Từ đường Lạc Long Quân rẽ vào một con hẻm nhỏ, đi hết mấy khúc quanh giữa nhà phố, quý vị sẽ gặp một khoảng sân rợp cây và một mái chùa thấp, mặt tiền có vòm cửa kiểu Tây, phía trong là bộ sườn gỗ đã sậm màu. Bước qua ngưỡng chánh điện, mắt phải quen với bóng tối một lúc mới thấy hết: hàng hàng lớp lớp tượng gỗ đứng trên các bệ, trên đầu là những bức bao lam chạm thủng, chim hoa dày đặc tới mức khó đếm.
Đó là Tổ đình Giác Viên. Hơn hai trăm năm trước, chỗ này là một bến nước chứa gỗ cho việc trùng tu chùa Giác Lâm, với một ông hương đăng già ở lại coi gỗ. Chiếc cốc nhỏ của ông về sau thành am, am thành viện, viện thành chùa, và chùa thành tổ đình riêng của dòng Lâm Tế Gia Phổ. Bài này kể phần riêng ấy.
IChùa Con Thành Tổ Đình Của Dòng Gia Phổ
Giác Viên không phải ngôi gốc của dòng. Ngôi gốc là chùa Giác Lâm, cách đây chừng hai cây số, bài về ngôi ấy đã kể lịch sử khai sơn và các đời tổ đầu, quý vị đọc ở bài chùa Giác Lâm. Giác Viên là ngôi chùa con tách ra từ Giác Lâm, rồi qua ba đời tổ trở thành một tổ đình riêng, tức ngôi đứng đầu một chi truyền thừa, có đệ tử và chùa con của chính mình.
Cái tên nói luôn mối quan hệ ấy. Hai ngôi cùng mang chữ Giác, nghĩa là giác ngộ. Giác Lâm là rừng giác ngộ, Giác Viên là vườn giác ngộ. Rừng là gốc, vườn là chỗ được khoanh ra từ rừng. Chữ Hán ghi ở đầu trang là lối viết tên chùa theo nghĩa ấy, do thư viện ghi theo tên chữ chứ không chép lại từ một tấm hoành phi cụ thể.
Dòng Lâm Tế Gia Phổ là một chi của Thiền phái Lâm Tế ở Nam Bộ, dùng bài kệ truyền thừa của Tổ Đạo Mân. Bài kệ ấy dùng để đặt pháp danh theo đời: mỗi đời lấy một chữ trong kệ làm chữ đầu của pháp danh, nên nhìn pháp danh là biết vị ấy đứng ở đời thứ mấy. Hai câu đầu của kệ là Đạo bổn nguyên thành Phật tổ tiên, Minh như hồng nhật lệ trung thiên. Nguyên văn đủ bốn câu có ở bài chùa Long Thiền, chúng tôi không chép lại ở đây.
Ở Giác Viên, thứ tự ấy hiện ra rất rõ. Tổ Hải Tịnh có pháp danh mang chữ Tiên, Tổ Hoằng Ân mang chữ Minh, Hòa thượng Hoằng Nghĩa mang chữ Như, các vị đời sau mang chữ Hồng. Tiên, Minh, Như, Hồng là bốn chữ nối liền nhau trong kệ, ứng với đời 37, 38, 39 và 40 của dòng Lâm Tế.
Về người đã biến chiếc am thành chùa, hai nguồn ghi khác nhau và chúng tôi ghi cả hai. Trang Chốn Thiêng và tạp chí Thế Giới Di Sản ghi Thiền sư Tổ Tông Viên Quang, đời 36, trụ trì Giác Lâm từ năm 1774 tới năm 1827, là người cho sửa am thành Quan Âm Viện. Tạp chí Văn hóa Phật giáo lại ghi Tổ Tiên Giác Hải Tịnh (1788 tới 1875), đời 37, là người chọn bến Hố Đất làm chỗ chứa gỗ và năm 1850 đổi tên thành Giác Viên.
Hai ghi chép ấy không loại nhau. Cách đọc hợp lý nhất là chiếc am đã có từ đời Tổ Viên Quang, còn ngôi chùa mang tên Giác Viên thì thành hình dưới tay Tổ Hải Tịnh. Một bài trên trang Phật tử Việt Nam còn ghi Quan Âm Viện dựng năm 1805, tức ngay sau khi đợt trùng tu Giác Lâm xong, con số ấy cũng khớp với cách đọc trên.
Nhiều người thấy hai chùa cùng chữ Giác, cùng một dòng, rồi nghĩ Giác Viên chỉ là một chi nhánh của Giác Lâm, không có truyền thừa riêng. Không hẳn vậy. Từ đời Tổ Minh Khiêm, Giác Viên có đệ tử riêng, có chùa con riêng ở Sài Gòn và Thủ Đức, có bộ ván khắc kinh riêng. Hai ngôi là hai tổ đình cùng một gốc, người trong dòng coi Giác Lâm là chốn tổ chung và Giác Viên là chốn tổ của chi mình.
IITừ Bến Chứa Gỗ Tới Tổ Đình
Năm 1798, chùa Giác Lâm bắt đầu một đợt đại trùng tu kéo dài chừng sáu năm. Gỗ cho công trình được chở theo rạch Hố Đất, tức rạch Tân Hòa ngày nay, vào rạch Ông Bường rồi đậu lại ở một bến đất, chính là chỗ ngôi chùa đứng hôm nay. Một ông hương đăng già được cử ở lại trông việc cưa xẻ, dựng một cốc nhỏ để ở và thờ Quán Thế Âm Bồ Tát. Đợt trùng tu xong, gỗ đi, cốc ở lại. Đó là hạt giống của Giác Viên.
- 1798Bến chứa gỗ và cốc nhỏGiác Lâm trùng tu, bến Hố Đất được chọn làm chỗ chứa gỗ. Ông hương đăng giữ gỗ dựng cốc nhỏ thờ Quán Thế Âm. Đợt trùng tu kéo dài tới khoảng năm 1804.
- 1805Quan Âm ViệnAm được sửa thành Quan Âm Viện. Chốn Thiêng ghi việc này dưới đời Tổ Viên Quang, một bài khác ghi năm 1805.
- 1850Đổi tên Giác ViênTổ Hải Tịnh nâng Quan Âm Viện thành chùa và đặt tên Giác Viên, năm Canh Tuất.
- 1870Tổ Minh Khiêm trụ trìHòa thượng Hoằng Ân Minh Khiêm, đệ tử Tổ Hải Tịnh, nhận trụ trì Giác Viên khi mới hai mươi tuổi. Năm 1876 ngài được giao trông coi cả Giác Viên lẫn Giác Lâm.
- 1899Đại trùng tuTổ Minh Khiêm cho mở rộng mặt bằng, chỉnh trang chánh điện. Các nguồn ghi đợt này kéo dài từ 1899 tới 1902, có sự góp sức của Hòa thượng Như Nhu.
- 1908Trùng tu lần nữaHòa thượng Hoằng Nghĩa Như Phòng, đời 39, trông coi đợt trùng tu từ 1908 tới 1910.
- 1993Di tích quốc giaĐược xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia theo Quyết định 43-VH/QĐ ngày 7 tháng 1 năm 1993.
- 2015Tu bổ lớnĐợt tu bổ trong hai năm 2015 và 2016, được tạp chí Thế Giới Di Sản ghi là đợt tu tạo lớn nhất từ trước tới nay.
Tổ Minh Khiêm và việc khắc kinh
Nếu Tổ Hải Tịnh là người đặt tên thì Tổ Hoằng Ân Minh Khiêm (1850 tới 1914) là người làm cho Giác Viên có sức nặng của một tổ đình. Ngài quê làng Bà Điểm, Gia Định, xuất gia với Tổ Hải Tịnh ở Giác Lâm, đứng ở đời 38 dòng Lâm Tế. Theo bài tiểu sử trên trang phatgiao.org.vn và tạp chí Nghiên cứu Phật học, ngài chép tay kinh Pháp Hoa năm 1886, cho khắc bản gỗ nhiều kinh sách, và năm 1894 soạn bộ Tỳ Ni Nhựt Dụng Yếu Lược, sách nghi luật hằng ngày cho người tu.
Đệ tử của ngài gồm Như Nhu Chơn Không, Như Phòng Hoằng Nghĩa, Như Nhãn Từ Phong ở chùa Giác Hải và Đạt Lý Huệ Lưu ở chùa Huê Nghiêm, Thủ Đức. Từ những vị ấy mà chi Giác Viên tỏa ra thành một mạng chùa con, và đó là lý do người trong dòng gọi nơi đây là tổ đình chứ không chỉ gọi là chùa cổ.
IIITượng Gỗ Mít Và Bao Lam Chạm
Chùa theo lối chùa cổ Nam Bộ: cổng tam quan, chánh điện, nhà tăng và vườn tháp. Khối chính gồm hai nếp nhà tứ trụ ghép liền nhau, nếp trước làm chánh điện, nếp sau làm giảng đường, hai bên có Đông lang và Tây lang. Mặt tiền mang dấu các đợt trùng tu đầu thế kỷ 20 với vòm cửa và cột vuông kiểu Tây, nhưng khung sườn gỗ bên trong, kèo cột và mái vẫn giữ nếp dân gian. Chốn Thiêng ghi khuôn viên gần 20.000 mét vuông, con số này chúng tôi chưa đối chiếu được với nguồn thứ hai.
Kho tượng gỗ
Các nguồn cùng ghi chùa giữ 153 pho tượng, phần lớn bằng gỗ mít, tạc trong khoảng cuối thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20. Gỗ mít là thứ gỗ quen của thợ chạm Nam Bộ, thớ mịn, ít nứt, màu vàng khi mới và sẫm dần theo năm tháng, nên tượng ở đây mang một sắc nâu trầm đều nhau.
Phần đông số tượng dồn về chánh điện, gồm bộ tượng Phật, Bồ Tát, Thập bát La Hán mười tám vị và Thập điện Diêm Vương mười vị. Về số tượng trong chánh điện, nguồn lại vênh: Chốn Thiêng và Thế Giới Di Sản ghi 120 pho, bài trên trang Phật tử Việt Nam ghi 128 pho. Chúng tôi ghi cả hai, vì cách đếm có tính hay không tính các tượng nhỏ trên bệ phụ có thể khác nhau.
| Hiện vật | Chất liệu | Ghi chú theo nguồn |
|---|---|---|
| 153 pho tượng | Gỗ mít là chính | Cuối thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20, tập trung ở chánh điện |
| Bao lam Bá Điểu | Gỗ chạm thủng | Dài 3 mét, cao 2,2 mét, gần một trăm con chim |
| Bộ sám bài Ngũ Hiền | Gỗ chạm nổi | Bộ bài vị dùng trong nghi lễ sám hối |
| Tượng Giám Trai | Gốm | Cao 105 cm, lò Nam Hưng Xương, năm 1880 |
| Câu đối | Gỗ sơn đen thếp vàng | Một nguồn đếm 128 câu, trong đó 56 câu khắc chìm vào thân cột |
Bao lam và phù điêu
Bao lam là khung gỗ chạm thủng treo trước các bàn thờ, vừa làm khung cho điện thờ vừa làm lớp màn trang trí. Giác Viên có 57 bao lam theo phần lớn các nguồn, riêng bài của trang Phật tử Việt Nam ghi 58. Nổi tiếng nhất là bức Bá Điểu, trăm chim, trên đó thợ chạm dựng gần một trăm con chim đậu, bay, rỉa lông giữa cành lá, không con nào lặp dáng con nào.
Đề tài phù điêu đi từ Bát Tiên, Thập bát La Hán, tứ linh tới những con vật rất Nam Bộ như sóc, chuột, ong, bướm. Chính lớp đề tài quê kiểng ấy làm cho kho gỗ Giác Viên khác kho gỗ các chùa miền Trung và miền Bắc: người thợ đưa cái vườn của mình vào điện Phật.
Người ta hay nghe kể 153 pho tượng rồi hình dung một bảo tàng tượng. Thực ra đây là điện thờ đang dùng, tượng được bày theo nghi quỹ thờ tự của chùa Bắc Tông Nam Bộ, mỗi nhóm tượng có chỗ và vai của nó. Vì thế số tượng đông mà bố cục không rối, và cũng vì thế không phải pho nào quý vị cũng lại gần được.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bản hay văn bia của chùa. Các nguồn chúng tôi đọc không ghi việc chọn đất theo phong thủy ở Giác Viên, và chính lịch sử của chùa cho thấy đất được chọn vì việc thực tế là chứa gỗ. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.
Gốc của Giác Viên là một bến nước. Gỗ theo rạch Hố Đất vào rạch Ông Bường rồi dừng lại ở đây, nghĩa là đây là chỗ dòng nước chậm lại, đủ hiền để gỗ đậu được. Trong phép xem đất, chỗ nước chậm và quẩn lại gọi là chỗ tụ thủy, thứ mà sách phong thủy coi là nơi khí dừng. Người xưa không chọn đất bằng la bàn, họ chọn chỗ ghe đậu yên, và hai tiêu chí ấy tình cờ trùng nhau.
Vùng này thuộc dải đất thấp phía tây Sài Gòn cũ, không có núi để tựa. Ở đồng bằng Nam Bộ, cái thế tựa sơn hướng thủy của sách vở hầu như không có, nên chỗ dựa thường là một gò đất cao hơn xung quanh đôi chút, còn cái nhìn ra là con rạch. Giác Viên đứng đúng kiểu ấy, trên một nền đất đủ ráo bên con nước.
Đọc theo quan hệ với chùa gốc, Giác Lâm nằm trên gò cao ở phía bắc, Giác Viên nằm ở bến thấp phía nam. Một ngôi trên gò, một ngôi bên nước, cách nhau chừng hai cây số: đó là thế mẹ con quen thấy ở các sơn môn Nam Bộ, chùa gốc giữ chỗ cao, chùa con giữ chỗ đón nước và đường ghe. Nay rạch đã thành kênh, bến đã thành hẻm, nhưng cái cặp ấy vẫn đọc được trên bản đồ.
VLễ Trong Năm
Giác Viên giữ lịch lễ của một tổ đình Bắc Tông Nam Bộ. Các lễ lớn đều tính theo âm lịch. Ngoài các lễ chung của Phật Giáo, một tổ đình còn có các lễ giỗ tổ, là dịp các chùa con trong chi về lại chốn tổ. Các nguồn chúng tôi đọc không ghi ngày giỗ cụ thể của từng vị tổ ở Giác Viên, nên bảng dưới chỉ nêu những lễ chắc chắn.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Thượng nguyên | Lễ cầu an đầu năm, Phật tử về chùa đông nhất trong năm |
| Rằm tháng Tư | Phật Đản | Lễ mừng ngày Đức Phật đản sinh, có nghi thức tắm Phật |
| Rằm tháng Bảy | Vu Lan | Lễ báo hiếu và cầu siêu, cũng là ngày chư tăng mãn mùa an cư |
| Ngày giỗ các vị tổ | Giỗ tổ | Chư tăng các chùa con trong chi Gia Phổ về chốn tổ dâng hương |
Với người muốn xem tượng và bao lam, ngày thường yên hơn ngày lễ, ánh sáng trong chánh điện cũng dễ nhìn hơn khi không có khói hương dày.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 161/85/20 đường Lạc Long Quân, phường Bình Thới (phường 3 quận 11 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
- Đường tới
- Chùa nằm sâu trong hẻm 161 đường Lạc Long Quân, phường Bình Thới, trên đất phường 3 quận 11 cũ, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đầu hẻm đi bộ vào qua mấy khúc quanh là tới.
- Toạ độ
- 10.763, 106.6392
Giác Viên là tổ đình đang có chư tăng tu học, nên lệ của chùa là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo, đi nhẹ nói khẽ trong chánh điện, không chạm tay vào tượng gỗ và bao lam vì gỗ cũ rất dễ tổn thương, không trèo lên bệ tượng để chụp ảnh. Việc chụp ảnh bên trong nên hỏi người trong chùa trước. Hẻm vào chùa hẹp, xin quý vị gửi xe và đi bộ vào.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tổ đình Giác Viên
Contribute photos, information or video for Giac Vien PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
chùa giác viên thuộc dòng nào
Thuộc Thiền phái Lâm Tế, chi Gia Phổ, dùng bài kệ truyền thừa của Tổ Đạo Mân. Các vị tổ ở đây mang pháp danh theo thứ tự chữ Tiên, Minh, Như, Hồng trong kệ, ứng với đời 37 tới đời 40. Giác Viên cùng dòng với chùa Giác Lâm, là ngôi chùa con đã thành tổ đình riêng.
chùa giác viên và chùa giác lâm khác nhau thế nào
Giác Lâm là ngôi gốc, lâu đời hơn, nằm trên gò cao. Giác Viên khởi từ chiếc am giữ gỗ khi Giác Lâm trùng tu năm 1798, thành chùa và mang tên Giác Viên năm 1850. Hai ngôi cùng một dòng Gia Phổ, cách nhau chừng hai cây số, và từng có lúc cùng một vị tổ trông coi.
chùa giác viên có bao nhiêu tượng
Các nguồn cùng ghi 153 pho tượng, phần lớn bằng gỗ mít, tạc từ cuối thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20. Số tượng trong chánh điện thì nguồn vênh, một bên ghi 120 pho, một bên ghi 128 pho. Trong đó có bộ Thập bát La Hán và Thập điện Diêm Vương.
bao lam bá điểu chùa giác viên là gì
Là bức bao lam gỗ chạm thủng dài chừng 3 mét, cao 2,2 mét, trên đó thợ chạm gần một trăm con chim ở đủ dáng đậu, bay, rỉa lông giữa cành lá. Đây là bức nổi tiếng nhất trong 57 bao lam của chùa, một nguồn khác đếm 58.
ai lập ra chùa giác viên
Nguồn vênh nhau. Chốn Thiêng ghi Tổ Viên Quang, đời 36, cho sửa chiếc am giữ gỗ thành Quan Âm Viện. Tạp chí Văn hóa Phật giáo ghi Tổ Hải Tịnh, đời 37, chọn bến chứa gỗ và năm 1850 đổi tên thành Giác Viên. Hai ghi chép bổ sung cho nhau, am có từ đời trước, chùa thành hình đời sau.