VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tổ đình Hưng Minh Tự

Chùa Hưng Minh, Hội quán Trung ương Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam

Chốn tổ của một hệ phái Phật Giáo không có tăng, nơi người tại gia vừa niệm Phật vừa bốc thuốc Nam cho người bệnh không lấy tiền.

Hệ phái lập
Năm 1934
do Tông sư Minh Trí
Tên Hưng Minh Tự
Từ năm 1958
tổ đình và hội quán trung ương
Phòng thuốc Nam
Hơn 100 người mỗi ngày
khám, bốc thuốc, châm cứu miễn phí

Buổi sáng trên đường Lý Chiêu Hoàng, trước cổng Hưng Minh Tự đã có người ngồi chờ, phần nhiều là người già và người lao động. Họ không tới lễ Phật. Họ tới phòng thuốc. Bên trong, những người mặc áo màu xám bắt mạch, kê đơn, cân từng thang thuốc Nam gói trong giấy báo cũ. Trong phòng thuốc có bàn thờ Thần Nông, người bệnh thắp hương ở đó trước khi nhận thuốc. Ở phía chánh điện, cùng lúc ấy, có tiếng niệm danh hiệu Phật A Di Đà.

Đây là Tổ đình Hưng Minh Tự, chốn tổ của Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam. Những người mặc áo xám kia không phải sư. Họ là cư sĩ, người tu tại gia, và cả hệ phái này không có tăng xuất gia trụ trì. Thư viện chưa có bài nào khác về hệ phái này, nên bài này nói kỹ hơn thường lệ về chỗ hệ phái khác với các dòng Phật Giáo quý vị đã quen.

Tổ đình Hưng Minh Tự
Tổ đình Hưng Minh Tự. Ảnh: Phan Ba at vi.wikipedia, giấy phép Public domain, nguồn Wikimedia Commons.

IHệ Phái Của Người Tu Tại Gia

Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam là một hệ phái Phật Giáo của cư sĩ tại gia tu pháp môn Tịnh Độ. Người lập là Đức Tông sư Minh Trí, thế danh Nguyễn Văn Bồng (báo Người Lao Động ghi Nguyễn Văn Bông), sinh năm Bính Tuất 1886 ở làng Tân Mỹ, tổng An Thạnh Thượng, tỉnh Sa Đéc, nay thuộc Đồng Tháp. Theo trang của hệ phái và lược sử ở Bích Tọa Đàm, từ năm 1911 ngài lấy nghề thuốc làm phương tiện cứu người, lược sử viết là thừa Nho hóa Y. Ngày 20 tháng 2 năm 1934 hội được cấp giấy phép số 619 với tên Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội, tới ngày 22 tháng 12 năm 1953 được công nhận danh xưng đầy đủ là Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam. Ngài viên tịch ngày 23 tháng 8 năm Mậu Tuất, tức năm 1958, thọ 73 tuổi.

Từ năm 1950, Tông sư chủ trương Phước Huệ song tu, tức tu Huệ bằng niệm Phật và học giáo lý, đồng thời tu Phước bằng việc làm có ích cho người khác mà cụ thể nhất là thuốc Nam. Từ đó, theo trang hệ phái, mỗi ngôi chùa của hệ phái đều có một phòng thuốc Nam miễn phí. Hưng Minh Tự là tổ đình và hội quán trung ương, nơi đặt mộ tháp cùng điện thờ Đức Tông sư, thờ chư tổ của hệ phái và tổ chức các đại lễ chung.

Tịnh Độ Cư Sĩ khác Tịnh Độ tông của tăng ở đâu

Bảng tóm nếp chung của hai bên, mỗi dòng đều có ngoại lệ. Nguồn: Trang của hệ phái, Đạo Phật Ngày Nay, và nếp chung của Tịnh Độ tông.
Điểm soTịnh Độ tông trong chùa của tăngTịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội
Người tuTăng ni xuất gia, sống trong chùaCư sĩ tại gia, có gia đình và nghề nghiệp
Người lo việc chùaVị tăng hay ni trụ trìCư sĩ trong hệ phái, không có tăng xuất gia trụ trì
Pháp tu chínhNiệm Phật A Di Đà cầu vãng sinh, ở Việt Nam thường song tu với thiền trong chùa Bắc TôngNiệm Phật, cộng thêm việc làm phước theo chủ trương Phước Huệ song tu
Sách học căn bảnBa bộ kinh Tịnh Độ gồm A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng ThọSáu bộ sách căn bản của hệ phái, mở đầu bằng Lễ bái Lục phương
Vị tổChư tổ Tịnh Độ từ Trung Hoa, khởi từ thế kỷ 4Tông sư Minh Trí, lập hội ở Nam Bộ năm 1934
Việc phước đặc trưngTùy từng chùaPhòng thuốc Nam và châm cứu miễn phí ở mỗi chùa
Theo giáo nghĩa

Tịnh Độ là pháp môn niệm danh hiệu Phật A Di Đà, nguyện khi mãn đời được sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc, nơi việc tu tiếp không còn bị cản trở. Vì chỉ cần lòng tin, lời nguyện và câu niệm Phật, pháp môn này từ xưa đã được coi là cửa dễ vào cho người bận việc đời. Tịnh Độ Cư Sĩ đi thêm một bước khi để người tại gia tự lo cả việc tu lẫn việc chùa mà không cần một tăng đoàn, và đặt việc làm phước ngang hàng với việc niệm Phật.

Cửa ngõ vào hệ phái là bộ Lễ bái Lục phương, đứng đầu sáu bộ sách căn bản. Tên sách lấy từ bài kinh Đức Phật dạy chàng trai Thi Ca La Việt, người mỗi sáng lạy sáu phương theo lời cha dặn, được Đức Phật giảng lại rằng lạy sáu phương là giữ đạo với sáu mối quan hệ gồm cha mẹ, thầy, vợ chồng, bạn bè, người giúp việc và bậc tu hành. Tông sư dùng bài học ấy làm bước đầu cho người bình dân. Năm bộ còn lại theo trang hệ phái là Phu Thê Ngôn Luận, Đạo Đức, Giới Luật, Phật Học Vấn Đáp và Phương Pháp Kiến Tánh.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người vào Hưng Minh Tự thấy người mặc áo xám lo việc chùa rồi gọi họ là thầy chùa, hoặc nghĩ đây là một chùa Lâm Tế như bao chùa Bắc Tông khác ở Chợ Lớn. Cả hai đều không đúng. Hệ phái không có tăng xuất gia trụ trì, không thuộc dòng Lâm Tế, và không có bài kệ truyền thừa nào để đặt pháp danh theo đời. Người trong hệ phái là cư sĩ, tín đồ và hội viên. Hai chữ Tịnh Độ trong tên cũng không có nghĩa hệ phái là một nhánh của Tịnh Độ tông trong chùa của tăng, vì đó là hai đường khác nhau cùng chung một pháp môn niệm Phật.

IITừ Hội Quán Đầu Tiên Tới Tổ Đình

Hội quán trung ương đầu tiên của hệ phái mang tên Tân Hưng Long, dựng trên khu đất do nữ điền chủ Quách Thị Mười hiến cúng ở Phú Định, Chợ Lớn. Sau khi Đức Tông sư Minh Trí viên tịch năm 1958 và an táng trong khuôn viên hội quán, nơi đây dựng thêm Liên Hoa Điện thờ ngài cùng dãy đông lang và mang tên Tổ đình Hưng Minh Tự. Các dãy nhà hiện nay dựng dần trong những năm kế đó, rồi được trùng tu lớn vào đầu thập niên 1990.

  • 1886Tông sư ra đời
    Tông sư Minh Trí, thế danh Nguyễn Văn Bồng, sinh năm Bính Tuất ở làng Tân Mỹ, Sa Đéc.
  • 1911Theo nghề thuốc
    Ngài lấy nghề thuốc làm phương tiện cứu người, gốc của phòng thuốc Nam ở mọi chùa của hệ phái về sau.
  • 1934Lập hội
    Ngày 20 tháng 2 năm 1934 được cấp giấy phép số 619 lập Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội. Năm ngài được suy tôn làm Tông sư, các nguồn ghi khác nhau, xem ghi chú bên dưới.
  • 1936Hội quán Tân Hưng Long
    Hội quán trung ương đầu tiên trên đất do bà Quách Thị Mười hiến cúng ở Phú Định, Chợ Lớn. Bảng dữ kiện của thư viện ghi năm này là lễ đặt đá, lược sử hội quán ghi khởi công năm 1935 và lạc thành năm 1936.
  • 1950Phước Huệ song tu
    Tông sư chủ trương Phước Huệ song tu, kết hợp niệm Phật với làm phước bằng thuốc Nam.
  • 1958Tông sư viên tịch
    Ngày 23 tháng 8 năm Mậu Tuất 1958, Đức Tông sư viên tịch, nhục thân an táng trong khuôn viên hội quán trung ương. Tên Tổ đình Hưng Minh Tự bắt đầu gắn với giai đoạn 1958 tới 1959.
  • 1959Dựng Liên Hoa Điện và đông lang
    Xây Liên Hoa Điện phía sau mộ tháp Đức Tông sư cùng dãy nhà phía đông, đổi tên thành Tổ đình Hưng Minh Tự. Năm 1962 xây tiếp dãy tây lang, rồi tới chánh điện và hậu đường.
  • 1992Trùng tu lớn
    Từ năm 1992 tới năm 1993, tổ đình được trùng tu, hoàn thiện phần điện Tam Bảo và gia cố Liên Hoa Điện.
Theo sử liệu

Chỗ các nguồn ghi khác nhau. Về năm Đức Tông sư được suy tôn làm Tông sư, bài Lược sử Tông sư ở Bích Tọa Đàm ghi ngày 25 tháng 7 năm 1934, bài Khái quát của hệ phái ghi năm 1935. Về thời điểm đổi tên thành Tổ đình Hưng Minh Tự, bảng dữ kiện cũ ghi từ năm 1958 khi Tông sư viên tịch, còn lược sử hội quán và Wikipedia ghi năm 1959 khi dựng Liên Hoa Điện và dãy đông lang. Về quy mô, trang hệ phái ghi 206 chùa ở 23 tỉnh thành, Đạo Phật Ngày Nay ghi 206 hội quán ở 21 tỉnh thành từ Khánh Hòa tới Cà Mau, đều tính theo địa giới cũ trước năm 2025. Về năm 1962, bảng dữ kiện ghi là năm trùng tu, còn lược sử hội quán ghi là năm dựng dãy tây lang. Thư viện ghi rõ cả hai phía.

IIIĐiện Thờ, Hai Dãy Lang Và Phòng Thuốc

Tổ đình dàn theo lối quen của chùa Nam Bộ với chánh điện ở giữa, hậu đường phía sau, hai dãy đông lang và tây lang nằm dọc hai bên ôm lấy khoảng sân. Chỗ khác của Hưng Minh không nằm ở hình khối mà nằm ở việc dùng, vì trong khuôn viên có hẳn một khu phòng thuốc Nam Phước Thiện, gồm phòng khám, phòng châm cứu, kho thuốc và sân phơi dược liệu. Ô tên chữ Hán ở đầu trang là do thư viện suy từ âm Hán Việt của tên chùa, chưa đối chiếu với hoành phi tại chỗ.

Chánh điện và điện Tam Bảo

Nơi thờ Phật A Di Đà, Bồ Tát và niệm Phật chung của cư sĩ. Phần điện Tam Bảo được hoàn thiện trong đợt trùng tu năm 1992 tới 1993.

Liên Hoa Điện

Dựng năm 1959 phía sau mộ tháp Đức Tông sư Minh Trí để thờ di ảnh và anh linh ngài, được gia cố lại trong đợt trùng tu năm 1992 tới 1993.

Phòng khám và kho thuốc

Lương y chẩn bệnh theo phép tứ chẩn vọng, văn, vấn, thiết và phối thuốc theo nguyên tắc quân, thần, tá, sứ. Kho thuốc xếp dược liệu theo từng ngăn có ghi tên, gói bằng giấy báo cũ do người hảo tâm gửi.

Phòng châm cứu

Chữa các chứng liệt, đau nhức, mất ngủ và bệnh thần kinh, mở cửa từ thứ ba tới chủ nhật hằng tuần theo báo Sức Khỏe và Đời Sống.

Bàn thờ Thần Nông

Đặt trong khu chữa bệnh. Thần Nông là vị tổ của nghề thuốc cỏ cây trong truyền thống Á Đông.

Sân phơi dược liệu

Nơi phơi ý dĩ, khổ qua, đỗ trọng, mướp gai, râu mèo, nhãn lồng, sài hồ, huyết rồng, rau má, rễ tranh, nhàu ta do nông dân, người hái thuốc và tiểu thương chợ Bình Điền gửi tặng.

Phòng thuốc ở đây là việc tu, không phải việc phụ. Theo bài Có bệnh thì đến Hưng Minh tự trên báo Người Lao Động và trang hệ phái, mỗi ngày phòng thuốc tiếp hơn 100 người bệnh, phát ra hàng trăm thang thuốc, hoàn toàn không lấy tiền. Các lương y đều có chứng chỉ hành nghề và làm không công, những người ở lại chùa ăn chay và chỉ nhận chỗ ở đơn sơ. Dược liệu phần lớn là của các chi hội miền Tây và người hảo tâm gửi tới. Đó chính là chữ Phước trong Phước Huệ song tu, hiện ra thành một phòng khám.

Chỗ hay hiểu lầm

Có người nghĩ phòng thuốc Nam ở Hưng Minh là một hoạt động từ thiện gắn thêm vào chùa, giống nhiều chùa khác có phòng khám. Với hệ phái này thì ngược lại vì thuốc Nam có trước. Tông sư theo nghề thuốc từ năm 1911, hơn hai mươi năm trước khi lập hội, và chủ trương Phước Huệ song tu đặt việc chữa bệnh vào chính lối tu. Vì thế trang hệ phái ghi mỗi chùa của hệ phái đều có phòng thuốc, chứ không riêng tổ đình.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bản của tổ đình hay của hệ phái. Thư viện không có nguồn nào ghi hệ phái chọn đất theo phong thủy, và hướng chánh điện cũng chưa có nguồn ghi. Đây là thế đất đô thị, thư viện không gượng đọc long mạch.

Thế đất và hướng

Tổ đình nằm ở phía tây vùng Chợ Lớn, trên đất quận 6 cũ. Đây là vùng đất thấp của đồng bằng, xưa nhiều kênh rạch và ruộng vườn, nay là phố chợ đông đúc. Không có gò, không có sông lớn trước mặt. Trong những nơi như vậy, lối xem cổ truyền chỉ còn đọc được những gì do chính người dựng chùa sắp đặt.

Điều sắp đặt rõ nhất là bố cục chánh điện giữa, hai dãy lang hai bên. Trong phép xem đất, hai dãy nhà nằm dọc hai bên chỗ chính giữ vai tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, hai cánh tay ôm lấy khoảng sân giữa. Theo tên gọi, đông lang nằm phía mặt trời mọc, phương mà lối đọc cổ truyền gắn với Thanh Long, và dãy ấy lại được dựng trước, năm 1959. Khoảng sân được ôm như thế là một minh đường giữ khí, không để dòng người và tiếng xe ngoài phố lùa thẳng vào điện.

Điều thứ hai thì lối xem đất cổ truyền ít khi gặp, đó là ở Hưng Minh dòng người vào cổng mỗi sáng phần lớn là người bệnh tìm thuốc. Nếu phong thủy nói tới chỗ khí tụ thì ở đây khí tụ không nhờ núi hay nước, mà nhờ việc làm của chính người trong chùa. Với hệ phái, đó không phải phong thủy mà là Phước, nửa kia của Phước Huệ song tu.

VLễ Và Nếp Tu Của Cư Sĩ

Là tổ đình và hội quán trung ương, Hưng Minh Tự là nơi tổ chức các đại lễ chung của hệ phái. Hai ngày đại lễ được trang hệ phái nêu rõ là lễ Phật Đản và lễ tưởng niệm Đức Tông sư. Ngoài ra vào ngày mùng 1 và ngày rằm hằng tháng, tức lễ sóc vọng, hội quán đều có khóa lễ quy y, thuyết giảng giáo lý và lễ bái theo nghi thức riêng gồm lạy Phật 24 lạy, lạy Bồ Tát 12 lạy và lạy Đức Tông sư Minh Trí 6 lạy.

Các lễ chính trong năm tại tổ đình. Nguồn: Phật Đản, ngày tưởng niệm Tông sư và lễ sóc vọng theo trang hệ phái và lược sử Tông sư, các ngày khác theo nếp chung.
Ngày âm lịchLễNội dung
Mùng 1 và rằm hằng thángLễ sóc vọngKhóa lễ quy y, thuyết giảng giáo lý và lễ bái định kỳ của cư sĩ hội viên
Mùng 8 tháng 4Phật ĐảnĐại lễ mừng ngày Đức Phật đản sinh, theo lịch lễ của hệ phái
Rằm tháng 7Vu LanLễ báo hiếu cha mẹ, hợp với tinh thần Lễ bái Lục phương mà hệ phái lấy làm cửa ngõ
23 tháng 8Tưởng niệm Tông sư Minh TríNgày Đức Tông sư viên tịch năm Mậu Tuất 1958, cư sĩ các chùa trong hệ phái về tổ đình
17 tháng 11Vía Phật A Di ĐàNgày mà người tu Tịnh Độ nói chung đều giữ, gắn với pháp môn niệm Phật

Ngày thường, nếp tu ở đây là nếp của người tại gia, gồm niệm Phật, học sáu bộ sách căn bản, giữ giới của cư sĩ và làm phước. Người ở lại chùa ăn chay, lo phòng thuốc, không nhận thù lao. Người không ở lại chùa thì tu tại nhà và về chùa những ngày sóc vọng hay đại lễ. Hệ phái không có mùa an cư của tăng, vì không có tăng, thay vào đó là nếp làm phước ở phòng thuốc diễn ra quanh năm.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 45 đường Lý Chiêu Hoàng, phường Bình Phú (phường 10 quận 6 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Tổ đình ở số 45 đường Lý Chiêu Hoàng, phường Bình Phú, trên đất phường 10 quận 6 cũ, Thành phố Hồ Chí Minh, phía tây khu Chợ Lớn.
Toạ độ
10.7367, 106.6314
Khi tới nơi

Tổ đình vừa là nơi thờ tự vừa là nơi chữa bệnh. Ăn mặc kín đáo, đi nhẹ nói khẽ ở chánh điện. Ở khu phòng thuốc, người bệnh được ưu tiên, khách tham quan xin đứng sang một bên và không chụp ảnh người bệnh. Người lo việc chùa là cư sĩ, xin gọi theo cách hệ phái dùng, không gọi là thầy chùa. Phòng thuốc hoàn toàn miễn phí. Người muốn góp thường góp dược liệu hoặc giấy báo cũ để gói thuốc, như các bài báo về phòng thuốc đã tả.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tổ đình Hưng Minh Tự

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

tịnh độ cư sĩ phật hội việt nam là gì

Là một hệ phái Phật Giáo của cư sĩ tại gia tu pháp môn Tịnh Độ, do Đức Tông sư Minh Trí lập năm 1934 ở Nam Bộ. Hệ phái không có tăng xuất gia trụ trì, chủ trương Phước Huệ song tu, và mỗi chùa đều có phòng thuốc Nam miễn phí. Tổ đình là Hưng Minh Tự ở quận 6 cũ.

tịnh độ cư sĩ khác tịnh độ tông thế nào

Tịnh Độ tông là pháp môn niệm Phật A Di Đà mà tăng ni tu trong chùa, ở Việt Nam thường song tu với thiền. Tịnh Độ Cư Sĩ là hệ phái riêng của người tại gia, không có tăng, học sáu bộ sách căn bản của hệ phái mở đầu bằng Lễ bái Lục phương cùng Phu Thê Ngôn Luận, và đặt việc làm phước bằng thuốc Nam ngang với niệm Phật.

tông sư minh trí là ai

Đức Tông sư Minh Trí, thế danh Nguyễn Văn Bồng, sinh năm 1886 ở làng Tân Mỹ, Sa Đéc. Năm 1911 ngài lấy nghề thuốc để cứu người, ngày 20 tháng 2 năm 1934 được cấp phép lập Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội, từ năm 1950 chủ trương Phước Huệ song tu. Ngài viên tịch ngày 23 tháng 8 năm Mậu Tuất 1958.

hưng minh tự khám bệnh miễn phí không

Có. Phòng thuốc Nam Phước Thiện và phòng châm cứu ở Hưng Minh Tự hoàn toàn miễn phí, mở cửa từ thứ ba tới chủ nhật, mỗi ngày tiếp hơn 100 người bệnh. Các lương y làm không công, dược liệu do nông dân, tiểu thương và người hảo tâm gửi tặng. Đây là việc tu theo chủ trương Phước Huệ song tu của hệ phái.

phước huệ song tu là gì

Là chủ trương Đức Tông sư Minh Trí đặt ra từ năm 1950, gồm tu Huệ bằng niệm Phật và học giáo lý, đi đôi với tu Phước bằng việc làm có ích cho người mà cụ thể nhất là thuốc Nam chữa bệnh không lấy tiền. Hai phần đi cùng nhau, không phần nào là phụ.

›Đọc Tiếp