VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tổ đình Hội Khánh

Chùa Hội Khánh, Hội Khánh tự

Ngôi tổ đình Lâm Tế gần ba trăm năm tuổi ở Thủ Dầu Một, nơi mười đời trụ trì nối nhau giữ một chánh điện gỗ và một bộ ván khắc kinh.

Khai sơn
1741
Thiền sư Đại Ngạn, năm Cảnh Hưng thứ 2
Chánh điện
92 cột gỗ
gần trăm pho tượng gỗ mít thếp vàng
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 7 tháng 1 năm 1993

Đi vào con đường mang chính tên chùa ở trung tâm cũ Thủ Dầu Một, quý vị sẽ thấy trước hết một pho tượng Phật nằm khổng lồ đặt trên mái chùa, dài hơn năm mươi mét, nghiêng mình về một phía. Nhưng bước qua cổng, vào trong chánh điện, không khí đổi hẳn. Ánh sáng thấp, những hàng cột gỗ sẫm màu đứng dày, và trên các bệ thờ là gần trăm pho tượng gỗ mít thếp vàng, gương mặt đã mòn nhẵn theo khói hương hơn một thế kỷ.

Pho tượng lớn trên mái chùa mới khánh thành năm 2010. Cái cổ của nơi này nằm trong gian điện gỗ kia. Đây là Tổ đình Hội Khánh, ngôi chùa Lâm Tế do Thiền sư Đại Ngạn khai sơn năm 1741, và là nơi mười đời trụ trì đã nối nhau suốt gần ba thế kỷ. Người trong nhà Phật ở đất Thủ gọi nơi đây là tổ đình vì mạch nối ấy chưa từng đứt.

Tổ đình Hội Khánh
Tổ đình Hội Khánh. Ảnh: Nhoxleminhtien, giấy phép CC BY 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IMười đời trụ trì của một tổ đình Lâm Tế

Hội Khánh thuộc Thiền phái Lâm Tế, dòng thiền đông chùa nhất ở Nam Bộ, truyền vào Đàng Trong từ cuối thế kỷ 17 rồi chia thành nhiều chi phái. Theo báo Giác Ngộ, Tổ khai sơn Đại Ngạn (hiệu Từ Tấn) thuộc đời thứ 37 dòng Liễu Quán, vị trụ trì đời thứ ba là Hòa thượng Toàn Tánh - Chánh Đắc thuộc đời thứ 37 dòng Chúc Thánh, còn vị trụ trì đời thứ mười hiện nay là Hòa thượng Nhựt Minh - Huệ Thông thuộc đời thứ 41 dòng Lâm Tế Gia Phổ. Sự giao thoa giữa các chi Liễu Quán, Chúc Thánh và Lâm Tế Gia Phổ qua mười đời trụ trì tại cùng một ngôi tổ đình là nét lịch sử đáng chú ý của Phật giáo đất Thủ.

Danh sách mười đời trụ trì từ năm 1741 tới nay được cả Giác Ngộ và Phật Sự Online ghi nhận, chỉ khác nhau ở mốc năm chuyển giao của ba đời đầu. Một ngôi chùa được gọi là tổ đình không phải vì nó lớn mà vì mạch trụ trì ở đó liên tục, đời sau nhận chùa từ tay đời trước, và các chùa trong vùng lần về đây khi kể gốc. Mười đời không gián đoạn trong gần ba trăm năm là thứ làm nên chữ tổ đình của Hội Khánh.

Mười đời trụ trì tại Tổ đình Hội Khánh. Ba đời đầu ghi kèm hai mốc niên đại theo Giác Ngộ và Phật Sự Online. Nguồn: Giác Ngộ và Phật Sự Online.
ĐờiVị trụ trì và dòng pháiNăm trụ trì
1Thiền sư Đại Ngạn, hiệu Từ Tấn, khai sơn (đời 37 dòng Liễu Quán theo Giác Ngộ)1741 tới 1812 (Giác Ngộ) hoặc 1741 tới 1788 (Phật Sự Online)
2Minh Huệ Chân Kính1812 tới 1839 (Giác Ngộ) hoặc 1788 tới 1815 (Phật Sự Online)
3Toàn Tánh Chánh Đắc (đời 37 dòng Chúc Thánh theo Giác Ngộ)1839 tới 1869 (Giác Ngộ) hoặc 1815 tới 1869 (Phật Sự Online)
4Chương Đắc Trí Tập1869 tới 1884
5Ấn Long Thiện Quới1884 tới 1906
6Chơn Thinh Từ Văn1906 tới 1931
7Ấn Bửu Thiện Quới1931 tới 1941
8Thị Huê Thiện Hương1941 tới 1971
9Đồng Bửu Quảng Viên1971 tới 1988
10Nhựt Minh Huệ Thông (đời 41 dòng Lâm Tế Gia Phổ theo Giác Ngộ)từ 1988
Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa nhà thiền, thứ được truyền từ thầy sang trò là tâm ấn, sự xác nhận rằng người trò đã thấy được điều thầy thấy. Ngôi chùa chỉ là nơi mạch ấy dừng lại lâu nhất. Vì vậy trong các tổ đình Lâm Tế, gian thờ quan trọng không phải chánh điện mà là nhà Tổ, nơi bài vị các đời trụ trì xếp theo thứ tự. Đứng trước hàng bài vị ấy là đứng trước cả phả hệ của chùa.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người thấy một ngôi tổ đình Lâm Tế thì nghĩ cả mười đời trụ trì đều theo chung một bài kệ truyền thừa duy nhất. Tư liệu của báo Giác Ngộ ở Hội Khánh cho thấy điều ngược lại khi Tổ khai sơn Đại Ngạn thuộc dòng Liễu Quán, Tổ Chánh Đắc đời thứ ba thuộc dòng Chúc Thánh, còn vị trụ trì đời thứ mười thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ. Ở các chùa cổ Nam Bộ, việc truyền ngôi trụ trì đôi khi trao cho bậc cao tăng đủ đức hạnh thuộc chi Lâm Tế khác, nên các chữ đầu pháp danh như Đại, Minh, Toàn, Chương, Ấn, Chơn, Thị, Đồng, Nhựt không nằm trên cùng một bài kệ. Chữ Hán ở đầu trang là do thư viện viết theo âm Hán Việt của tên chùa.

IITừ ngọn đồi xuống chân đồi

Chùa khai sơn năm Tân Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2 đời vua Lê Hiển Tông, tức năm 1741, trên một ngọn đồi cao. Theo Cục Di sản Văn hóa và trang Chùa Xá Lợi, năm 1861 khi quân Pháp đánh chiếm Thủ Dầu Một, ngôi chùa cổ trên đồi bị đốt phá thiêu hủy trong chiến sự (còn báo Giác Ngộ chỉ ghi chùa cũ hư hỏng nặng). Hòa thượng Toàn Tánh Chánh Đắc bèn dời chùa xuống chân đồi ở phía bắc (hoặc đông bắc), cách nền cũ chừng một trăm mét, khởi công dựng lại từ năm 1861 và hoàn thành vào năm 1868. Ngôi chùa quý vị thấy hôm nay đứng trên nền tái thiết năm 1868 ấy.

  • 1741Khai sơn trên đồi
    Thiền sư Đại Ngạn, hiệu Từ Tấn, khai sơn chùa năm Tân Dậu, Cảnh Hưng thứ 2, trên một ngọn đồi cao.
  • 1861 tới 1868Dời xuống chân đồi
    Chùa cũ trên đồi bị thiêu hủy năm 1861, Hòa thượng Toàn Tánh Chánh Đắc dời chùa xuống chân đồi cách nền cũ chừng một trăm mét và tái thiết hoàn tất năm 1868.
  • 1883Đúc đại hồng chung
    Quả chuông lớn đúc năm Quý Mùi dưới thời trụ trì đời thứ tư là Hòa thượng Chương Đắc Trí Tập, do một bổn đạo trong vùng hiến cúng, theo trang Chùa Xá Lợi và Phật Sự Online.
  • 1885Khắc mộc bản in kinh
    Trụ trì đời thứ năm là Hòa thượng Ấn Long Thiện Quới cho khắc bộ ván in kinh năm Ất Dậu. Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi đây là bộ mộc bản sớm nhất ở Thủ Dầu Một.
  • 1917Dựng giảng đường và đông lang
    Trụ trì đời thứ sáu là Hòa thượng Chơn Thinh Từ Văn cho dựng lại giảng đường và dãy đông lang. Năm 1920 ngài sang Marseille (Pháp) thuyết pháp và góp công lập chùa Hội Khánh tại Pháp, theo Giác Ngộ.
  • 1923 tới 1926Cụ Nguyễn Sinh Sắc lưu trú
    Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc từng lưu trú tại chùa, xem mạch bốc thuốc và đàm đạo cùng Hòa thượng Từ Văn và cụ Tú Cúc Phan Đình Viện, theo Cục Di sản Văn hóa.
  • 1990 tới 1992Đại trùng tu
    Giác Ngộ ghi chùa được trùng tu toàn bộ trong những năm này, sau lần sửa tây lang năm 1984.
  • 1993Di tích quốc gia
    Được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 7 tháng 1 năm 1993.
  • 2010Khánh thành tượng Phật nhập Niết Bàn
    Tượng Phật nhập Niết Bàn dài 52 mét trên mái chùa khánh thành. Nguồn vênh về ngày, chi tiết nêu dưới.
Theo sử liệu

Về các lần trùng tu, hai nguồn liệt kê khác nhau. Giác Ngộ ghi các năm 1917, 1984 và đợt lớn 1990 tới 1992. Trang Chùa Xá Lợi ghi các năm 1891, 1906, 1917, 1991 và 1999, thêm việc phục chế cổng chùa năm 2004 và dựng vườn tháp chín ngôi năm 2006. Hai danh sách chỉ trùng ở năm 1917 và gần nhau ở đợt đầu thập niên 1990, thư viện ghi cả hai.

Về ngày khánh thành tượng Phật nhập Niết Bàn trên mái chùa, Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi ngày 22 tháng 1 năm 2010, còn trang Chùa Xá Lợi và Phật Sự Online ghi ngày Rằm tháng Hai năm Canh Dần, tức 30 tháng 3 năm 2010. Rằm tháng Hai âm lịch là ngày vía Đức Phật nhập Niết Bàn, nên thư viện ghi đủ cả hai mốc.

Ngoài việc thờ tự, Hội Khánh còn là nơi khắc in kinh. Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi bộ ván năm 1885 đã được dùng để in các kinh A Di Đà, Hồng Danh, Vu Lan, Phổ Môn cho tăng ni và Phật tử trong vùng. Năm 1995 chùa mở trường Phật học cho tăng ni, tiếp nối vai trò nơi học đạo của một tổ đình.

IIIChánh điện gỗ và gần trăm pho tượng

Chùa dàn theo lối quen của chùa cổ Nam Bộ với tiền điện, chánh điện, giảng đường nối nhau trên một trục, hai bên là đông lang và tây lang sắp đôi nằm dọc, tổng diện tích khu điện đường rộng chừng 700 mét vuông. Trang Chùa Xá Lợi ghi toàn bộ kết cấu dựng trên 92 cột gỗ quý theo lối trùng thềm trùng lương (trùng thiềm điệp ốc), tức các nếp nhà nối liền nhau với mái hiên chồng lớp và hệ xà nối tiếp nhau. Trong điện có ba tấm bao lam chạm trổ đề tài tứ linh, tứ quý, cửu long và thập bát La Hán sơn thếp vàng rực rỡ theo Giác Ngộ, còn ngoài sân chùa có bốn cây dầu cổ thụ trồng hơn một thế kỷ.

Thứ quý nhất trong chánh điện là gần trăm pho tượng gỗ mít sơn son thếp vàng, gồm tượng Phật Thích Ca, Bồ Tát Quán Thế Âm, Địa Tạng, các vị La Hán và Thập Điện Minh Vương. Bộ mười tám vị La Hán, mỗi pho cao chừng 0,86 mét theo Giác Ngộ, cùng hai bức phù điêu chạm mười tám vị La Hán và Bồ Tát được tạo tác vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Mỗi vị một dáng, một nét mặt riêng.

Chánh điện 92 cột

Khu chánh điện, giảng đường và đông tây lang rộng 700 mét vuông dựng trên 92 cột gỗ quý theo lối trùng thềm trùng lương, bên trong có ba tấm bao lam và hai bức phù điêu chạm mười tám vị La Hán.

Tượng gỗ mít

Gần trăm pho, sơn son thếp vàng, trong đó có bộ mười tám La Hán cao chừng 0,86 mét tạc cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 và bộ Thập Điện Minh Vương.

Đại hồng chung

Đúc năm Quý Mùi 1883 thời Hòa thượng Chương Đắc Trí Tập, do một bổn đạo trong vùng hiến cúng theo trang Chùa Xá Lợi.

Mộc bản in kinh

Bộ ván khắc năm Ất Dậu 1885 thời Hòa thượng Ấn Long Thiện Quới, dùng in các kinh tụng phổ biến. Chốn Thiêng ghi chùa còn giữ mộc bản hơn 120 năm tuổi.

Tượng Phật nhập Niết Bàn trên mái chùa

Dài 52 mét, đặt trên mái khu nhà Tổ và giảng đường ở độ cao 24 mét so với mặt đất, dưới chân có 20 bức phù điêu cuộc đời Đức Phật. Được Tổ chức Kỷ lục châu Á ghi nhận là ngôi chùa có tượng Phật nhập Niết Bàn trên mái chùa dài nhất châu Á.

Tháp mới và vườn tháp Tổ

Vườn tháp chín ngôi của chư Tổ trùng tu năm 2006 và ngọn bảo tháp nhiều tầng dựng năm 2007 (Chùa Xá Lợi ghi 7 tầng cao 27 mét, Giác Ngộ ghi 8 tầng cao 30 mét).

Theo sử liệu

Hai công trình mới nhất cũng là hai chỗ nguồn vênh nhau nhiều nhất. Ngọn tháp dựng năm 2007 được trang Chùa Xá Lợi và Chốn Thiêng ghi là bảy tầng, cao 27 mét, còn Giác Ngộ ghi tám tầng, cao 30 mét. Pho tượng Phật nhập Niết Bàn trên mái chùa thì mọi nguồn cùng ghi dài 52 mét, nhưng chiều cao được ghi là 12 mét theo trang Chùa Xá Lợi, Phật Sự Online và Chốn Thiêng, hoặc 22 mét theo Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo. Chốn Thiêng có ghi phần công trình tầng trệt dưới bệ đặt tượng cao 22 mét, và trang Chùa Xá Lợi cùng Phật Sự Online ghi tượng an vị ở độ cao 24 mét so với mặt đất, nên con số 22 mét nhiều khả năng là chiều cao của khối nhà bên dưới chứ không phải riêng thân tượng. Thư viện ghi đủ cả hai con số để quý vị đối chiếu.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người biết Hội Khánh qua pho tượng Phật nằm trên mái và nghĩ đó là di sản chính của chùa. Không phải. Tượng khánh thành năm 2010, còn quyết định xếp hạng di tích quốc gia có từ năm 1993, tức mười bảy năm trước khi có tượng. Giá trị di tích nằm ở chánh điện gỗ, bộ tượng gỗ mít, quả chuông năm 1883 và bộ mộc bản năm 1885. Quý vị đến Hội Khánh nên dành thời gian cho gian điện cũ nhiều hơn cho khu vực mới.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay văn bản của chùa. Các nguồn thư viện đọc được chỉ ghi chùa khai sơn trên một ngọn đồi rồi dời xuống chân đồi sau biến cố năm 1861, không ghi Tổ Đại Ngạn hay Hòa thượng Chánh Đắc chọn đất theo phép nào, cũng không ghi hướng chánh điện. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt đâu là tư liệu, đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Thủ Dầu Một nằm trên vùng đồi gò thấp ở bờ bắc sông Sài Gòn, nơi đất cao dần từ bờ sông lên. Ngôi chùa đầu tiên năm 1741 đứng trên đỉnh một ngọn đồi. Trong con mắt cổ truyền, đỉnh đồi là chỗ thoáng và tĩnh nhưng cũng là chỗ hứng gió, khí dễ tán. Khi ngôi chùa cổ trên đồi bị thiêu hủy năm 1861 và Hòa thượng Chánh Đắc dời chùa xuống chân đồi tái thiết hoàn tất năm 1868, chùa đổi từ thế đứng trên đồi sang thế tựa lưng vào đồi. Ngọn đồi cũ trở thành chỗ dựa phía sau, cái mà sách phong thủy gọi là hậu chẩm, còn đất trước mặt mở dần xuống phía thấp.

Xét theo lối cổ, chỗ mới ở chân đồi hợp với một ngôi chùa lâu dài hơn chỗ cũ trên đỉnh đồi vì vẫn giữ được cái cao của đồi làm điểm tựa, lại gần người đi lễ hơn và ít chịu gió hơn. Khoảng cách chừng một trăm mét giữa hai nền là khoảng cách của một bước dời vừa đủ để đổi thế đất mà không rời vùng đất khai sơn.

Pho tượng Phật nằm dựng năm 2010 đặt trên mái khu nhà Tổ và giảng đường, dài năm mươi hai mét. Đọc theo lối cổ, một khối dài nằm ngang trên cao giống một dãy núi thấp, tức thêm cho khuôn viên một lớp án chắn. Đó là lớp nghĩa người đời nay thêm vào, không phải của người khai sơn.

Cách chùa chừng 520 mét là nhà thờ chính tòa Phú Cường, chừng 710 mét là chùa Bà Thiên Hậu Thủ Dầu Một. Ba nơi thờ tự của ba truyền thống khác nhau đứng gần nhau trên cùng một vùng gò, đó là nét của một đô thị ven sông đã nhiều đời cùng sống.

VLễ và nếp tu trong năm

Là một tổ đình Lâm Tế, Hội Khánh giữ các lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông, cùng các ngày giỗ Tổ của các đời trụ trì. Các nguồn thư viện đọc được không ghi ngày giỗ cụ thể của Tổ khai sơn Đại Ngạn, nên thư viện không ghi ngày ấy. Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi chùa là nơi tổ chức lễ Phật Đản, lễ Vu Lan và mùa an cư kiết hạ của chư tăng trong vùng.

Các lễ chính trong năm tại chùa, tính theo âm lịch. Ngày giỗ các đời Tổ chưa tra được nguồn nên không ghi. Nguồn: Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo, trang Chùa Xá Lợi, Phật Sự Online, nếp chung của chùa Bắc Tông..
Ngày âm lịchLễNội dung
Rằm tháng 2Vía Đức Phật nhập Niết BànNgày nhớ Đức Phật nhập Niết Bàn theo nếp chung Bắc Tông. Ở Hội Khánh ngày này gắn với pho tượng Phật nằm trên mái chùa, trang Chùa Xá Lợi và Phật Sự Online ghi tượng khánh thành đúng ngày Rằm tháng Hai năm Canh Dần (2010).
Rằm tháng 4Phật ĐảnLễ mừng ngày Đức Phật đản sinh, được Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo nhắc là lễ lớn tại chùa.
Từ rằm tháng 4 tới rằm tháng 7An cư kiết hạBa tháng chư tăng ở yên một chỗ tu học. Chùa là nơi an cư của chư tăng trong vùng theo Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo.
Rằm tháng 7Vu LanLễ báo hiếu cha mẹ, cũng là ngày tự tứ kết thúc mùa an cư.

Ở một tổ đình, mùa an cư là lúc chư tăng quanh vùng về ở chung ba tháng trước hàng bài vị mười đời trụ trì, giữ cho Hội Khánh vai một nơi học đạo chứ không chỉ là di tích.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 29 đường Chùa Hội Khánh, phường Thủ Dầu Một (phường Phú Cường cũ, thành phố Thủ Dầu Một cũ, tỉnh Bình Dương cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Chùa ở số 29 đường Chùa Hội Khánh (Chốn Thiêng và nhiều nguồn cũ ghi số 35 đường Yersin), phường Thủ Dầu Một, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc phường Phú Cường của thành phố Thủ Dầu Một và tỉnh Bình Dương cũ. Nhà thờ Phú Cường cách chừng 520 mét.
Toạ độ
10.981, 106.6588
Khi tới nơi

Hội Khánh là tổ đình đang có tăng chúng tu học, lệ nhà chùa là lệ phải theo. Quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và nhà Tổ, đi nhẹ nói khẽ trong gian điện gỗ. Các pho tượng gỗ mít và mộc bản là hiện vật cổ, xin không chạm tay, không tựa vào cột. Muốn xem mộc bản thì hỏi quý thầy trong chùa trước.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tổ đình Hội Khánh

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Hội Khánh Bình Dương thuộc dòng nào

Chùa thuộc Thiền phái Lâm Tế. Theo báo Giác Ngộ, Tổ khai sơn Đại Ngạn (Từ Tấn) thuộc đời thứ 37 dòng Liễu Quán, vị trụ trì đời thứ ba là Hòa thượng Toàn Tánh Chánh Đắc thuộc đời thứ 37 dòng Chúc Thánh, còn vị trụ trì đời thứ mười hiện nay là Hòa thượng Nhựt Minh Huệ Thông thuộc đời thứ 41 dòng Lâm Tế Gia Phổ.

Chùa Hội Khánh được xây năm nào

Thiền sư Đại Ngạn khai sơn năm Tân Dậu, Cảnh Hưng thứ 2, tức năm 1741, trên một ngọn đồi cao. Năm 1861 chùa cũ trên đồi bị thiêu hủy trong chiến sự, Hòa thượng Toàn Tánh Chánh Đắc dời chùa xuống chân đồi cách nền cũ chừng một trăm mét và tái thiết hoàn tất năm 1868. Chùa hiện nay đứng trên nền năm 1868.

Tượng Phật nằm chùa Hội Khánh dài bao nhiêu mét

Tượng dài 52 mét, đặt trên mái chùa ở độ cao 24 mét so với mặt đất, được Tổ chức Kỷ lục châu Á ghi nhận là ngôi chùa có tượng Phật nhập Niết Bàn trên mái chùa dài nhất châu Á. Chiều cao tượng được trang Chùa Xá Lợi và Phật Sự Online ghi là 12 mét (Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi 22 mét, trùng với chiều cao tầng bệ bên dưới theo Chốn Thiêng). Tượng khánh thành năm 2010.

Chùa Hội Khánh có gì cổ

Chánh điện 92 cột gỗ quý với ba tấm bao lam chạm trổ, gần trăm pho tượng gỗ mít sơn son thếp vàng trong đó có bộ mười tám La Hán cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, đại hồng chung đúc năm 1883 và bộ mộc bản in kinh khắc năm 1885. Chùa được xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1993.

Chùa Hội Khánh có phải di tích quốc gia không

Có. Chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 7 tháng 1 năm 1993. Giá trị được xếp hạng nằm ở chánh điện gỗ và các hiện vật cổ, có trước pho tượng Phật nằm mười bảy năm.

›Đọc Tiếp