Từ sân chùa đi lên phía sau chừng trăm mét, quý vị sẽ gặp một khe đá dưới chân núi Dinh, lối vào thấp, bên trong hẹp và sâu chừng bốn mét. Trên vách đá không có gì nhiều, chỉ một bàn thờ nhỏ và mùi hương. Đó là Thạch động Thiên Thai, nơi một vị thiền sư từ Bình Định vào tĩnh tu từ đầu thế kỷ 20, lấy gió núi làm quạt, lấy hang đá làm am.
Vị ấy là Tổ Huệ Đăng. Từ cái hang ấy ngài dựng nên chùa Thiên Thai, rồi từ chùa Thiên Thai lập nên một tông phái mang tên Thiên Thai Thiền Giáo Tông. Vì thế ngôi chùa đá dưới chân núi này không chỉ là một ngôi tổ đình của một chi truyền thừa, mà là tổ đình của cả một tông. Bài này nói tông ấy là gì và vì sao chốn tổ lại là nơi đây.
IThiên Thai Thiền Giáo Tông Là Gì
Thiên Thai Thiền Giáo Tông là một tông phái Phật Giáo do người Việt lập trong thế kỷ 20, ở Bà Rịa. Người lập tông là Hòa thượng Huệ Đăng, và tổ đình của tông là chính ngôi chùa này. Trang của tông ghi năm lập là 1934, tài liệu của chùa Xá Lợi và nhiều bài nghiên cứu ghi 1935. Tạp chí Nghiên cứu Phật học cho thấy chỗ vênh ấy có lời giải: tông được phép thành lập ngày 19 tháng 10 năm 1934, còn hội chính thức ra mắt và hoạt động từ năm 1935.
Về dòng pháp, tông không đứng ngoài truyền thống. Tổ Huệ Đăng thuộc Thiền phái Lâm Tế, chi Liễu Quán, đời thứ 41. Tông giữ bài kệ truyền thừa của Liễu Quán, mở đầu bằng Thật tế đại đạo, Tánh hải thanh trừng, bài kệ dùng để đặt pháp danh theo đời. Pháp danh của Tổ là Thanh Kế, chữ Thanh là chữ thứ bảy của kệ, khớp đúng đời 41. Nguyên văn kệ Liễu Quán có ở bài Tổ đình Thiền Tôn.
Tên tông ghép hai chữ Thiền và Giáo. Thiền là tu tập nội tâm, ngồi thiền quán chiếu. Giáo là học kinh, giảng kinh, đem giáo lý ra đời sống. Chủ trương của tông là thiền giáo song hành, không bỏ bên nào. Báo Giác Ngộ ghi Tổ lấy việc xiển dương kinh Pháp Hoa làm trọng tâm, còn trang Chùa Huệ Minh ghi các bài giảng và thơ đạo của Tổ đi vào cả Thiền lẫn Tịnh độ. Trang của tông tóm tôn chỉ là đem Phật pháp vào xã hội để xây nền đạo đức cho số đông.
Tổ còn để lại nhiều bản diễn Nôm kinh Vu Lan, kinh A Di Đà, Bát Nhã Tâm Kinh, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Địa Tạng cùng các bài sám nguyện, nhiều bài vẫn được tụng tới nay. Đó cũng là một mặt của chữ Giáo: đưa kinh về tiếng nói của người Việt.
Chỗ dễ nhầm nhất là tên. Có một tông khác là Thiên Thai Giáo Quán Tông, nối theo tông Thiên Thai của Trung Hoa, có tổ đình riêng ở vùng Long An cũ. Thiên Thai Thiền Giáo Tông ở núi Dinh không phải tông ấy. Tông núi Dinh do người Việt lập, về dòng pháp thuộc Lâm Tế Liễu Quán. Chữ Thiên Thai trong tên gợi tới núi Thiên Thai, nơi tông Thiên Thai Trung Hoa lấy kinh Pháp Hoa làm gốc. Thư viện hiểu việc Tổ Huệ Đăng dùng tên ấy là để chỉ chỗ tôn kinh Pháp Hoa, không phải để nhận dòng truyền thừa của tông Trung Hoa. Đó là kiến giải của chúng tôi, không phải điều tông tự ghi.
Ngay từ buổi đầu, tông đã có hình thức tổ chức rõ ràng. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi hội đặt trụ sở ở chùa Thiên Thai, có năm hội Tịnh độ liên kết ở các chùa Châu Viên (Châu Đốc), Bửu Long (Mỹ Tho), Vạn Linh và Giác Hoàng (Cần Thơ), Phước Hậu (Long Xuyên). Trang Chùa Huệ Minh ghi tới tháng 3 năm 1936 hội đã có chừng 400 hội viên. Tạp chí Bát Nhã Âm của tông ra số đầu ngày 30 tháng 12 năm 1935, tòa soạn đặt ngay ở tháp Thiên Bửu. Nay văn phòng đại diện của tông ở chùa Hạnh Nguyện, Thành phố Hồ Chí Minh, còn tổ đình vẫn là ngôi chùa dưới chân núi Dinh.
IITừ Hang Đá Tới Tổ Đình
Hòa thượng Huệ Đăng, húy Thanh Kế, tự Thiện Thức, thế danh Lê Quang Hòa, sinh năm Quý Dậu 1873 ở làng An Dõng, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Ngài thụ giới với Tổ Hải Hội Chánh Niệm ở chùa Long Hòa. Tài liệu chùa Xá Lợi ghi ngài xuất gia năm 1900. Mấy năm sau ngài vào phương Nam, tìm tới núi Dinh và ngồi tu trong một hang đá nhỏ.
- 1873Tổ Huệ Đăng ra đờiSinh năm Quý Dậu ở làng An Dõng, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.
- 1905Vào tu ở thạch độngTheo báo Thanh Niên, Tổ tới núi Dinh năm 1905 và dùng một hang đá nhỏ hẹp làm chỗ tĩnh tu.
- 1920Khởi công chùaChùa Thiên Thai khởi công cách hang chừng trăm mét, theo tài liệu chùa Xá Lợi và báo Thanh Niên. Trang Phật tử Việt Nam ghi 1922, cổng du lịch tỉnh ghi 1925.
- 1933Tháp Thiên BửuTạp chí Nghiên cứu Phật học và chùa Xá Lợi ghi tháp xong năm 1933. Cổng du lịch tỉnh và trang Phật tử Việt Nam ghi năm 1936.
- 1934Tông được phép lậpNgày 19 tháng 10 năm 1934 Thiên Thai Thiền Giáo Tông được phép thành lập, trụ sở ở chùa Thiên Thai.
- 1935Ra mắt tông và Bát Nhã ÂmHội chính thức hoạt động. Tạp chí Bát Nhã Âm ra số đầu ngày 30 tháng 12 năm 1935.
- 1937Đón ngọc xá lợiChùa đón ngọc xá lợi Phật Thích Ca từ Ấn Độ về thờ ở tháp Thiên Bửu.
- 1953Tổ viên tịchTổ Huệ Đăng viên tịch ngày 11 tháng 7 năm Quý Tỵ. Bảo tháp của Tổ đặt ở núi Ông Đốc, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn cũ, tỉnh Bình Định, không đặt ở núi Dinh.
Các nguồn vênh nhau ở ba chỗ và chúng tôi ghi thẳng. Năm khởi công chùa có ba con số 1920, 1922 và 1925. Năm xong tháp Thiên Bửu có hai con số 1933 và 1936. Năm lập tông là 1934 hay 1935 thì như đã nói, một bên tính theo ngày được phép, một bên tính theo ngày ra mắt. Riêng năm Tổ viên tịch, một bài trên trang Phật tử Việt Nam ghi 1957, trái với mọi nguồn còn lại đều ghi năm Quý Tỵ 1953, chúng tôi theo số đông.
Về xếp hạng, thư viện chưa tra thấy số quyết định. Báo Thanh Niên và trang Phật tử Việt Nam cùng ghi tổ đình được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2008, cổng du lịch tỉnh cũng xếp nơi này vào mục di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật. Khi nào đối chiếu được quyết định, chúng tôi sẽ ghi lại cho đúng.
IIIChánh Điện Đá, Thạch Động Và Tháp Thiên Bửu
Khuôn viên tổ đình rộng chừng sáu héc ta, dựa lưng vào núi Dinh Cố. Trang Phật tử Việt Nam chia làm bốn khu: điện chính Thiên Thai, Thạch Động, khu Thiên Khánh và tháp Thiên Bửu. Điều làm nơi này khác hẳn chùa đồng bằng Nam Bộ là vật liệu: đá xanh của núi, gắn bằng vôi trộn mật mía theo lối cũ, thay cho gạch và gỗ.
Hình vuông, mỗi cạnh 15 mét, mặt tiền năm gian với ba cửa vòm ở giữa. Tường xây đá dày 0,4 mét, cao 3 mét, vách để mộc không tô xi măng. Mái chồng diềm, trên nóc có bình cam lồ và hình rồng.
Còn gọi là hậu tổ, năm gian bằng gỗ lâu năm, là chỗ thờ tổ và chỗ giảng kinh, đúng với chữ Giáo trong tên tông.
Hang đá phía sau chùa, sâu chừng bốn mét, nơi Tổ Huệ Đăng ngồi tu từ những năm đầu. Hang được giữ gần như nguyên dạng.
Cách chùa chừng trăm mét, thờ ngọc xá lợi đón năm 1937. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi tháp dựng theo ý Cửu phẩm liên hoa trong kinh A Di Đà. Tòa soạn Bát Nhã Âm từng đặt ở đây.
Nhìn cả khu, quý vị sẽ thấy một trục đi từ thấp lên cao: tháp và chùa ở dưới, giảng đường ở sau, hang đá ở trên cùng sát chân núi. Đi theo trục ấy là đi ngược lại lịch sử của nơi này, từ công trình cuối cùng về lại chỗ bắt đầu.
Nhiều người tới đây tìm tháp mộ của Tổ Huệ Đăng. Bảo tháp của Tổ không ở núi Dinh mà ở núi Ông Đốc, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn cũ, tỉnh Bình Định, quê của ngài. Tháp Thiên Bửu ở tổ đình là tháp thờ xá lợi Phật, không phải tháp Tổ. Hai ngọn tháp khác nhau về cả chỗ lẫn việc thờ.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bản của tổ đình hay của tông. Nguồn chúng tôi đọc chỉ ghi chùa dựa lưng vào núi Dinh Cố và dựng cách thạch động chừng trăm mét, không ghi Tổ chọn đất theo phép phong thủy. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị tách tư liệu khỏi kiến giải.
Ở Nam Bộ, hiếm có ngôi chùa nào ngồi được đúng cái thế tựa sơn của sách vở như Thiên Thai. Núi Dinh là khối núi lớn ở đầu vùng Bà Rịa, chùa ngồi ngay dưới chân, lưng áp vào sườn núi. Trong phép xem đất, núi phía sau gọi là huyền vũ, là chỗ dựa giữ khí. Một ngôi chùa có núi thật làm huyền vũ thì phần lưng được coi là vững.
Điều đáng chú ý là thứ tự các công trình. Hang đá, chỗ Tổ ngồi tu, nằm cao nhất và sát núi nhất. Chùa đặt thấp hơn, cách hang trăm mét. Tháp đặt ra phía trước. Đọc theo phong thủy thì đó là thế long mạch đi từ núi xuống: khí từ núi vào hang, từ hang xuống chùa, từ chùa ra tháp. Hang là chỗ kết khí, nên việc giữ hang nguyên dạng và coi hang là gốc của tổ đình là hợp với lối đọc ấy.
Phía trước chùa là vùng đất thấp của Long Điền, đổ dần ra phía biển. Sách phong thủy gọi khoảng đất trống trước mặt là minh đường, nơi khí tụ lại trước khi tán. Minh đường rộng và thoáng, lưng có núi, lại có hang đá làm huyệt: ba điều ấy gộp lại là lý do thư viện đọc nơi này là một thế đất tu hành hiếm ở miền Đông Nam Bộ. Còn Tổ Huệ Đăng, theo những gì còn chép, chọn nơi này vì cái hang yên tĩnh chứ không vì la bàn.
VLễ Giỗ Tổ Và Lễ Trong Năm
Lễ lớn nhất ở tổ đình là lễ giỗ Tổ Huệ Đăng, cử hành trong hai ngày 10 và 11 tháng 7 âm lịch. Ngày 11 là ngày Tổ viên tịch. Theo báo Thanh Niên, mỗi năm lễ thu hút hàng nghìn người, gồm chư tăng các chùa trong tông, Phật tử địa phương và khách thập phương. Vì trùng với tháng Bảy, lễ giỗ Tổ ở đây nối liền với mùa Vu Lan.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Thượng nguyên | Lễ cầu an đầu năm |
| Rằm tháng Tư | Phật Đản | Lễ mừng ngày Đức Phật đản sinh |
| Mùng 10 và 11 tháng 7 | Giỗ Tổ Huệ Đăng | Lễ lớn nhất của tổ đình, chư tăng trong tông về dâng hương, tưởng niệm Tổ khai sơn và khai tông |
| Rằm tháng Bảy | Vu Lan | Lễ báo hiếu, nối ngay sau lễ giỗ Tổ |
Ngoài lễ, nếp tu học của tổ đình vẫn giữ tinh thần thiền giáo song hành: tụng kinh Pháp Hoa, tụng các bản kinh diễn Nôm của Tổ, và giảng kinh ở giảng đường. Người đến ngày thường sẽ thấy nơi này yên, đúng cái yên mà Tổ đã tìm khi vào hang đá hơn một trăm năm trước.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Chân núi Dinh (núi Dinh Cố), xã Long Điền (xã An Ngãi hoặc xã Tam Phước cũ, huyện Long Điền cũ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
- Đường tới
- Tổ đình nằm dưới chân núi Dinh, trên địa bàn xã Tam Phước cũ, huyện Long Điền cũ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cũ, nay thuộc xã Long Điền, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ trung tâm Bà Rịa cũ đi về hướng Long Điền một quãng ngắn là tới.
- Toạ độ
- 10.4668, 107.226
Đây là tổ đình đang có chư tăng tu học, nên lệ của tổ đình là lệ phải theo. Ăn mặc kín đáo, đi nhẹ nói khẽ trong chánh điện và giảng đường. Thạch động là chỗ tu của Tổ, lối vào thấp và hẹp, xin quý vị cúi thấp, không chen đông, không đặt đồ lên bàn thờ trong hang. Hỏi người trông coi trước khi chụp ảnh bên trong chánh điện và trong hang.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tổ đình Thiên Thai
Contribute photos, information or video for Thien Thai Pagoda, Ba RiaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
thiên thai thiền giáo tông là gì
Là một tông phái Phật Giáo do người Việt lập, người lập là Hòa thượng Huệ Đăng, tổ đình là chùa Thiên Thai dưới chân núi Dinh. Tông được phép lập năm 1934 và ra mắt năm 1935. Về dòng pháp tông thuộc Lâm Tế Liễu Quán, chủ trương thiền giáo song hành, tôn kinh Pháp Hoa.
thiên thai thiền giáo tông có phải thiên thai tông trung hoa không
Không. Tông Thiên Thai của Trung Hoa được nối ở Việt Nam bằng một tông khác tên Thiên Thai Giáo Quán Tông. Thiên Thai Thiền Giáo Tông ở núi Dinh do người Việt lập trong thế kỷ 20, dòng pháp thuộc Lâm Tế Liễu Quán. Hai tông chỉ giống nhau ở chữ Thiên Thai và ở chỗ cùng quý kinh Pháp Hoa.
tổ huệ đăng là ai
Là Hòa thượng Huệ Đăng, húy Thanh Kế, tự Thiện Thức, sinh năm 1873 ở Bình Định, đời 41 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài tu trong hang đá dưới chân núi Dinh, dựng chùa Thiên Thai, lập Thiên Thai Thiền Giáo Tông, để lại nhiều bản kinh diễn Nôm. Ngài viên tịch ngày 11 tháng 7 năm Quý Tỵ 1953.
tháp tổ huệ đăng ở đâu
Bảo tháp của Tổ Huệ Đăng ở núi Ông Đốc, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn cũ, tỉnh Bình Định, không ở núi Dinh. Ở tổ đình Thiên Thai có tháp Thiên Bửu, nhưng đó là tháp thờ ngọc xá lợi Phật đón năm 1937, không phải tháp Tổ.
giỗ tổ chùa thiên thai bà rịa ngày nào
Lễ giỗ Tổ Huệ Đăng cử hành trong hai ngày 10 và 11 tháng 7 âm lịch, ngày 11 là ngày Tổ viên tịch. Đây là lễ lớn nhất trong năm của tổ đình, chư tăng các chùa trong tông và Phật tử nhiều nơi về dự.