Từ đường lớn rẽ vào, quý vị đi qua ruộng và bờ tre rồi tới một khuôn viên rộng chừng năm nghìn mét vuông, giữa là một ngôi nhà thờ nhỏ sơn màu xám xanh đã bạc. Mặt tiền có hai tháp chuông hai bên và một thánh giá ở giữa, bố cục ba tầng, các ô cửa cuốn nhọn. Nó không lớn, và cái cũ của nó hiện ra ngay ở màu tường chứ không cần ai giới thiệu.
Nhưng thứ khiến người ta lặn lội tới đây không nằm trong phần xây. Trong khuôn viên này còn giữ cuốn Phép giảng tám ngày, in tại Rôma năm 1651, cuốn sách chữ Quốc ngữ đầu tiên được in ra. Nói cách khác, đây là một ngôi nhà thờ vùng quê đang giữ một di vật thuộc về cả tiếng Việt, không riêng gì người Công giáo.
ICuốn Sách Năm 1651 Và Một Tước Hiệu Còn Bỏ Trống
Nói về Mằng Lăng là phải nói trước hết về cuốn sách. Phép giảng tám ngày là sách dạy giáo lý chia theo tám ngày, do linh mục Alexandre de Rhodes soạn, in tại Rôma năm 1651, dày 319 trang, in hai cột song song: một cột tiếng La tinh, một cột tiếng Việt ghi bằng mẫu tự La tinh. Cùng năm ấy và cùng nhà in, cuốn từ điển Việt Bồ La cũng ra đời. Hai cuốn ấy là mốc mà giới nghiên cứu lấy làm điểm khởi của chữ Quốc ngữ dạng in.
Điều đáng nói là cuốn sách không phải công của một người. Việc ghi tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh đã được nhiều nhà truyền giáo và nhiều người Việt cùng làm suốt mấy chục năm trước đó, ở các cư sở như Nước Mặn thuộc vùng Bình Định cũ, cách Mằng Lăng không xa. Cuốn in năm 1651 là chỗ mà công việc chung ấy lần đầu thành sách in.
Về tước hiệu của chính ngôi nhà thờ, chúng tôi xin ghi thẳng: thư viện chưa tra được tước hiệu của nhà thờ Mằng Lăng. Các nguồn viết về nơi này nói rất kỹ về cuốn sách, về kiến trúc, về chân phước Anrê Phú Yên, nhưng không nguồn nào chúng tôi tra được ghi rõ ngôi nhà thờ dâng kính đấng nào. Tước hiệu là phần thờ tự chứ không phải chi tiết phụ, nên chúng tôi để trống và nói rõ là trống, thay vì suy từ tên một hội đoàn hay từ một pho tượng trong nhà thờ rồi viết bừa. Quý vị cần biết chắc thì nên hỏi thẳng giáo xứ hoặc văn phòng giáo phận Quy Nhơn.
Một chỗ nguồn vênh nhau nữa, cũng xin nói rõ. Về tình trạng của cuốn sách, có nguồn nói bản gốc được cất giữ tại đây và khách xem bản sao trưng bày, có nguồn nói khác. Chúng tôi chưa tìm được văn bản của cơ quan chuyên môn nào xác nhận, nên chỉ ghi điều chắc chắn: tại Mằng Lăng có cuốn Phép giảng tám ngày được gìn giữ và có bản trưng bày cho khách hành hương xem. Tương tự, nhiều bài gọi nơi này là di tích, nhưng chúng tôi chưa tra được quyết định xếp hạng nào của cấp tỉnh hay cấp quốc gia.
Về phần tôn kính: nơi đây là chỗ tôn kính chân phước Anrê Phú Yên, một thầy giảng sinh khoảng năm 1625 và qua đời năm 1644, được tôn phong chân phước năm 2000. Giáo hội Việt Nam gọi ngài là vị chứng nhân đức tin đầu tiên của mình, và lễ kính hằng năm vào ngày 26 tháng 7.
Xin giải thích hai chữ cho rõ, vì người ngoài Công giáo hay lẫn. Chân phước là bậc thứ nhất trong hai bậc tôn phong: Giáo hội nhìn nhận một người đã sống đức tin tới cùng và cho phép tôn kính công khai trong một phạm vi nhất định. Bậc trên là hiển thánh, cho phép tôn kính trong toàn Giáo hội. Anrê Phú Yên hiện ở bậc chân phước. Chúng tôi ghi ở mức tôn kính, di vật và ngày lễ, không kể lại diễn biến, vì phần thuộc về thư viện này là phần thờ tự.
IIMười Lăm Năm Dựng Một Ngôi Nhà Thờ Nhỏ
Cái tên đến trước công trình. Mằng lăng là tên một loài cây từng mọc dày trong vùng, thân gỗ, hoa màu tím, gần với cây bằng lăng quen thuộc. Người ta lấy tên cây đặt cho vùng đất, rồi vùng đất đặt tên cho ngôi nhà thờ. Trong nhà thờ hiện còn một chiếc bàn tròn bằng chính thứ gỗ ấy, đường kính chừng 1,7 mét, có từ thuở dựng, và đó là mảnh vật chất duy nhất còn nối cái tên với gốc gác của nó.
- 1651Cuốn Phép giảng tám ngày ra đờiSách in tại Rôma, 319 trang, in hai cột La tinh và tiếng Việt ghi bằng mẫu tự La tinh. Đây là cuốn sách chữ Quốc ngữ đầu tiên được in, và về sau được gìn giữ tại Mằng Lăng.
- 1892Khởi công nhà thờLinh mục Joseph de La Cassagne khởi công dựng nhà thờ trên khu đất bên dòng sông Kỳ Lộ, theo lối Gothic thu nhỏ.
- 1907Hoàn thànhCông trình hoàn thành sau mười lăm năm, dưới thời linh mục Antoine Wendling. Khuôn viên rộng chừng năm nghìn mét vuông.
- 1924Thay trần sau bãoTrần vòm cuốn nhọn theo lối Gothic ban đầu hư hại sau một trận bão và được thay bằng trần gỗ phẳng. Đây là lý do lòng nhà thờ hôm nay không còn vòm cao như thiết kế gốc.
- 2000Tôn phong chân phước Anrê Phú YênThầy giảng Anrê Phú Yên được tôn phong chân phước. Từ đó Mằng Lăng thành một chặng trong hành trình kính nhớ ngài, và về sau khu lưu niệm được dựng trong khuôn viên.
- 2018Khu lưu niệm và hầm trưng bàyTrong khuôn viên có khu lưu niệm cùng một hầm trưng bày nằm trong lòng một gò đất nhân tạo, kể lại hành trình đức tin của vị chân phước bằng các mảng phù điêu.
Về địa giới, xin nói cho rõ vì chỗ này rất dễ lẫn. Nhà thờ nằm ở xã An Thạch cũ, nay là xã Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk, sau khi tỉnh Phú Yên cũ được sáp nhập. Nhưng về mặt giáo hội thì nhà thờ vẫn thuộc giáo phận Quy Nhơn, vì địa giới giáo phận không đổi theo địa giới hành chính. Giáo phận Quy Nhơn có gốc là giáo phận Đàng Trong lập ngày 9 tháng 9 năm 1659, mang tên Quy Nhơn từ năm 1924, hiện coi sóc khoảng 56 giáo xứ với chừng 73.212 giáo dân trên địa bàn ba tỉnh cũ là Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.
Về niên đại công trình, các nguồn khá thống nhất ở mốc khởi công 1892 và hoàn thành 1907. Một số bài ghi gọn là nhà thờ hơn một trăm ba mươi năm tuổi, cách nói ấy tính từ năm khởi công chứ không tính từ năm hoàn thành, nên quý vị sẽ thấy tuổi nhà thờ được ghi chênh nhau chừng mười lăm năm tùy bài.
IIIGothic Thu Nhỏ, Vữa Đường Mật Và Hoa Văn Búp Sen
Mằng Lăng là một ngôi Gothic thu nhỏ. Mặt tiền chia ba tầng theo chiều đứng, hai bên là hai tháp chuông, giữa là thánh giá. Các ô cửa và cổng làm theo dạng cuốn nhọn, trong lòng có hai hàng cột đỡ các nhịp vòm nối nhau. Kích thước thì khiêm tốn, hợp với một giáo xứ vùng quê, nên cái gây ấn tượng ở đây là tỷ lệ chứ không phải quy mô: một ngôi nhà thờ châu Âu được rút nhỏ lại vừa đúng cho một cánh đồng Việt Nam.
Bố cục đối xứng qua trục giữa, hai tháp chuông hai bên và thánh giá ở giữa. Tường sơn màu xám xanh nay đã bạc theo mưa nắng, và chính lớp màu bạc ấy là thứ làm nên dáng cũ của nhà thờ trong mắt người tới.
Vữa xây tường trộn từ đường mật, vôi và cát theo lối cũ, cách làm quen của thợ Việt Nam thời chưa có xi măng. Đây là chi tiết kỹ thuật đáng kể, vì nó cho biết công trình dựng bằng tay nghề tại chỗ chứ không nhập nguyên vật liệu.
Trong các mảng trang trí có mô típ búp sen, tức một hình ảnh thuần Việt được đặt vào khuôn kiến trúc châu Âu. Chi tiết nhỏ này nói lên nhiều về cách người thợ bản địa làm việc trên một bản vẽ ngoại quốc.
Trần vòm cuốn nhọn ban đầu hư hại sau một trận bão năm 1924 và được thay bằng trần gỗ phẳng. Vì thế lòng nhà thờ hôm nay thấp và ấm hơn thiết kế gốc, gần với cảm giác trong một ngôi nhà gỗ hơn là trong một thánh đường Gothic.
Chiếc bàn tròn bằng gỗ cây mằng lăng, đường kính chừng 1,7 mét, còn từ thuở dựng nhà thờ. Đây là hiện vật nối trực tiếp tên gọi của nơi này với loài cây đã đặt ra cái tên ấy.
Trong khuôn viên có một gò đất nhân tạo, bên trong là hầm trưng bày kể lại hành trình đức tin của chân phước Anrê Phú Yên bằng các mảng phù điêu, cùng nơi gìn giữ và trưng bày cuốn Phép giảng tám ngày.
Cần nói cho đúng về chữ Gothic. Gothic thật ở châu Âu là một hệ chịu lực gồm vòm gân, cuốn bay và trụ chống ngoài, cho phép mở tường thành những mảng kính lớn. Ở Mằng Lăng, những thứ ấy được giữ lại như hình dáng, còn việc chịu lực thì do tường gạch xây bằng vữa đường mật đảm nhận, và trần thì nay đã là gỗ phẳng. Gọi đây là Gothic thì đúng về dáng, chưa đúng về cấu tạo, và biết chỗ khác nhau ấy thì quý vị nhìn công trình chính xác hơn mà không hề giảm đi phần đáng quý của nó.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này cần rào trước cho rõ. Công giáo không dạy phong thủy. Hướng của một ngôi nhà thờ theo lối cổ là hướng phụng vụ, tức quy tắc riêng của đạo về chỗ đặt bàn thờ và cung thánh, mà lối cổ nhất là quay cung thánh về phía đông đón mặt trời mọc. Đó là quy tắc của đạo chứ không phải kết quả của một cuộc xem đất. Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc theo lối cổ truyền của người Việt, thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối ấy, không phải điều chép trong tư liệu của giáo xứ.
Điều đầu tiên là thế nước. Nhà thờ nằm không xa dòng sông Kỳ Lộ, trên một khoảnh đất cao hơn ruộng chung quanh, chung quanh là đồng và bờ tre. Trong phép xem đất cổ truyền, một công trình có dòng nước chảy vòng phía trước hoặc phía bên mà không chảy xộc thẳng vào thì gọi là được thủy bao, nước ôm lấy đất. Đây là dạng thế mà sách địa lý đánh giá cao, và ở vùng đồng bằng ven biển miền Trung thì nó cũng đồng nghĩa với đất tốt để ở: gần nước mà không ngập.
Thứ hai là khoảng trống trước mặt. Khuôn viên rộng chừng năm nghìn mét vuông, sân trước bằng phẳng, tầm nhìn mở ra đồng ruộng chứ không bị nhà cửa che. Chữ cổ gọi khoảng ấy là minh đường, và minh đường rộng, bằng, sáng là điều kiện mà sách coi trọng bậc nhất. Một ngôi nhà thờ nhỏ đứng giữa một khoảng rộng như vậy trông lớn hơn kích thước thật của nó, đó là chuyện của thị giác mà người xưa đã biết dùng.
Thứ ba là khối gò nhân tạo trong khuôn viên, chỗ đặt hầm trưng bày. Việc đắp một gò đất trong khuôn viên thờ tự, xét theo con mắt cổ truyền, chính là phép tài bồi mà sách xưa nói tới: chỗ nào thiếu thì bồi thêm cho đủ thế. Vùng này bằng phẳng, không có ngọn núi nào làm chỗ tựa, nên một gò đất đắp lên vừa là nơi chứa phần trưng bày vừa vô tình đóng vai hậu chẩm, tức gối tựa. Chúng tôi nói rõ: người dựng gò làm vì lý do trưng bày, việc đọc ra thế đất là việc của chúng tôi.
Cuối cùng là hướng. Trục nhà thờ theo lối các nhà thờ dựng cuối thế kỷ 19 ở vùng này, đặt theo địa thế khoảnh đất và hướng đường vào. Người quen lối cổ truyền hay hỏi nhà thờ quay hướng nào, và câu trả lời đúng nhất cho phần lớn nhà thờ Việt Nam thời ấy là: quay theo đất và theo lối đi, trong khuôn khổ quy tắc phụng vụ cho phép. Đó không phải sự tùy tiện mà là một thứ tự ưu tiên khác với thứ tự ưu tiên của thầy địa lý.
VLễ, Lệ Và Khách Hành Hương
Mằng Lăng giữ đủ lịch phụng vụ chung của Giáo hội Công giáo tính theo dương lịch, như mọi giáo xứ khác. Vì chưa tra được tước hiệu, chúng tôi không thể ghi ngày lễ bổn mạng của chính ngôi nhà thờ, và xin để trống chỗ ấy thay vì đoán. Bù lại, nơi này có một nhịp riêng mà các giáo xứ vùng quê khác không có: nhịp của khách tới xem một cuốn sách. Bài chỉ ghi ngày theo lịch phụng vụ, không ghi giờ giấc.
| Thời điểm | Lễ hoặc nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 26 tháng 7 | Lễ kính chân phước Anrê Phú Yên | Ngày lễ kính vị chân phước được tôn phong năm 2000. Đây là dịp riêng đáng kể nhất của Mằng Lăng, kéo các đoàn hành hương trong giáo phận về. |
| Tam Nhật Vượt Qua | Tuần Thánh và Phục Sinh | Chuỗi cử hành trọng thể nhất của năm phụng vụ, ngày thay đổi theo lịch Phục Sinh hằng năm. |
| Ngày 25 tháng 12 | Lễ Giáng Sinh | Dịp quy tụ đông người nhất trong năm của giáo xứ, khuôn viên rộng nên hang đá và trang trí được bày ngoài trời. |
| Ngày 24 tháng 11 | Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam | Ngày kính các vị tử đạo được tôn phong hiển thánh năm 1988, một lễ lớn trong lịch của Giáo hội Việt Nam. |
| Tháng Năm và tháng Mười | Tháng Hoa và tháng Mân Côi | Hai tháng kính Đức Mẹ, có dâng hoa và lần chuỗi Mân Côi, là nếp chung của các xứ trong giáo phận Quy Nhơn. |
| Quanh năm | Khách hành hương và khách xem sách | Nơi này có khách đều đặn suốt năm, phần lớn tới vì cuốn Phép giảng tám ngày và khu lưu niệm chứ không vào đúng dịp lễ nào. |
Có một điều đáng nói về khách. Mằng Lăng nhận cả hai loại người tới: người đi hành hương vì đức tin, và người tới vì cuốn sách, trong đó có nhiều thầy cô giáo, sinh viên và người nghiên cứu tiếng Việt không theo đạo nào. Hai dòng người ấy cùng đứng trước một tủ kính. Đó là thứ hiếm gặp ở một cơ sở thờ tự, và nó khiến nơi này giữ được một vai mà ít nhà thờ nào có: vừa là nhà thờ của một xứ nhỏ, vừa là một chỗ mà người Việt tới nhìn lại chữ viết của chính mình.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã An Thạch cũ, nay là xã Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk
- Đường tới
- Nhà thờ ở xã An Thạch cũ, nay là xã Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk, nằm gần dòng sông Kỳ Lộ và cách trung tâm thành phố Tuy Hòa cũ chừng ba mươi lăm cây số về phía bắc. Từ quốc lộ rẽ vào đường xã là tới.
- Toạ độ
- 13.3341, 109.2258
Đây là nhà thờ của một giáo xứ đang hoạt động chứ không phải bảo tàng, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, đi nhẹ nói khẽ, không đi lại hay chụp ảnh ở khu cung thánh, phần đặt bàn thờ và nhà tạm. Nếu tới đúng lúc đang có thánh lễ, xin quý vị ngồi phía cuối nhà thờ và giữ yên lặng. Ở phòng trưng bày và khu hầm phù điêu, xin không chạm tay vào tủ kính và hiện vật, không dùng đèn chớp khi chụp sách, và hỏi người trông coi trước khi quay phim.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nhà thờ Mằng Lăng
Contribute photos, information or video for Mang Lang ChurchThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Nhà thờ Mằng Lăng có gì đặc biệt
Đây là ngôi nhà thờ cổ nhất vùng Phú Yên cũ, dựng từ năm 1892 tới 1907, và là nơi gìn giữ cuốn Phép giảng tám ngày in tại Rôma năm 1651, cuốn sách chữ Quốc ngữ đầu tiên được in. Trong khuôn viên còn có khu lưu niệm chân phước Anrê Phú Yên và một hầm trưng bày phù điêu trong lòng gò đất.
Nhà thờ Mằng Lăng dâng kính ai
Chúng tôi xin trả lời thẳng: thư viện chưa tra được tước hiệu của ngôi nhà thờ này. Các nguồn viết rất kỹ về cuốn sách, về kiến trúc và về chân phước Anrê Phú Yên nhưng không nguồn nào ghi rõ tước hiệu. Chúng tôi không suy đoán, và xin quý vị hỏi thẳng giáo xứ hoặc văn phòng giáo phận Quy Nhơn nếu cần biết chắc.
Phép giảng tám ngày là sách gì
Là sách dạy giáo lý chia theo tám ngày, do linh mục Alexandre de Rhodes soạn, in tại Rôma năm 1651, dày 319 trang, in hai cột song song tiếng La tinh và tiếng Việt ghi bằng mẫu tự La tinh. Đây là cuốn sách chữ Quốc ngữ đầu tiên được in, cùng năm và cùng nhà in với cuốn từ điển Việt Bồ La.
Vì sao gọi là nhà thờ Mằng Lăng
Tên lấy từ loài cây mằng lăng từng mọc dày trong vùng, thân gỗ, hoa màu tím, gần với cây bằng lăng quen thuộc. Tên cây thành tên đất, rồi tên đất thành tên nhà thờ. Trong nhà thờ còn một chiếc bàn tròn bằng chính thứ gỗ ấy, đường kính chừng 1,7 mét, có từ thuở dựng.
Chân phước Anrê Phú Yên là ai
Là một thầy giảng sinh khoảng năm 1625 và qua đời năm 1644, được Giáo hội tôn phong chân phước năm 2000 và nhìn nhận là vị chứng nhân đức tin đầu tiên của Giáo hội Việt Nam. Lễ kính hằng năm ngày 26 tháng 7. Chân phước là bậc dưới của hiển thánh trong hai bậc tôn phong.