VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tổ đình Hội Khánh

Chùa Hội Khánh, Hội Khánh tự

Ngôi tổ đình Lâm Tế gần ba trăm năm tuổi ở Thủ Dầu Một, nơi mười đời trụ trì nối nhau giữ một chánh điện gỗ và một bộ ván khắc kinh.

Khai sơn
1741
Thiền sư Đại Ngạn, năm Cảnh Hưng thứ 2
Chánh điện
92 cột gỗ
gần trăm pho tượng gỗ mít thếp vàng
Xếp hạng
Di tích quốc gia
công nhận ngày 7 tháng 1 năm 1993

Đi vào con đường mang chính tên chùa ở trung tâm cũ Thủ Dầu Một, quý vị sẽ thấy trước hết một pho tượng Phật nằm khổng lồ đặt trên cao, dài hơn năm mươi mét, nghiêng mình về một phía. Nhưng bước qua cổng, vào trong chánh điện, không khí đổi hẳn. Ánh sáng thấp, những hàng cột gỗ sẫm màu đứng dày, và trên các bệ thờ là gần trăm pho tượng gỗ mít thếp vàng, gương mặt đã mòn nhẵn theo khói hương hơn một thế kỷ.

Pho tượng lớn ngoài sân mới khánh thành năm 2010. Cái cổ của nơi này nằm trong gian điện gỗ kia. Đây là Tổ đình Hội Khánh, ngôi chùa Lâm Tế do Thiền sư Đại Ngạn khai sơn năm 1741, và là nơi mười đời trụ trì đã nối nhau suốt gần ba thế kỷ. Người trong nhà Phật ở đất Thủ gọi nơi đây là tổ đình vì mạch nối ấy chưa từng đứt.

IMười Đời Trụ Trì Của Một Tổ Đình Lâm Tế

Hội Khánh thuộc Thiền phái Lâm Tế, theo Giác Ngộ và Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo. Lâm Tế là dòng thiền đông chùa nhất ở Nam Bộ, truyền vào Đàng Trong từ cuối thế kỷ 17 rồi chia thành nhiều chi, mỗi chi nhận ra nhau bằng một bài kệ đặt pháp danh. Ở Hội Khánh, chúng tôi chưa tra được nguồn nào ghi rõ Tổ Đại Ngạn thuộc chi Lâm Tế nào, ở đời thứ mấy, và cũng chưa tìm được bài kệ truyền thừa có nguồn của chùa. Thư viện vì vậy chỉ ghi Lâm Tế, không suy ra chi từ chữ đầu pháp danh của các đời.

Điều chắc chắn là danh sách trụ trì. Trang Phật Sự Online chép đủ mười đời, từ vị khai sơn năm 1741 tới vị trụ trì hiện nay. Một ngôi chùa được gọi là tổ đình không phải vì nó lớn mà vì mạch trụ trì ở đó liên tục, đời sau nhận chùa từ tay đời trước, và các chùa trong vùng lần về đây khi kể gốc. Mười đời không gián đoạn trong gần ba trăm năm là thứ làm nên chữ tổ đình của Hội Khánh.

Các đời trụ trì tại Hội Khánh. Thư viện chỉ ghi tên và năm trụ trì. Nguồn: Phật Sự Online.
ĐờiVị trụ trìNăm trụ trì
1Thiền sư Đại Ngạn, hiệu Từ Tấn, khai sơn1741 tới 1788
2Minh Huệ Chân Kính1788 tới 1815
3Toàn Tánh Chánh Đắc1815 tới 1869
4Chương Đắc Trí Tập1869 tới 1884
5Ấn Long Thiện Quới1884 tới 1906
6Chơn Thinh Từ Văn1906 tới 1931
7Ấn Bửu Thiện Quới1931 tới 1941
8Thị Huê Thiện Hương1941 tới 1971
9Đồng Bửu Quảng Viên1971 tới 1988
10Huệ Thông Nhật Minhtừ 1988
Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa nhà thiền, thứ được truyền từ thầy sang trò là tâm ấn, sự xác nhận rằng người trò đã thấy được điều thầy thấy. Ngôi chùa chỉ là nơi mạch ấy dừng lại lâu nhất. Vì vậy trong các tổ đình Lâm Tế, gian thờ quan trọng không phải chánh điện mà là nhà Tổ, nơi bài vị các đời trụ trì xếp theo thứ tự. Đứng trước hàng bài vị ấy là đứng trước cả phả hệ của chùa.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người thấy các đời trụ trì mang những chữ như Minh, Chánh, Ấn, Chơn, Thị, Đồng rồi tự đối chiếu với một bài kệ quen để đoán chùa thuộc chi nào. Cách đoán ấy dễ sai. Chữ đầu pháp danh đôi khi theo kệ của thầy thế độ, đôi khi theo kệ của thầy truyền giới, và các đời trụ trì của một chùa không nhất thiết cùng một thầy truyền. Không có văn bản ghi rõ thì chưa thể xếp chi. Thư viện chỉ ghi Hội Khánh là chùa Lâm Tế, đúng như nguồn ghi. Chữ Hán ở đầu trang cũng là do thư viện suy từ âm Hán Việt của tên chùa, chưa đối chiếu với hoành phi.

IITừ Ngọn Đồi Xuống Chân Đồi

Chùa khai sơn năm Tân Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2, tức năm 1741, trên một ngọn đồi cao. Hơn một trăm năm sau, chùa cũ hư hỏng nặng, và năm 1868 Hòa thượng Toàn Tánh Chánh Đắc dời chùa xuống chân đồi, cách nền cũ chừng một trăm mét, rồi dựng lại. Ngôi chùa quý vị thấy hôm nay đứng trên nền năm 1868, không phải nền năm 1741.

  • 1741Khai sơn trên đồi
    Thiền sư Đại Ngạn, hiệu Từ Tấn, khai sơn chùa năm Tân Dậu, Cảnh Hưng thứ 2, trên một ngọn đồi cao.
  • 1868Dời xuống chân đồi
    Hòa thượng Toàn Tánh Chánh Đắc dời chùa xuống chân đồi, cách nền cũ chừng một trăm mét, và dựng lại.
  • 1883Đúc đại hồng chung
    Quả chuông lớn đúc năm Quý Mùi, do một bổn đạo trong vùng hiến cúng, theo trang Chùa Xá Lợi.
  • 1885Khắc mộc bản in kinh
    Hòa thượng Ấn Long cho khắc bộ ván in kinh năm Ất Dậu. Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi đây là bộ mộc bản sớm nhất ở Thủ Dầu Một.
  • 1917Dựng giảng đường và đông lang
    Giác Ngộ ghi năm này dựng lại giảng đường và dãy đông lang.
  • 1990 tới 1992Đại trùng tu
    Giác Ngộ ghi chùa được trùng tu toàn bộ trong những năm này, sau lần sửa tây lang năm 1984.
  • 1993Di tích quốc gia
    Bộ Văn hóa Thông tin công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 7 tháng 1 năm 1993.
  • 2010Khánh thành tượng Phật nhập Niết Bàn
    Tượng dài 52 mét trong khuôn viên khánh thành. Nguồn vênh về ngày, chi tiết nêu dưới.
Theo sử liệu

Về các lần trùng tu, hai nguồn liệt kê khác nhau. Giác Ngộ ghi các năm 1917, 1984 và đợt lớn 1990 tới 1992. Trang Chùa Xá Lợi ghi các năm 1891, 1906, 1917, 19911999, thêm việc sửa cổng năm 2004 và vườn tháp chín ngôi năm 2006. Hai danh sách chỉ trùng ở năm 1917 và gần nhau ở đợt đầu thập niên 1990, chúng tôi ghi cả hai.

Về ngày khánh thành tượng Phật nhập Niết Bàn, bảng dữ kiện của thư viện và Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi ngày 22 tháng 1 năm 2010, còn trang Chùa Xá Lợi ghi ngày Rằm tháng Hai năm Canh Dần, tức 30 tháng 3 năm 2010. Rằm tháng Hai âm lịch là ngày vía Đức Phật nhập Niết Bàn, nên ngày sau có lý do riêng để được chọn, nhưng chúng tôi không có văn bản nào tách được hai mốc ấy, nên ghi cả hai.

Ngoài việc thờ tự, Hội Khánh còn là nơi khắc in kinh. Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi bộ ván năm 1885 đã được dùng để in các kinh A Di Đà, Hồng Danh, Vu Lan, Phổ Môn cho tăng ni và Phật tử trong vùng. Năm 1995 chùa mở trường Phật học cho tăng ni, tiếp nối vai trò nơi học đạo của một tổ đình.

IIIChánh Điện Gỗ Và Gần Trăm Pho Tượng

Chùa dàn theo lối quen của chùa cổ Nam Bộ: tiền điện, chánh điện, giảng đường nối nhau trên một trục, hai bên là đông langtây lang sắp đôi nằm dọc. Trang Chùa Xá Lợi ghi toàn bộ dựng trên 92 cột gỗ quý, theo lối trùng thềm trùng lương, tức nền nhiều cấp và hệ xà chồng nhiều lớp. Lối cột đôi như vậy là cách người thợ Nam Bộ dựng những gian thờ rộng mà vẫn thoáng, hợp với khí hậu nóng ẩm.

Thứ quý nhất trong chánh điện là gần trăm pho tượng gỗ mít sơn son thếp vàng, gồm tượng Phật, Bồ Tát, các vị La Hán và Thập Điện Minh Vương. Bộ mười tám vị La Hán, mỗi pho cao chừng 0,86 mét theo Giác Ngộ, được tạc vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Mỗi vị một dáng, một nét mặt riêng.

Chánh điện 92 cột

Hệ cột gỗ quý dựng theo lối cột đôi của chùa Nam Bộ, nền trùng thềm, xà trùng lương. Hai bức phù điêu chạm mười tám vị La Hán và Bồ Tát.

Tượng gỗ mít

Gần trăm pho, sơn son thếp vàng, trong đó có bộ mười tám La Hán cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 và bộ Thập Điện Minh Vương.

Đại hồng chung

Đúc năm Quý Mùi 1883, do một bổn đạo trong vùng hiến cúng theo trang Chùa Xá Lợi.

Mộc bản in kinh

Bộ ván khắc năm Ất Dậu 1885 thời Hòa thượng Ấn Long, dùng in các kinh tụng phổ biến. Chốn Thiêng ghi chùa còn giữ mộc bản hơn 120 năm tuổi.

Tượng Phật nhập Niết Bàn

Dài 52 mét, đặt trên cao trong khuôn viên, dưới chân có hai mươi bức phù điêu đời Đức Phật. Được Tổ chức Kỷ lục châu Á ghi nhận là tượng Phật nằm dài nhất châu Á.

Tháp mới

Dựng năm 2007. Số tầng và chiều cao nguồn ghi khác nhau, xem khối dưới.

Theo sử liệu

Hai công trình mới nhất cũng là hai chỗ nguồn vênh nhau nhiều nhất. Ngọn tháp dựng năm 2007 được trang Chùa Xá Lợi và Chốn Thiêng ghi là bảy tầng, cao 27 mét, còn Giác Ngộ ghi tám tầng, cao 30 mét. Pho tượng Phật nhập Niết Bàn thì mọi nguồn cùng ghi dài 52 mét, nhưng chiều cao được ghi là 12 mét theo trang Chùa Xá Lợi và Chốn Thiêng, hoặc 22 mét theo Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo. Chốn Thiêng có ghi phần bệ đặt tượng cao 22 mét, và trang Chùa Xá Lợi ghi tượng an vị ở độ cao 24 mét so với mặt đất, nên có thể con số 22 mét là của bệ chứ không phải của tượng. Đó chỉ là cách giải thích khả dĩ, chúng tôi ghi đủ cả hai con số.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người biết Hội Khánh qua pho tượng Phật nằm và nghĩ đó là di sản chính của chùa. Không phải. Tượng khánh thành năm 2010, còn quyết định công nhận di tích quốc gia có từ năm 1993, tức mười bảy năm trước khi có tượng. Giá trị di tích nằm ở chánh điện gỗ, bộ tượng gỗ mít, quả chuông năm 1883 và bộ mộc bản năm 1885. Quý vị đến Hội Khánh nên dành thời gian cho gian điện cũ nhiều hơn cho khoảng sân mới.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay văn bản của chùa. Các nguồn chúng tôi đọc được chỉ ghi chùa khai sơn trên một ngọn đồi rồi dời xuống chân đồi, không ghi Tổ Đại Ngạn hay Hòa thượng Chánh Đắc chọn đất theo phép nào, cũng không ghi hướng chánh điện. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt đâu là tư liệu, đâu là kiến giải.

Thế đất và hướng

Thủ Dầu Một nằm trên vùng đồi gò thấp ở bờ bắc sông Sài Gòn, nơi đất cao dần từ bờ sông lên. Ngôi chùa đầu tiên năm 1741 đứng trên đỉnh một ngọn đồi. Trong con mắt cổ truyền, đỉnh đồi là chỗ thoáng và tĩnh nhưng cũng là chỗ hứng gió, khí dễ tán. Khi Hòa thượng Chánh Đắc dời chùa xuống chân đồi năm 1868, chùa đổi từ thế đứng trên đồi sang thế tựa lưng vào đồi. Ngọn đồi cũ trở thành chỗ dựa phía sau, cái mà sách phong thủy gọi là hậu chẩm, còn đất trước mặt mở dần xuống phía thấp.

Nguồn chỉ ghi lý do dời chùa là nền cũ hư hỏng nặng. Nhưng xét theo lối cổ, chỗ mới hợp với một ngôi chùa hơn chỗ cũ: vẫn giữ được cái cao của đồi làm điểm tựa, lại gần người đi lễ hơn, ít chịu gió hơn. Khoảng cách chừng một trăm mét giữa hai nền là khoảng cách của một bước dời vừa đủ để đổi thế đất mà không rời vùng đất khai sơn.

Pho tượng Phật nằm dựng năm 2010 đặt trên cao trong khuôn viên, dài năm mươi hai mét. Đọc theo lối cổ, một khối dài nằm ngang trên cao giống một dãy núi thấp, tức thêm cho khuôn viên một lớp án chắn. Đó là lớp nghĩa người đời nay thêm vào, không phải của người khai sơn.

Cách chùa chừng 520 mét là nhà thờ chính tòa Phú Cường, chừng 710 mét là chùa Bà Thiên Hậu Thủ Dầu Một. Ba nơi thờ tự của ba truyền thống khác nhau đứng gần nhau trên cùng một vùng gò, đó là nét của một đô thị ven sông đã nhiều đời cùng sống.

VLễ Và Nếp Tu Trong Năm

Là một tổ đình Lâm Tế, Hội Khánh giữ các lễ chung của Phật Giáo Bắc Tông, cùng các ngày giỗ Tổ của các đời trụ trì. Các nguồn chúng tôi đọc được không ghi ngày giỗ của Tổ khai sơn Đại Ngạn, nên thư viện không ghi ngày ấy. Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi chùa là nơi tổ chức lễ Phật Đản, lễ Vu Lan và mùa an cư kiết hạ của chư tăng trong vùng.

Các lễ chính trong năm tại chùa, tính theo âm lịch. Ngày giỗ các đời Tổ chưa tra được nguồn nên không ghi. Nguồn: Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo, trang Chùa Xá Lợi, nếp chung của chùa Bắc Tông..
Ngày âm lịchLễNội dung
Rằm tháng 2Vía Đức Phật nhập Niết BànNgày nhớ Đức Phật nhập Niết Bàn theo nếp chung Bắc Tông. Ở Hội Khánh ngày này gắn với pho tượng Phật nằm, trang Chùa Xá Lợi ghi tượng khánh thành đúng ngày Rằm tháng Hai năm Canh Dần.
Rằm tháng 4Phật ĐảnLễ mừng ngày Đức Phật đản sinh, được Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo nhắc là lễ lớn tại chùa.
Từ rằm tháng 4 tới rằm tháng 7An cư kiết hạBa tháng chư tăng ở yên một chỗ tu học. Chùa là nơi an cư của chư tăng trong vùng theo Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo.
Rằm tháng 7Vu LanLễ báo hiếu cha mẹ, cũng là ngày tự tứ kết thúc mùa an cư.

Ở một tổ đình, mùa an cư là lúc chư tăng quanh vùng về ở chung ba tháng trước hàng bài vị mười đời trụ trì, giữ cho Hội Khánh vai một nơi học đạo chứ không chỉ là di tích.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 29 đường Chùa Hội Khánh, phường Thủ Dầu Một (phường Phú Cường cũ, thành phố Thủ Dầu Một cũ, tỉnh Bình Dương cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Chùa ở số 29 đường Chùa Hội Khánh, phường Thủ Dầu Một, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc phường Phú Cường của thành phố Thủ Dầu Một và tỉnh Bình Dương cũ. Chốn Thiêng ghi địa chỉ số 35 đường Yersin, có thể là lối ghi cũ. Nhà thờ Phú Cường cách chừng 520 mét.
Toạ độ
10.981, 106.6588
Khi tới nơi

Hội Khánh là tổ đình đang có tăng chúng tu học, lệ nhà chùa là lệ phải theo. Quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và nhà Tổ, đi nhẹ nói khẽ trong gian điện gỗ. Các pho tượng gỗ mít và mộc bản là hiện vật cổ, xin không chạm tay, không tựa vào cột. Muốn xem mộc bản thì hỏi quý thầy trong chùa trước.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tổ đình Hội Khánh

Contribute photos, information or video for Hoi Khanh Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Hội Khánh Bình Dương thuộc dòng nào

Chùa thuộc Thiền phái Lâm Tế, theo Giác Ngộ và Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo. Chưa có nguồn nào ghi rõ Tổ khai sơn Đại Ngạn thuộc chi Lâm Tế nào hay đời thứ mấy, nên thư viện chỉ ghi Lâm Tế, không suy ra chi từ pháp danh.

Chùa Hội Khánh được xây năm nào

Thiền sư Đại Ngạn khai sơn năm Tân Dậu, Cảnh Hưng thứ 2, tức năm 1741, trên một ngọn đồi. Năm 1868 Hòa thượng Toàn Tánh Chánh Đắc dời chùa xuống chân đồi, cách nền cũ chừng một trăm mét. Chùa hiện nay đứng trên nền năm 1868.

Tượng Phật nằm chùa Hội Khánh dài bao nhiêu mét

Tượng dài 52 mét, được Tổ chức Kỷ lục châu Á ghi nhận là tượng Phật nằm dài nhất châu Á. Chiều cao nguồn ghi khác nhau: 12 mét theo trang Chùa Xá Lợi và Chốn Thiêng, 22 mét theo Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo. Tượng khánh thành năm 2010.

Chùa Hội Khánh có gì cổ

Chánh điện 92 cột gỗ quý, gần trăm pho tượng gỗ mít sơn son thếp vàng trong đó có bộ mười tám La Hán cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, đại hồng chung đúc năm 1883 và bộ mộc bản in kinh khắc năm 1885. Chùa là di tích quốc gia từ năm 1993.

Chùa Hội Khánh có phải di tích quốc gia không

Có. Bộ Văn hóa Thông tin công nhận chùa là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 7 tháng 1 năm 1993. Giá trị được công nhận nằm ở chánh điện gỗ và các hiện vật cổ, có trước pho tượng Phật nằm mười bảy năm.

Đọc Tiếp