Đường Trường Thi chạy giữa phố, hai bên là nhà dân và cửa hàng, rồi đến một khoảng lùi vào và một mặt tiền tường sáng với tháp chuông vuông vươn lên. Nhà thờ nằm sát mặt đường chứ không có sân trước rộng, nên quý vị chỉ thấy hết chiều dài của nó khi đã đi qua và ngoái lại, với một thân nhà mười gian kéo dài bốn mươi bốn mét, dài gấp gần ba lần bề ngang.
Đây là nhà thờ chính tòa của giáo phận Thanh Hóa, tức nhà thờ của vị giám mục coi sóc cả tỉnh, dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Vì sao nhiều bài giới thiệu du lịch về ngôi nhà thờ này chỉ nhắc tới kích thước và hai quả chuông mà bỏ sót tước hiệu thờ tự, xin đọc ngay mục đầu.

ITước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và nghĩa chữ chính tòa
Trong Công giáo, mỗi ngôi nhà thờ đều được dâng kính một đấng, và tên gọi ấy là tước hiệu. Tước hiệu không phải một cái tên phụ mà là phần cốt lõi của việc thờ tự, định ngày lễ bổn mạng, định tên các hội đoàn trong xứ và định cả những lời kinh mà giáo dân đọc quen miệng. Ngôi nhà thờ chính tòa và giáo xứ Chính Tòa Thanh Hóa nhận tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (nói đủ là Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội), mừng lễ bổn mạng vào ngày 8 tháng 12 dương lịch hằng năm. Tước hiệu này cũng trùng với bổn mạng của toàn giáo phận Thanh Hóa.
Có một chỗ dễ làm người tra cứu hụt hẫng. Khi đọc các bài giới thiệu ngắn trên cổng thông tin du lịch địa phương hay thậm chí trang tóm tắt vài dòng về nhà thờ trên mạng, người ta thấy ghi đủ số nhà, năm xây 1926 tới 1930, chiều dài 44 mét và tên trường Sainte Anne tặng quả chuông lớn, nhưng lại không thấy nhắc tước hiệu nhà thờ. Chính vì chỗ khuyết ấy trong các bản tóm tắt phổ thông mà có người lầm tưởng nhà thờ mang tước hiệu Thánh Anna theo tên quả chuông trên tháp.
Thực ra Sainte Anne (Thánh Anna) chỉ là tên riêng được đặt cho quả chuông lớn để kỷ niệm ngôi trường bên Pháp đã dâng tặng. Còn tước hiệu chính thức của ngôi nhà thờ và của giáo xứ Chính Tòa là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, được ghi rõ trong các bản tin phụng vụ mừng lễ quan thầy ngày 8 tháng 12 của giáo phận Thanh Hóa.
Còn chữ chính tòa thì thuộc về tổ chức giáo hội. Theo quy định của Giáo hội Công giáo, địa bàn chia thành các giáo phận, mỗi giáo phận do một giám mục coi sóc. Ngôi nhà thờ có đặt cathedra, tức ngai tòa của vị giám mục, thì gọi là nhà thờ chính tòa. Ngai tòa đặt trong cung thánh, cạnh hoặc sau bàn thờ, quay xuống cộng đoàn, và là dấu chỉ của quyền giảng dạy chứ không phải chiếc ghế danh dự. Mỗi giáo phận chỉ có một ngôi như vậy, và người ta gọi nó là nhà thờ mẹ.
Hệ quả là có mấy việc chỉ làm ở đây cho cả giáo phận gồm lễ truyền chức linh mục, lễ dầu sáng Thứ Năm Tuần Thánh khi giám mục làm phép các loại dầu thánh rồi trao cho các xứ mang về, và những cuộc quy tụ toàn giáo phận. Ngoài ra, một ngôi nhà thờ chỉ thành nơi thánh sau nghi thức cung hiến, tức nghi thức dâng hẳn công trình cho việc thờ phượng, nên ngày cung hiến là một mốc riêng khác ngày xây xong.
Giáo phận Thanh Hóa được lập ngày 7 tháng 5 năm 1932 theo đoản sắc Ut clero indigenae của Giáo hoàng Piô XI, tách từ địa phận Phát Diệm, ban đầu gồm tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Hủa Phăn (Sầm Nưa) của Lào với vị đại diện tông tòa tiên khởi là giám mục Louis de Cooman Hành. Hiện nay giáo phận trải trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa rộng khoảng 11.130 km2, chia thành 7 giáo hạt với 73 giáo xứ và khoảng 149.105 giáo dân theo thống kê ngày 31 tháng 12 năm 2017 trong bản giới thiệu của Hội đồng Giám mục Việt Nam (tăng lên hơn 160.000 giáo dân với trên 90 giáo xứ vào những năm gần đây). Tòa giám mục đặt ở số 50 đường Nguyễn Trường Tộ, cách nhà thờ chính tòa không xa.
IITừ năm 1926 tới nay
Ngôi nhà thờ có trước giáo phận. Công trình khởi công năm 1926 và khánh thành năm 1930, còn giáo phận thì phải hai năm sau đó mới lập. Nghĩa là trong mấy năm đầu, đây là nhà thờ của giáo xứ Thanh Hóa, rồi mới trở thành nhà thờ của một giám mục. Cách đọc ấy giúp hiểu vì sao quy mô công trình vừa phải chứ không đồ sộ như những nhà thờ được dựng sẵn ngay từ đầu để làm chính tòa.
- 1926Khởi côngLinh mục Bourlet, tên Việt là Độ (giáo dân quen gọi là cố Độ, coi sóc giáo xứ Thanh Hóa từ năm 1909 tới năm 1941), đứng ra khởi công dựng nhà thờ trên khu đất ở đường Trường Thi.
- 1930Khánh thànhNhà thờ hoàn thành sau bốn năm xây dựng với mười gian, dài 44 mét, rộng 16 mét, cao 13 mét, tháp chuông cao 25 mét.
- 1932Lập giáo phận Thanh HóaNgày 7 tháng 5 năm 1932, Địa phận Tông tòa Thanh Hóa được lập, tách từ Phát Diệm, do giám mục Louis de Cooman Hành coi sóc. Ngôi nhà thờ ở Trường Thi trở thành nhà thờ chính tòa.
- 1960Hàng giáo phẩm Việt NamNgày 24 tháng 11 năm 1960, Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam được thiết lập, Thanh Hóa trở thành giáo phận chính tòa với giám mục chính tòa tiên khởi là đức cha Phêrô Phạm Tần.
- 1988Tôn phong hiển thánh các vị tử đạoTrong số các vị tử đạo Việt Nam được tôn phong hiển thánh năm ấy có những vị gắn bó với mảnh đất Thanh Hóa mà giáo phận nhận làm đấng bảo trợ của ba đền thánh trong địa bàn.
- 2003Cải táng vị giám mục tiên khởi về nhà thờTháng 6 năm 2003, hài cốt giám mục tiên khởi Louis de Cooman Hành (qua đời năm 1970) được đưa về an táng trong lòng nhà thờ chính tòa, cùng nơi an nghỉ của giám mục Phêrô Phạm Tần.
Xin ghi thẳng một điểm các nguồn hay diễn đạt khác nhau. Các nguồn thống nhất rất chặt về niên đại xây dựng 1926 tới 1930 và về bộ kích thước 44 mét, 16 mét, 13 mét, tháp 25 mét, nhưng lệch nhau khi nhắc năm lập giáo phận. Tài liệu của Hội đồng Giám mục ghi rõ ngày 7 tháng 5 năm 1932 là mốc lập Địa phận Tông tòa và ngày 24 tháng 11 năm 1960 là mốc nâng lên hàng giáo phận chính tòa cùng với việc thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, trong khi nhiều bài phổ thông chỉ nhặt một trong hai con số rồi bỏ con số kia. Hai mốc ấy nói hai bước giáo luật khác nhau, không phải một nguồn đúng một nguồn sai.
IIIMười gian nhà và hai quả chuông
Về hình khối, đây là một nhà thờ dạng nhà dài, thân chia mười gian, dài 44 mét, rộng 16 mét, cao 13 mét. Tỷ lệ ấy cho một lòng nhà thờ hẹp và sâu, mắt người bước vào được dẫn thẳng về cung thánh ở cuối. Tháp chuông cao 25 mét dựng ở mặt tiền, làm theo lối cuốn nhọn nhưng đã pha nét phương Đông ở phần mái và các đường gờ, nên đứng xa nhìn thì không dốc đứng như tháp Gothic thuần.
Khối tháp vuông cao 25 mét đặt ngay trên trục giữa mặt tiền, có điểm những nét kiến trúc phương Đông hài hòa với các vòm cửa nhọn. Đây là phần cao nhất và là dấu nhận diện nhà thờ từ ngoài phố.
Mang tên Thánh Anna, tiếng Pháp là Sainte Anne, do trường Sainte Anne ở thành phố Montluçon bên Pháp tặng. Một quả chuông có tên thánh và có người tặng rõ ràng là chuyện không phải nhà thờ nào cũng giữ được tư liệu.
Do Hội Thừa sai Hải ngoại Paris tặng. Hai quả treo cùng tháp, đổ chung mỗi dịp lễ, và tiếng chuông này là thứ định nhịp cho khu phố chung quanh từ năm 1930.
Thân nhà chia mười gian bằng các hàng cột, trần vòm, cửa sổ chạy đều hai bên lấy sáng. Trong lòng nhà thờ còn là nơi đặt phần mộ của hai vị giám mục đầu tiên coi sóc giáo phận là đức cha Louis de Cooman Hành và đức cha Phêrô Phạm Tần.
Ở cuối trục là cung thánh, nơi đặt bàn thờ, nhà tạm giữ Thánh Thể và ngai tòa giám mục. Ngai tòa chính là thứ khiến ngôi này khác mọi nhà thờ giáo xứ khác trong tỉnh.
Nhà thờ nằm sát mặt phố, không có sân trước rộng như các nhà thờ vùng quê, nên sinh hoạt lớn của giáo phận phải tổ chức theo cách khác, dùng lòng nhà thờ cho phần nghi thức và dùng khoảng sân bên hông cùng khu Tòa giám mục gần đó cho phần quy tụ. Điều này đúng với nhiều nhà thờ chính tòa nằm trong phố, và nó giải thích vì sao các kỳ hành hương lớn của giáo phận Thanh Hóa thường được chia về các đền thánh trong địa bàn chứ không dồn hết về một chỗ.
IVThế đất và hướng
Phần này cần rào trước cho rõ. Công giáo không dạy phong thủy. Hướng của một ngôi nhà thờ theo lối cổ là hướng phụng vụ, tức quy tắc riêng của đạo về chỗ đặt bàn thờ và cung thánh, mà lối cổ nhất là quay cung thánh về phía đông, phía mặt trời mọc. Đó là quy tắc của đạo, không phải kết quả của một cuộc xem đất. Riêng ở đây còn một ràng buộc thực tế nữa là nhà thờ nằm trong khu phố có sẵn, trục của nó phụ thuộc vào hình thửa đất và hướng con đường. Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc theo lối cổ truyền của người Việt, thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối ấy.
Điều đầu tiên là thế đất phố. Khác với nhà thờ vùng quê được đặt giữa ruộng và chọn được thế, ngôi này đặt trên một thửa đất trong khu dân cư, mặt tiền áp ra đường Trường Thi. Trong phép xem đất cổ truyền, một công trình mở thẳng ra đường lớn mà không có khoảng đệm thì gọi là trực xung, khí đi thẳng vào không có chỗ dừng. Cách hóa giải quen thuộc của người xưa là đặt một khối chắn hoặc lùi công trình vào trong, và ở đây chính khoảng lùi cùng hàng cây trước mặt tiền làm việc ấy.
Thứ hai là hình thể của thân nhà. Một thân nhà mười gian dài bốn mươi bốn mét, rộng mười sáu mét, tỷ lệ gần ba trên một, đọc theo hình thể ngũ hành thì thuộc dạng hành Mộc, dài, thẳng, vươn theo một chiều. Tháp vuông cao vút ở mặt tiền lại thuộc dạng hành Hỏa vì có đỉnh nhọn. Mộc sinh Hỏa, hai hình khối ấy nối nhau thuận chứ không nghịch, và đó là điều sách cổ gọi là tương sinh. Thư viện nói rõ rằng người dựng nhà thờ chọn tỷ lệ ấy vì công năng chứ không vì ngũ hành, còn việc đọc ra là việc của thư viện.
Thứ ba là hướng. Trục nhà thờ chạy theo hướng thửa đất, không giữ đúng lối quay cung thánh về phía đông của các nhà thờ cổ châu Âu. Điều này rất thường gặp ở các nhà thờ dựng trong đô thị Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20, khi quy tắc hướng phụng vụ đã được áp dụng mềm dẻo hơn và địa thế phố xá thì cứng. Người quen lối cổ truyền có thể thấy tiếc, nhưng theo chính quy tắc của đạo thì đó không phải một khiếm khuyết.
Cuối cùng là tiếng chuông, thứ mà phong thủy không có chữ để gọi nhưng người Việt xưa rất coi trọng. Hai quả chuông trên tháp phủ tiếng ra khắp khu phố chung quanh, và trong cách nghĩ cổ truyền thì âm thanh định giờ giấc cho một vùng cũng là một cách trấn, làm cho nhịp sống của cả khu quy về một mối. Xét theo con mắt ấy, cái đắc địa của ngôi nhà thờ này không nằm ở thế đất mà nằm ở tầm vang của tháp chuông.
VLễ và lệ trong năm
Là nhà thờ chính tòa, ngôi này giữ đủ lịch phụng vụ chung của Giáo hội Công giáo tính theo dương lịch, cộng thêm dịp lễ quan thầy ngày 8 tháng 12 và mấy dịp riêng của một nhà thờ có ngai tòa giám mục. Bài chỉ ghi ngày theo lịch phụng vụ, không ghi giờ giấc.
| Thời điểm | Lễ hoặc nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 8 tháng 12 | Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội | Lễ bổn mạng của nhà thờ chính tòa và giáo xứ Chính Tòa, đồng thời là bổn mạng của cả giáo phận Thanh Hóa. |
| Thứ Năm Tuần Thánh | Lễ dầu | Giám mục làm phép các loại dầu thánh dùng cho cả giáo phận, linh mục các xứ về đồng tế rồi mang dầu về xứ mình. Nghi thức chỉ diễn ra ở nhà thờ chính tòa. |
| Tam Nhật Vượt Qua | Tuần Thánh và Phục Sinh | Chuỗi cử hành trọng thể nhất của năm phụng vụ, ngày thay đổi theo lịch Phục Sinh hằng năm. |
| Ngày 25 tháng 12 | Lễ Giáng Sinh | Dịp quy tụ đông người nhất trong năm ở một nhà thờ nằm giữa phố. |
| Ngày 24 tháng 11 | Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam | Ngày kính các vị tử đạo được tôn phong hiển thánh năm 1988, trong đó có những vị mà ba đền thánh của giáo phận nhận làm đấng bảo trợ. |
| Tháng Năm và tháng Mười | Tháng Hoa và tháng Mân Côi | Hai tháng kính Đức Mẹ, có dâng hoa và lần chuỗi Mân Côi, là nếp chung của các xứ trong giáo phận. |
Ngoài lịch chung, giáo phận có ba đền thánh giữ vai trò trung tâm hành hương, mỗi đền kính một vị tử đạo người Việt đã được tôn phong hiển thánh, gồm đền thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh ở giáo xứ Trinh Hà, đền thánh Phaolô Nguyễn Ngân ở giáo xứ Yên Khánh và đền thánh Giacôbê Đỗ Mai Năm ở giáo xứ Kẻ Bền. Thư viện ghi các vị ở mức tôn kính và nơi tôn kính, không kể lại diễn biến, vì phần thuộc về thư viện này là phần thờ tự.
Một nếp nữa là chầu lượt, phiên chầu Thánh Thể luân phiên giữa các giáo xứ, mỗi xứ một dịp trong năm. Với các xứ ven biển như vùng Ba Làng, chầu lượt là dịp thuyền về bến sớm và cả làng nghỉ một ngày.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 232A đường Trường Thi, phường Hạc Thành (phường Trường Thi cũ), tỉnh Thanh Hóa
- Đường tới
- Nhà thờ ở số 232A đường Trường Thi, phường Hạc Thành (phường Trường Thi cũ), tỉnh Thanh Hóa, nằm ngay trong khu trung tâm thành phố Thanh Hóa cũ. Tòa giám mục ở số 50 đường Nguyễn Trường Tộ gần đó.
- Toạ độ
- 19.8138, 105.7786
Đây là nhà thờ chính tòa đang hoạt động chứ không phải điểm tham quan, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo. Khách tới cần ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, đi nhẹ nói khẽ, không đi lại hay chụp ảnh ở khu cung thánh, phần đặt bàn thờ, nhà tạm và ngai tòa giám mục. Nếu tới đúng lúc đang có thánh lễ, xin quý vị ngồi phía cuối nhà thờ và giữ yên lặng. Nhà thờ nằm sát mặt phố nên lối vào hẹp, xin để xe đúng chỗ giáo xứ chỉ dẫn.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nhà thờ chính tòa Thanh Hóa
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Nhà thờ chính tòa Thanh Hóa dâng kính ai
Dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội), mừng lễ bổn mạng vào ngày 8 tháng 12 dương lịch, trùng với bổn mạng của cả giáo phận Thanh Hóa. Một số trang du lịch chỉ chép kích thước công trình và tên quả chuông lớn là Thánh Anna (Sainte Anne) mà bỏ sót tước hiệu này.
Nhà thờ chính tòa Thanh Hóa xây năm nào
Khởi công năm 1926 và khánh thành năm 1930, do linh mục Bourlet (tên Việt là Độ, quen gọi là cố Độ) đứng ra dựng. Công trình có trước giáo phận hai năm, đến ngày 7 tháng 5 năm 1932 giáo phận Thanh Hóa được lập và ngôi nhà thờ này trở thành nhà thờ chính tòa từ đó.
Nhà thờ chính tòa Thanh Hóa rộng bao nhiêu
Thân nhà thờ chia mười gian, dài 44 mét, rộng 16 mét, cao 13 mét, tháp chuông cao 25 mét. Tỷ lệ dài gấp gần ba lần bề ngang cho một lòng nhà thờ hẹp và sâu, mắt người bước vào được dẫn thẳng về cung thánh.
Hai quả chuông ở nhà thờ Thanh Hóa từ đâu ra
Cả hai đều là quà tặng từ Pháp. Quả lớn mang tên Thánh Anna, tiếng Pháp là Sainte Anne, do trường Sainte Anne ở thành phố Montluçon tặng. Quả nhỏ do Hội Thừa sai Hải ngoại Paris tặng. Hai quả treo cùng tháp và đổ chung mỗi dịp lễ.
Giáo phận Thanh Hóa có bao nhiêu giáo xứ
Giáo phận lập ngày 7 tháng 5 năm 1932, trải trên tỉnh Thanh Hóa rộng khoảng 11.130 km2, chia thành 7 giáo hạt với 73 giáo xứ và khoảng 149.105 giáo dân theo thống kê ngày 31 tháng 12 năm 2017 (tăng lên trên 90 giáo xứ và hơn 160.000 giáo dân trong những năm gần đây). Giáo phận có ba đền thánh giữ vai trò trung tâm hành hương.