiên khởi Félix Hedde Minh (tấn phong ngày 30 tháng 11 năm 1939). Và đến ngày 24 tháng 11 năm 1960, sắc chỉ Venerabilium Nostrorum nâng địa phận lên hàng giáo phận chính tòa, cùng đợt với các địa phận khác trong cả nước. Ba bậc này là ba mức trong cách Tòa Thánh tổ chức một vùng truyền giáo, đi từ nơi mới có người coi sóc tới một giáo phận đầy đủ.
Về quy mô, tư liệu ghi giáo phận có khoảng 6.001 giáo dân, chiếm chừng 0,33 phần trăm dân số trong vùng, là giáo phận có số giáo dân khiêm tốn ở Việt Nam. Con số ấy nên đọc kèm địa bàn trải rộng trên vùng núi non chia cắt của Lạng Sơn, Cao Bằng và phần phía đông sông Lô của tỉnh Hà Giang cũ, nơi các giáo họ nằm rất xa nhau.
Chỗ hay hiểu lầm ở đây, xin nói bằng giọng sử liệu. Nhiều người thấy nhà thờ lợp ngói âm dương, mái cong đầu đao, sàn nâng cao có bậc lên, thì cho rằng đây là một ngôi nhà cổ của người bản địa được sửa lại thành nhà thờ. Không phải vậy. Công trình hiện nay được dựng mới hoàn toàn, khởi công ngày 1 tháng 1 năm 2001 và khánh thành, cung hiến ngày 2 tháng 10 năm 2004. Lối nhà sàn và mái cong ở đây là một lựa chọn tạo hình có chủ ý của người dựng, chứ không phải dấu vết của một công trình dân gian có sẵn. Ngôi nhà thờ đầu tiên trên đất này dựng từ năm 1923 tới 1924 và nay không còn.
IITừ phủ doãn tông tòa tới ngôi nhà thờ năm 2004
Lịch sử nơi này gồm hai lớp công trình cách nhau gần tám mươi năm, và một lớp lịch sử tổ chức của giáo phận chạy song song. Các mốc dưới đây thuộc việc lập giáo phận, xây dựng và cung hiến.
- 1913Lập phủ doãn tông tòaNgày 30 tháng 12 năm 1913, Tòa Thánh thiết lập phủ doãn tông tòa Lạng Sơn và Cao Bằng trao cho Tỉnh dòng Đaminh Lyon coi sóc, do đức ông Bertrand Cothonay Chiểu đứng đầu. Cùng thời kỳ này, giáo xứ Cửa Nam hình thành.
- 1923 - 1924Dựng ngôi nhà thờ đầuNăm 1923, đức ông Cothonay Chiểu khởi công xây nhà thờ chính theo bản vẽ của linh mục Brébion, do linh mục Lecroat (dòng Tên) đặt viên đá đầu tiên. Ngày 14 tháng 8 năm 1924, nhà thờ hoàn thành và được làm phép trọng thể. Công trình cũ này về sau bị hư hại hoàn toàn.
- 1939Nâng lên đại diện tông tòaNgày 11 tháng 7 năm 1939, phủ doãn tông tòa được nâng lên hàng đại diện tông tòa, và ngày 30 tháng 11 năm 1939 cử hành lễ tấn phong giám mục đại diện tông tòa tiên khởi Félix Hedde Minh.
- 1960Thành giáo phận chính tòaNgày 24 tháng 11 năm 1960, trở thành giáo phận chính tòa Lạng Sơn và Cao Bằng theo sắc chỉ Venerabilium Nostrorum, cùng đợt với các địa phận khác trong cả nước.
- 2001Khởi công ngôi nhà thờ hiện nayNgày 1 tháng 1 năm 2001, dưới thời giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt, công trình mới được khởi công, dựng theo lối nhà sàn miền núi ghép với mái cong cung đình Việt.
- 2004Khánh thành và cung hiếnNgày 2 tháng 10 năm 2004, giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt chủ sự lễ khánh thành và cung hiến ngôi nhà thờ mới dưới tước hiệu Thánh Đaminh. Ngày này về sau thành ngày kỷ niệm cung hiến hằng năm.
Một chỗ cần nói rõ về cách đọc niên đại ở đây. Ba mốc 1913, 1939 và 1960 là mốc của giáo phận, tức mốc về địa vị trong tổ chức của Giáo hội (lưu ý có một bản tin cũ ghi nhầm mốc ngày 11 tháng 7 năm 1939 thành năm 1929), còn hai mốc 1923 tới 1924 và 2001 tới 2004 là mốc của công trình. Nhiều bài viết gộp hai loại mốc này lại, khiến người đọc tưởng ngôi nhà thờ đang đứng có từ năm 1913 hoặc 1960. Thực ra công trình hiện nay mới hơn hai mươi năm tuổi.
Về địa chỉ của nhà thờ, do khuôn viên Tòa Giám mục và Nhà thờ chính tòa Cửa Nam nằm ở góc giao hai tuyến phố, một số văn bản hành chính và bản tin của giáo phận ghi địa chỉ cổng chính là số 2 đường Văn Miếu, trong khi tư liệu trên Wikipedia và trang danh bạ nhà thờ ghi theo mặt đường bên là số 1 đường Tổ Sơn, cùng thuộc phường Lương Văn Tri, tỉnh Lạng Sơn (trước tháng 7 năm 2025 thuộc phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn cũ).
IIINhà sàn, mái cong và tháp năm tầng
Công trình ngang ba mươi mét, dài hai mươi lăm mét, tức là một mặt bằng gần vuông chứ không phải một thân dài như nhà thờ Gothic. Điều đáng chú ý là người dựng không mượn một chi tiết trang trí bản địa nào để gắn lên một khối nhà thờ châu Âu, mà mượn nguyên cách dựng nhà của vùng gồm sàn nâng khỏi mặt đất, có bậc lên, mái lợp ngói âm dương, đầu đao hất cong.
Bên trên khối nhà là ba ngọn tháp. Tháp chính năm tầng đứng giữa, được người dựng giải thích là ứng với năm hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ trong cách nghĩ phương Đông, đồng thời ứng với năm chặng của Mùa Sáng trong kinh Mân Côi. Hai bên là hai tháp nhỏ hai tầng, đặt theo trục bắc nam, mỗi tháp treo một chiếc đèn lồng gỗ, mang ý hướng về các vùng đất mà giáo phận coi sóc.
Nền nhà thờ không đặt sát đất mà nâng cao theo cách của nhà sàn miền núi, có ba lối bậc dẫn lên sàn. Đây là chi tiết khiến ngôi nhà thờ nhìn thoáng qua giống một nếp nhà của vùng cao.
Ngọn tháp giữa, năm tầng, được giải thích là ứng với năm hành theo cách nghĩ phương Đông và với năm chặng Mùa Sáng trong kinh Mân Côi. Đây là chỗ hai hệ ý nghĩa gặp nhau trên cùng một hình khối.
Đặt theo trục bắc nam, mỗi tháp treo một chiếc đèn lồng gỗ. Ý được ghi lại là hướng về phía Cao Bằng và Hà Giang ở phía bắc, và về phía Lạng Sơn ở phía nam.
Mái lợp ngói âm dương màu xanh, chia hai lớp cách nhau bằng một dải kính màu. Người dựng giải thích lớp trên là trời, lớp dưới là người, còn nền vuông bên dưới là đất.
Một phiến đá trắng quý dài chừng hai mét rưỡi, rộng chín mươi xentimét, chạm các đề tài bánh trường sinh, chùm nho, bông lúa và hoa hồi. Hoa hồi là cây đặc trưng của chính vùng đất này.
Khu cung thánh vây bằng gỗ trắc, có các mảng rèm chạm với đề tài mây trời và chữ thọ theo lối trang trí cổ truyền, ánh sáng lọt qua kính màu làm dịu cả gian.
Bể nước thánh hình thánh giá, tạc bằng đá lấy tại chỗ, làm theo dáng giếng làng với bảy bậc bước xuống.
| Chi tiết | Mượn từ đâu | Ý được người dựng ghi lại |
|---|---|---|
| Sàn nâng có bậc lên | Nhà sàn miền núi phía bắc | Cách dựng nhà quen thuộc của chính vùng đất này |
| Mái cong đầu đao | Mái cung đình và mái đình Việt | Ghép ngôn ngữ bản địa vào một công trình thờ tự |
| Ngói âm dương màu xanh | Nghề ngói của vùng cao | Hai lớp mái ngăn bởi kính màu, chỉ trời và người |
| Tháp chính năm tầng | Cách nghĩ năm hành phương Đông | Ứng với năm chặng Mùa Sáng trong kinh Mân Côi |
| Đèn lồng gỗ trên hai tháp nhỏ | Đèn lồng truyền thống | Hướng về các vùng đất mà giáo phận coi sóc |
| Hoa hồi chạm trên bàn thờ | Cây đặc trưng của vùng Lạng Sơn | Đưa sản vật của đất vào phần thờ tự |
Cách làm này, trong ngôn ngữ của Giáo hội, được gọi là hội nhập văn hóa, tức diễn tả đức tin bằng hình thức văn hóa của nơi mình đang sống. Ở Việt Nam, một ví dụ tiêu biểu của lối ấy là quần thể Phát Diệm dựng cuối thế kỷ 19 bằng ngôn ngữ đình chùa đồng bằng. Lạng Sơn là một ví dụ mới hơn nhiều và đi theo một hướng khác khi không mượn đình chùa châu thổ mà mượn nhà sàn vùng cao.
IVThế đất và hướng
Phần này cần rào trước cho rõ, và ở đây lời rào phải kỹ hơn thường lệ. Công giáo không dạy phong thủy, và hướng của một ngôi nhà thờ theo truyền thống là hướng phụng vụ, tức hướng đặt bàn thờ và cung thánh theo quy tắc của việc cử hành, với lối cổ là quay cung thánh về hướng đông phía mặt trời mọc. Ngôi nhà thờ này có một chỗ đặc biệt là chính người dựng đã dùng tới bộ chữ năm hành khi giải thích ngọn tháp năm tầng. Nhưng xin đọc cho đúng rằng họ mượn bộ chữ ấy như một lối nói quen thuộc của văn hóa phương Đông để diễn tả năm chặng Mùa Sáng trong kinh Mân Côi, chứ không phải để xem đất hay chọn hướng. Những gì viết dưới đây là cách đọc thế đất theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu.
Một, đất núi có sẵn thế. Lạng Sơn nằm trong vùng núi đá vôi và thung lũng, có sông Kỳ Cùng chảy qua. Trong phép xem đất, đây là loại địa hình mà sách xưa gọi là sơn thủy hữu tình, có núi làm hậu chẩm tức gối tựa sau lưng, có nước làm minh đường tức khoảng sáng trước mặt. Đó là điều kiện mà nhà thờ ở vùng châu thổ phẳng lì phải tự tạo ra bằng cách đắp núi giả và đào hồ, còn ở đây thì địa hình đã cho sẵn.
Hai, nhà sàn đọc theo phép cũ. Nếp nhà nâng khỏi mặt đất là cách dựng của cả vùng núi phía bắc, với lý do thực tế là tránh ẩm, tránh thú và đón gió thoáng. Nhưng trong lối đọc cổ truyền, một nếp nhà không dán sát đất còn được coi là nếp nhà không phạm thổ khí, tức không hút hơi ẩm nặng từ đất lên. Người xưa còn nói rằng bậc lên tạo ra một quãng chuyển giữa ngoài và trong, khiến người bước vào phải đổi nhịp chân. Ở đây ba lối bậc làm đúng việc ấy.
Ba, tháp năm tầng và bộ năm hành. Đây là chỗ hiếm gặp, nên xin ghi cẩn thận. Trong phép xem đất, bộ Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ dùng để quy hình khối và định sinh khắc, còn ở ngọn tháp này thì bộ ấy được dùng như một biểu tượng văn hóa phương Đông kết hợp với năm chặng Mùa Sáng trong kinh Mân Côi. Hai việc khác nhau, dù cùng một bộ chữ. Thư viện nêu ra để quý vị khỏi hiểu lầm rằng ngôi nhà thờ được dựng theo phép bói toán phong thủy.
Bốn, hai lớp mái và nền vuông. Cách giải thích của chính người dựng là lớp mái trên chỉ trời, lớp dưới chỉ người, nền vuông bên dưới chỉ đất. Người Việt xưa cũng đọc công trình theo ba tầng thiên, địa, nhân đúng như vậy, với trời tròn đất vuông làm nền của cách nghĩ. Đây là trường hợp thú vị mà hai truyền thống vừa gặp nhau ở hình khối đồng thời dùng chung một cách nói. Thư viện ghi nhận điều ấy và dừng ở đó.
VLễ trong năm của một giáo phận vùng cao
Là nhà thờ chính tòa, nơi này theo lịch phụng vụ chung của Giáo hội Công giáo, tính theo dương lịch, cộng thêm các dịp riêng gắn với tước hiệu Thánh Đaminh và vai trò đứng đầu giáo phận. Bài chỉ ghi những ngày cố định, không ghi giờ cử hành.
| Thời điểm | Lễ hoặc nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 8 tháng 8 | Lễ Thánh Đaminh | Lễ bổn mạng của Nhà thờ chính tòa Lạng Sơn và cũng là lễ quan thầy của cả giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng. |
| Ngày 2 tháng 10 | Kỷ niệm cung hiến nhà thờ | Theo nếp Công giáo, ngày cung hiến (2 tháng 10 năm 2004) về sau thành ngày kỷ niệm hằng năm của chính ngôi nhà thờ ấy. |
| Ngày 24 tháng 11 | Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam | Một trong những dịp lớn được cử hành trọng thể tại ngôi chính tòa, thường kèm nghi thức tuyên thệ của hội đồng mục vụ giáo xứ. |
| Tuần Thánh | Thánh lễ Dầu và Tam Nhật Vượt Qua | Thánh lễ Dầu mang tính giáo phận, do giám mục chủ sự tại đây, linh mục trong cả giáo phận về dự. |
| Mùa Vọng và ngày 25 tháng 12 | Mùa Vọng và lễ Giáng Sinh | Mùa chuẩn bị rồi tới lễ mừng Chúa giáng sinh, một trong hai kỳ lễ trọng của năm phụng vụ. |
| Cả tháng Mười | Tháng Mân Côi | Tháng đọc kinh Mân Côi. Nếp này có chỗ đứng riêng ở đây vì ngọn tháp chính của nhà thờ được giải thích theo năm chặng Mùa Sáng trong kinh ấy. |
Một đặc điểm của vùng nên biết để đọc phần trên cho đúng. Giáo phận này có chừng sáu nghìn giáo dân trên một địa bàn núi non rộng lớn, các giáo họ cách nhau xa và đường đi khó. Vì vậy những dịp cả giáo phận quy tụ về ngôi chính tòa không phải chuyện thường xuyên mà là một sự kiện lớn, nhiều giáo dân đi cả ngày đường để về dự lễ. Ở các giáo phận đồng bằng có mật độ nhà thờ dày, việc ấy nhẹ nhàng hơn nhiều. Đây là chỗ mà một con số thống kê nhỏ lại nói lên rất nhiều về nếp sống đạo vùng biên viễn.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 2 đường Văn Miếu, phường Lương Văn Tri, tỉnh Lạng Sơn
- Đường tới
- Nhà thờ ở số 2 đường Văn Miếu (góc giao số 1 đường Tổ Sơn), phường Lương Văn Tri, tỉnh Lạng Sơn (trước đây thuộc phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn cũ), trong khu trung tâm thành phố gần ga Lạng Sơn. Mái ngói âm dương màu xanh và ngọn tháp năm tầng là mốc nhận ra công trình từ xa.
- Toạ độ
- 21.8405, 106.7553
Đây là nhà thờ chính tòa đang hoạt động chứ không phải khu tham quan, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo như ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, giữ im lặng trong lòng nhà thờ. Khi đang có thánh lễ, xin quý vị không đi lại giữa các hàng ghế và không chụp ảnh. Khu cung thánh, nơi có ngai tòa giám mục và bàn thờ đá, dành cho người có phận sự. Nếu quý vị tới để xem công trình thì nên dành thì giờ quan sát ba lối bậc lên sàn, dải kính màu ngăn hai lớp mái, và các đề tài hoa hồi, bông lúa chạm trên phiến đá bàn thờ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nhà thờ chính tòa Lạng Sơn
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Nhà thờ chính tòa Lạng Sơn có tước hiệu gì
Ngôi nhà thờ được giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt cung hiến ngày 2 tháng 10 năm 2004 dưới tước hiệu Thánh Đaminh (lễ bổn mạng ngày 8 tháng 8 dương lịch), đồng thời cũng là thánh quan thầy của giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng. Giáo xứ tại đây mang tên giáo xứ Chính tòa Cửa Nam, hình thành từ năm 1913, nên người dân quen gọi là nhà thờ Cửa Nam.
Nhà thờ Cửa Nam Lạng Sơn xây năm nào
Có hai lớp công trình. Ngôi nhà thờ đầu tiên trên khu đất này được đức ông Bertrand Cothonay Chiểu khởi dựng năm 1923 theo bản vẽ của linh mục Brébion, hoàn thành ngày 14 tháng 8 năm 1924 và nay không còn. Ngôi hiện nay được dựng mới hoàn toàn, khởi công ngày 1 tháng 1 năm 2001 và khánh thành, cung hiến ngày 2 tháng 10 năm 2004.
Vì sao nhà thờ Lạng Sơn trông giống nhà sàn
Vì người dựng mượn nguyên cách dựng nhà của vùng cao chứ không chỉ mượn vài chi tiết trang trí. Sàn nhà thờ nâng khỏi mặt đất và có ba lối bậc dẫn lên, mái lợp ngói âm dương màu xanh với đầu đao hất cong theo lối mái đình. Trong ngôn ngữ của Giáo hội, cách làm này gọi là hội nhập văn hóa, tức diễn tả đức tin bằng hình thức văn hóa của nơi mình sống.
Tháp năm tầng của nhà thờ Lạng Sơn có ý nghĩa gì
Người dựng giải thích ngọn tháp chính năm tầng ứng với năm hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ theo vũ trụ quan phương Đông, đồng thời ứng với năm chặng của Mùa Sáng trong kinh Mân Côi. Đây là chỗ bộ chữ quen thuộc của văn hóa phương Đông được mượn làm ngôn ngữ biểu tượng kiến trúc.
Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng có từ bao giờ
Tư liệu ghi ba bậc. Phủ doãn tông tòa được thiết lập ngày 30 tháng 12 năm 1913, nâng lên hàng đại diện tông tòa ngày 11 tháng 7 năm 1939 (một bản tin cũ in nhầm là 1929), và trở thành giáo phận chính tòa ngày 24 tháng 11 năm 1960. Giáo phận hiện có chừng 6.001 giáo dân, khoảng 0,33 phần trăm dân số trong vùng.