VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tu viện Tengboche dưới chân đỉnh Everest, Khumbu

Dawa Choling Gompa, Thyangboche Monastery, Tu viện Tengboche Khumbu

Đại tùng lâm Phật giáo Kim Cương thừa lớn và linh thiêng nhất của cộng đồng người Sherpa tại vùng cao nguyên Khumbu (Vườn quốc gia Sagarmatha), ngự ở độ cao 3.867 mét trên sống núi hợp lưu hai dòng sông băng Imja Khola và Dudh Koshi dưới bóng cụm đỉnh tuyết sơn Everest, Lhotse và Ama Dablam.

Khởi lập
Năm 1916
Lạt ma Gulu (Chatang Chotar) kiến tạo theo truyền thống Cổ Mật Nyingma và tu viện mẹ Rongbuk phía bắc Everest
Độ cao thực địa
3.867 mét
tọa lạc trên yên ngựa núi Tengboche thuộc Di sản Thế giới Vườn quốc gia Sagarmatha, nhìn thẳng ra đỉnh Ama Dablam và Everest
Đại lễ truyền thống
Mani Rimdu
pháp hội mật điển 19 ngày vào tháng Mười âm lịch Tây Tạng với vũ điệu mặt nạ Cham và nghi thức Mạn đà la cát

Trên cung đường hành hương và leo núi xuyên qua vùng thung lũng cao Khumbu thuộc huyện Solukhumbu ở miền đông bắc Nepal, sau khi vượt qua thị trấn Namche Bazaar và băng qua cây cầu treo bắc ngang dòng sông băng Dudh Koshi trắng xóa tại Phunki Tenga, người lữ hành phải men theo con dốc rừng đỗ quyên và thông tuyết dựng đứng suốt nhiều giờ đồng hồ. Khi những tán rừng nguyên sinh đột ngột mở ra ở độ cao 3.867 mét so với mực nước biển, một thảo nguyên yên ngựa bằng phẳng hiện lên giữa mây trời Himalaya: chính giữa thềm cỏ ấy là cổng bảo tháp Kani và những bức tường đá sơn đỏ thẫm của Tu viện Tengboche (tên pháp hiệu tiếng Tây Tạng là Dawa Choling Gompa, nghĩa là Tu viện Pháp Châu Mặt Trăng), phía sau là vách băng kim tự tháp của đỉnh Ama Dablam (6.812 mét) cùng dãy trường thành tuyết vĩnh cửu của Lhotse (8.516 mét) và đỉnh nóc nhà thế giới Everest (Sagarmatha / Chomolungma, 8.848,86 mét).

Được Lạt ma Gulu (Chatang Chotar) khởi dựng vào năm 1916 dưới sự ấn chứng tâm linh của đức Pháp vương Ngawang Tenzin Norbu (vị trụ trì Tu viện Rongbuk ở sườn bắc Everest thuộc Tây Tạng), Tengboche từ hơn một thế kỷ qua đã giữ vị thế là trung tâm Phật giáo Kim Cương thừa thuộc phái Cổ Mật Nyingma lớn nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với đời sống văn hóa của người Sherpa vùng Khumbu. Đối với cả chư tăng ẩn tu, người dân bản địa lẫn những đoàn leo núi quốc tế từ khắp năm châu, việc dừng chân trước chánh điện Tengboche để lắng nghe tiếng kèn đồng Dungchen ngân vang giữa thung lũng tuyết và xin một chiếc khăn lụa Khata cầu bình an trước khi bước vào vùng băng hà khắc nghiệt đã trở thành một nghi thức tâm linh thiêng liêng không thể tách rời khỏi lịch sử chinh phục đỉnh Everest.

Tu viện Tengboche dưới chân đỉnh Everest, Khumbu
Tu viện Tengboche dưới chân đỉnh Everest, Khumbu. Ảnh: Rohit Sharma, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

ITín Ngưỡng Thung Lũng Ẩn Mật Beyul Khumbu, Liên Hoa Sinh Đại Sư Và Thánh Điển Cổ Mật Của Người Sherpa

Để thấu hiểu vị thế thiêng liêng của Tu viện Tengboche, trước hết cần đặt ngôi cổ tự này vào trong vũ trụ quan Beyul (Thung lũng Ẩn mật) của Phật giáo Tây Tạng và lịch sử di cư của tộc người Sherpa (tên gọi Shar-pa trong tiếng Tây Tạng có nghĩa là Người đến từ phương Đông, tức vùng Kham miền đông Tây Tạng di cư qua đèo Nangpa La vào vùng Khumbu từ thế kỷ 16). Theo các bản kinh mật điển Terma (Pháp tạng phục tàng) gắn liền với Liên Hoa Sinh Đại Sư (Guru Rinpoche / Padmasambhava, bậc tổ sư truyền bá Phật giáo vào Tây Tạng và vùng Himalaya thế kỷ 8 từng tu tập tại Thánh địa Pharping và Động Asura của Liên Hoa Sinh Đại Sư), vùng thung lũng Khumbu dưới chân núi Everest là một Beyul được gia trì: nơi muôn loài thú rừng, chim chóc và cây cỏ đều được bảo hộ trong giới luật bất sát, và nơi người tu hành dễ dàng đạt được định lực giải thoát.

Theo truyền thuyết thiêng được lưu giữ tại Tengboche, khoảng hơn ba trăm năm trước khi tu viện được xây dựng, bậc đại thành tựu giả dòng Nyingma của vùng Khumbu là Tổ sư Lama Sangwa Dorje (thế kỷ 17, người từng sáng lập ngôi chùa cổ Pangboche ở phía trên Tengboche) đã bay qua bầu trời Khumbu và đáp xuống một tảng đá lớn trên đỉnh đồi Tengboche để nhập thiền định. Khi bước chân xuống đá, bàn chân của ngài đã in sâu vào phiến đá cứng một dấu chân rõ nét (ngày nay phiến đá có dấu chân Tổ sư Sangwa Dorje vẫn được bảo tồn trang trọng ngay bên trong chánh điện Tengboche). Trước khi rời đi, Tổ sư Sangwa Dorje đã để lại lời huyền ký rằng vào thời điểm nhân duyên chín muồi trong tương lai, trên chính ngọn đồi có dấu chân này sẽ mọc lên một đại tự viện Kim Cương thừa làm rạng rỡ ánh sáng Chánh pháp khắp miền núi tuyết Solukhumbu.

Bước vào bên trong tòa Dukhang (Đại Hùng Bảo Điện) ba tầng của Tu viện Tengboche, tâm điểm thờ tự tại chính giữa hậu cung là pho đại tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni Buddha) uy nghiêm bằng đồng mạ vàng cao hai tầng nhà (khoảng 6 mét), đầu tượng vươn lên tới tận tầng lầu hành lang phía trên. Hai bên bảo tòa Đức Phật Thích Ca là tôn tượng Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Manjushri, biểu trưng cho đại trí tuệ), Đức Di Lặc Bồ Tát (Maitreya, vị Phật tương lai) và Liên Hoa Sinh Đại Sư (Guru Rinpoche) cùng các hóa thân Tám Tướng Liên Hoa Sinh (Guru Tsengye). Tại các điện thờ phụ và trên hệ thống bích họa rực rỡ quanh tường còn tôn trí hình tượng Đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (Chenrezig), Đức Độ Mẫu Tara Xanh (Green Tara), các bổn tôn Garwang Toedreng Tsal (bổn tôn chủ lễ của pháp hội Mani Rimdu) và đặc biệt là vị sơn thần hộ pháp tối cao của đỉnh núi thiêng Khumbila là Khumbila (Khumbu Yul-Lha) cưỡi ngựa trắng bảo hộ bình an cho toàn thể cư dân Sherpa.

Theo giáo nghĩa

Danh hiệu chính thức của tu viện là Dawa Choling (Tu viện Pháp Châu Mặt Trăng), hàm chứa giáo nghĩa của truyền thống Mindrolling và Rongbuk thuộc phái Cổ Mật Nyingma: mặt trăng tròn vành vạnh tỏa ánh sáng thanh lương dịu mát giữa đêm tối vô minh mà không làm chói mắt chúng sinh, cũng như lòng đại bi (Karuna) và trí tuệ tính không (Shunyata) soi rọi khắp vùng núi tuyết khắc nghiệt.

Tại Tengboche, việc tu học không tách rời sự tôn kính thiên nhiên Himalaya. Người Sherpa gọi đỉnh Everest là Chomolungma (Thánh Mẫu của Vũ Trụ) và coi ngọn núi nhọn Khumbila phía sau Namche Bazaar là nơi ngự trị của vị hộ pháp đã quy y với Tổ sư Liên Hoa Sinh. Vì vậy, giáo lý được chư tăng Tengboche truyền dạy cho cộng đồng và du khách luôn nhấn mạnh sự khiêm cung trước thiên nhiên: không săn bắn thú rừng trong toàn bộ Vườn quốc gia Sagarmatha, không làm ô nhiễm nguồn nước băng hà và giữ tâm từ bi đối với mọi sinh linh trên đường hành hương.

Theo sử liệu

Sử liệu vùng Khumbu và khảo cứu của nhà nhân học Christoph von Fürer-Haimendorf ghi nhận rằng trước đầu thế kỷ 20, vùng Khumbu chỉ có các ngôi chùa làng (Lhakhang) dành cho các tu sĩ cư sĩ có gia đình (Ngakpa), hoàn toàn chưa có một tu viện tăng đoàn xuất gia độc thân (Celibate Monastic Sangha) chính quy. Cư dân Sherpa muốn xuất gia thọ giới Tỳ kheo hoặc tham dự các pháp hội lớn đều phải vượt qua con đèo băng Nangpa La cao gần 5.800 mét đầy hiểm nguy để sang Tu viện Rongbuk (Dzarongphu) ở phía bắc đỉnh Everest bên đất Tây Tạng, nơi bậc đại đạo sư Ngawang Tenzin Norbu (Zatul Rinpoche, 1867 tới 1940) đang hoằng pháp.

Nhận thấy sự vất vả của tín đồ vùng Khumbu, năm 1915, đạo sư Ngawang Tenzin Norbu đã chỉ dạy cho đệ tử xuất sắc người Sherpa của mình là Lạt ma Gulu (Chatang Chotar, 1850 tới 1933) trở về sườn nam Everest tìm lại dấu chân đá của Tổ sư Sangwa Dorje tại đồi Tengboche để lập tu viện. Với sự phát tâm cúng dường tài lực lớn lao của ba vị hào trưởng người Sherpa ở Namche Bazaar và Khumjung (đứng đầu là Kusang Tsering), công cuộc xây dựng Tu viện Tengboche được khởi công vào năm 1916 và hoàn thành sau ba năm lao động bền bỉ vào năm 1919, mở ra kỷ nguyên Phật giáo tu viện chính quy tại miền đông bắc Nepal.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều du khách quốc tế lần đầu đi trekking qua vùng Everest thường lầm tưởng rằng các lá cờ phướn nhiều màu treo dọc sườn đồi Tengboche và các vòng xoay bằng đồng quanh tường tu viện chỉ là vật trang trí cảnh quan leo núi. Thực chất, năm màu cờ Lungta (xanh dương, trắng, đỏ, xanh lá, vàng) in dày đặc chân ngôn Om Mani Padme Hum và hình ngựa gió bảo châu biểu trưng cho năm đại (không, phong, hỏa, thủy, địa) được tịnh hóa thành trí tuệ Ngũ Phương Phật; còn hàng trăm Kinh luân (Mani Khorlo) chỉ được xoay theo chiều kim đồng hồ để gửi lời cầu nguyện từ bi lan tỏa theo làn gió Himalaya đến khắp muôn loài.

IIHơn Một Thế Kỷ Kiên Cường Của Tengboche Qua Động Đất 1934, Hỏa Hoạn 1989 Và Dấu Chân Những Nhà Leo Núi Everest

Lịch sử của Tu viện Tengboche từ năm 1916 đến nay là một bản anh hùng ca về sức sống tâm linh bền bỉ của người Sherpa trước những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên vùng núi cao. Chỉ mười lăm năm sau ngày khánh thành, vào năm 1934, trận đại địa chấn Nepal - Bihar mạnh 8,0 độ Richter làm rung chuyển cả dãy Himalaya đã khiến ngôi chánh điện đầu tiên của Tengboche đổ sập hoàn toàn; vị Lạt ma khai sơn tuổi cao sức yếu là Lạt ma Gulu đã viên tịch không lâu sau biến cố ấy. Không hề nản lòng, cộng đồng người Sherpa khắp các bản làng Khumjung, Kunde, Pangboche và Namche Bazaar đã chung lưng đấu cật vận chuyển từng tảng đá, từng thân gỗ thông trên lưng qua vách núi để dựng lại ngôi tu viện ngay trên nền móng cũ.

Một năm sau đó, vào năm 1935, cậu bé Ngawang Tenzin Zangpo chào đời tại làng Namche Bazaar với nhiều điềm lành hy hữu; cậu được chính đức Pháp vương Tu viện Rongbuk xác nhận là hóa thân tái sinh (Tulku) của Lạt ma Gulu và được tấn phong làm Tengboche Rinpoche. Suốt hơn sáu thập kỷ trụ trì từ thập niên 1950 cho tới khi viên tịch năm 2020 ở tuổi 85, Đại sư Ngawang Tenzin Zangpo đã dẫn dắt Tu viện Tengboche vượt qua biến cố lịch sử thứ hai: vụ hỏa hoạn dữ dội vào ngày 19 tháng 1 năm 1989 (do chập hệ thống điện sưởi mới lắp đặt) đã thiêu rụi toàn bộ ngôi chánh điện cổ cùng nhiều pho kinh sách gỗ và pháp khí quý giá. Bằng uy đức của Tengboche Rinpoche, sự chung tay của quỹ Himalayan Trust do nhà chinh phục Everest đầu tiên Sir Edmund Hillary sáng lập, cùng các chuyên gia bảo tồn di sản quốc tế và thợ thủ công Sherpa, ngôi đại điện mới xây bằng đá cắt vuông vức kiên cố hơn gấp bội đã được tái thiết hoàn chỉnh và cử hành đại lễ khai quang trọng thể vào tháng 9 năm 1993.

  • Thế kỷ 17Tổ sư Lama Sangwa Dorje để lại dấu chân trên đá và lời huyền ký tại đồi Tengboche
    Bậc đại thành tựu giả vùng Khumbu nhập thiền định trên đỉnh đồi Tengboche, để lại dấu bàn chân in trên tảng đá và tiên tri về sự ra đời của một đại tự viện Kim Cương thừa tại đây.
  • Năm 1916 tới 1919Lạt ma Gulu khởi dựng Tu viện Tengboche (Dawa Choling Gompa)
    Theo chỉ dạy của Pháp vương Ngawang Tenzin Norbu (Tu viện Rongbuk), Lạt ma Gulu cùng ba thí chủ người Sherpa xây dựng tu viện tăng đoàn xuất gia đầu tiên của vùng Khumbu ở độ cao 3.867 mét.
  • Năm 1934 và năm 1935Đại địa chấn Nepal - Bihar và sự đản sinh của hóa thân Tengboche Rinpoche
    Trận động đất năm 1934 làm sập chánh điện đầu tiên và Lạt ma Gulu viên tịch; người dân Sherpa lập tức xây dựng lại chùa, và năm 1935 hóa thân tái sinh Ngawang Tenzin Zangpo chào đời tại Namche Bazaar.
  • Năm 1953 và năm 1979Điểm dừng chân lịch sử của đoàn thám hiểm Everest 1953 và công nhận Di sản Thế giới UNESCO
    Tháng 4 năm 1953, Tenzing Norgay và Edmund Hillary dừng chân nhận lễ chúc phúc tại Tengboche trước khi lần đầu tiên đặt chân lên đỉnh Everest ngày 29/5/1953; năm 1979 vùng Vườn quốc gia Sagarmatha bao gồm Tengboche được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới.
  • Năm 1989 tới năm 1993Biến cố hỏa hoạn tháng 1/1989 và công cuộc đại tái thiết quốc tế hoàn thành năm 1993
    Sau đám cháy thiêu rụi chánh điện ngày 19/1/1989, dưới sự lãnh đạo của Tengboche Rinpoche cùng sự hỗ trợ của Sir Edmund Hillary và bạn bè quốc tế, tòa đại điện bằng đá mới nguy nga được khánh thành năm 1993 và đứng vững qua trận động đất năm 2015.
Theo sử liệu

Tenzing Norgay, Sir Edmund Hillary và mối duyên sâu nặng với mái chùa Tengboche. Đối với huyền thoại leo núi người Sherpa Tenzing Norgay (1914 tới 1986), người lớn lên ở làng Thame và Khumjung gần đó, Tu viện Tengboche chính là thánh đường tuổi thơ nơi ông từng được cha mẹ gửi lên học làm chú tiểu thời niên thiếu. Vào mùa xuân năm 1953, khi đoàn thám hiểm Anh quốc do Đại tá John Hunt dẫn đầu cùng Tenzing Norgay và Edmund Hillary lập trại trên thềm cỏ Tengboche trên đường tiến vào trạm căn cứ Everest (EBC), các nhà sư của tu viện đã cử hành khóa lễ cầu an đặc biệt cho đoàn. Sau khi chinh phục đỉnh Everest thành công vào ngày 29 tháng 5 năm 1953, Edmund Hillary đã gắn bó trọn đời với người dân Sherpa, xây dựng trường học, bệnh viện, vườn ươm cây rừng quanh Tengboche và trực tiếp quyên góp tái thiết ngôi chùa sau vụ cháy năm 1989.

IIIKiến Trúc Đá Hộc Himalaya Ba Tầng, Cổng Kani, Đá Dấu Chân Tổ Sư Và Họa Phẩm Thangka Cổ Mật

Quần thể kiến trúc Tu viện Tengboche được quy hoạch hài hòa tuyệt đối với địa hình thảo nguyên núi cao Himalaya: phía trước là khoảng sân cỏ rộng mở nhìn thẳng ra cổng chào bảo tháp trắng, chính giữa là khối Dukhang (Đại Hùng Bảo Điện) ba tầng xây bằng đá granit đẽo tay kiên cố theo thức kiến trúc pháo đài tu viện Tây Tạng (tường đá dày thu nhỏ dần từ chân lên đỉnh để chống chịu động đất và gió bão), bao quanh là các dãy nhà tăng xá quét vôi trắng của khoảng năm mươi tới sáu mươi vị chư tăng thường trú cùng rừng thông và đỗ quyên cổ thụ.

Nhờ kỹ thuật xây dựng gia cố hiện đại kết hợp tường đá truyền thống trong đợt đại trùng tu năm 1989 tới 1993, khi trận động đất mạnh 7,8 độ Richter xảy ra vào tháng 4 năm 2015 làm hư hại nặng nề ngôi ni viện cổ ở làng Deboche phía dưới, tòa chánh điện chính của Tu viện Tengboche vẫn trụ vững an toàn, bảo vệ nguyên vẹn các báu vật mỹ thuật Phật giáo bên trong.

Cổng Bảo Tháp Kani (Entrance Chorten Gate) và Tháp trắng đầu đồi

Ngay điểm cuối con dốc từ Phunki Tenga bước lên thềm cỏ Tengboche là ngôi bảo tháp trắng và cổng vòm Kani có trần vẽ mạn đà la chư Phật rực rỡ, đánh dấu ranh giới bước vào tịnh độ thiêng liêng của tu viện.

Sân Đá Trung Tâm (Cham Courtyard) nơi cử hành vũ điệu mặt nạ

Khoảng sân lát đá phẳng rộng phía trước hiên chánh điện có dựng cột cờ phướn Darchog cao vút, là nơi chư tăng biểu diễn vũ điệu mặt nạ kim cương (Cham) trước hàng nghìn tín đồ mỗi mùa lễ hội Mani Rimdu.

Đại Hùng Bảo Điện (Dukhang) ba tầng và Đại tượng Phật Thích Ca cao 6 mét

Không gian bảo điện chính rộng lớn với hàng cột gỗ sơn son thếp vàng treo cờ lụa Thangka, chính giữa tôn trí pho tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng mạ vàng cao hai tầng nhà cùng tượng Tổ sư Liên Hoa Sinh, Văn Thù, Di Lặc và phiến đá lưu dấu chân Tổ sư Sangwa Dorje.

Hệ thống Bích họa Mật tông của nghệ nhân Tenzin Norbu và Tạng kinh các

Toàn bộ bốn bức tường nội điện được họa sư danh tiếng người Dolpo là Tenzin Norbu vẽ tay công phu sau năm 1989, tái hiện lịch sử truyền thừa Nyingma, Tịnh độ Núi Màu Đồng Vinh Quang của Liên Hoa Sinh và hai bên kệ gỗ lưu giữ trọn bộ Đại Tạng Kinh Kangyur và Tengyur.

Dãy Tăng xá, Trung tâm Văn hóa Sherpa và Vườn bảo tồn sinh thái Eco-Center

Xung quanh chánh điện là khu nhà ở của chư tăng, thư viện, nhà khách hành hương và Trung tâm Sinh thái Tengboche do UNESCO cùng quỹ bảo tồn hỗ trợ nhằm giáo dục du khách giữ gìn môi trường rừng quốc gia Sagarmatha.

Các thông số lịch sử, truyền thừa và kiến trúc của Tu viện Tengboche (Dawa Choling Gompa) tại vùng Khumbu. Nguồn: Tư liệu Tu viện Tengboche (tengboche.org), Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO (mã 120) và Wikidata (Q1358134)..
Hạng mụcThông số lịch sử và kiến trúcNguồn kiểm chứng
Tên gọi chính thứcTu viện Tengboche / Dawa Choling Gompa (Thyangboche Monastery)Hồ sơ Tu viện Tengboche, Wikidata Q1358134
Năm khởi lập và tái thiếtKhởi lập năm 1916 tới 1919; tái thiết sau động đất năm 1934 và sau hỏa hoạn từ năm 1989 tới 1993Biên niên sử Phật giáo vùng Khumbu và Himalayan Trust
Hệ phái truyền thừaPhật giáo Kim Cương thừa Tây Tạng, phái Cổ Mật Nyingma (nhánh truyền thừa Rongbuk và Mindrolling)Ban Quản trị Tu viện Dawa Choling Tengboche
Độ cao và vị trí địa lýCao độ 3.867 mét (12.687 feet), nằm trong Vườn quốc gia Sagarmatha (Di sản Thế giới UNESCO 1979)Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO (Sagarmatha National Park, số 120)
Địa chỉ hành chínhĐồi Tengboche, xã Khumbu Pasanglhamu, huyện Solukhumbu, tỉnh Koshi, NepalTổng cục Du lịch Nepal (Nepal Tourism Board)

IVThế Đất Và Hướng

Trong toàn bộ dãy Himalaya hùng vĩ, hiếm có một tự viện nào sở hữu cục diện địa lý kỳ vĩ như Tu viện Tengboche: ngự trên một yên ngựa núi độc lập giữa nơi giao hội của những dòng sông băng lớn và được bao bọc bốn phía bởi vòng cung những ngọn núi tuyết cao trên sáu nghìn tới tám nghìn mét. Phần dưới đây phân tích địa thế của tu viện theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét về long mạch sơn văn và thủy khẩu giao hội tại tọa độ 27,8361 độ vĩ bắc, 86,7639 độ kinh đông (cao độ 3.867 mét), Tu viện Tengboche tọa lạc ngay trên đỉnh sống núi (spur ridge) nhô ra tại điểm hợp lưu của hai dòng sông băng lớn bậc nhất vùng Khumbu: dòng Imja Khola chảy từ thung lũng Dingboche và chân núi Lhotse ở phía đông bắc xuống, hội tụ cùng dòng Dudh Koshi (Sông Sữa trắng xóa bắt nguồn từ sông băng Ngozumpa dưới chân đỉnh Cho Oyu ở phía tây bắc) ngay dưới chân đồi Phunki Tenga để tạo thành đại giang chảy về phương nam. Trong phép xem hình thế sơn thủy học truyền thống cũng như địa lý mật tông Tây Tạng (Sa-che), vị trí sống núi nằm giữa hai dòng nước lớn hợp lưu được gọi là cục diện nhị thủy giao nha, quần sơn triều củng (hai dòng nước ôm ấp bảo vệ, muôn ngọn núi lớn chầu về).

Xét về tọa sơn, triều án và hướng bảo điện, tòa Đại Hùng Bảo Điện của Tu viện Tengboche được kiến tạo tựa lưng vào sườn núi rừng thông và đỗ quyên của đỉnh Kantega (6.782 mét) và Thamserku (6.608 mét) ở phía nam đông nam, mặt tiền cổng chính mở về hướng Đông Bắc - Đông nhìn qua khoảng thung lũng cỏ rộng (đóng vai trò Nội Minh Đường và Ngoại Minh Đường) hướng thẳng về cụm Tuyết Sơn Triều Án hùng vĩ bậc nhất địa cầu: chính diện bên phải là ngọn Ama Dablam (6.812 mét, tên tiếng Sherpa nghĩa là Hộp Ngọc Trên Cổ Người Mẹ) vươn lên cân xứng như một bảo tháp kim cương khổng lồ, còn phía xa chính bắc là bức tường băng của Lhotse và đỉnh Everest (8.848,86 mét). Sự kết hợp giữa thế đất yên ngựa vững chãi ở độ cao gần bốn nghìn mét, hai dòng sông băng tả hữu hộ vệ và ngọn Ama Dablam làm tiền án đã biến Tengboche thành một mạn đà la tự nhiên giữa đất trời Himalaya.

VĐại Lễ Vũ Điệu Mặt Nạ Mani Rimdu Tháng Mười Tây Tạng Và Các Khóa Lễ Cầu An Trên Đỉnh Tuyết

Sự kiện văn hóa và tâm linh rực rỡ nhất trong năm tại Tu viện Tengboche cũng như toàn vùng Khumbu là đại pháp hội Mani Rimdu diễn ra suốt 19 ngày vào tháng Mười âm lịch Tây Tạng (thường rơi vào tháng 10 hoặc tháng 11 dương lịch, ngay sau mùa trăng tròn mùa thu). Được truyền thừa từ Tu viện Mindrolling ở miền trung Tây Tạng qua Tu viện Rongbuk sang Tengboche từ đầu thế kỷ 20, lễ hội tái hiện chiến thắng của trí tuệ và lòng từ bi của Tổ sư Liên Hoa Sinh trước các thế lực chướng ngại. Bảng dưới đây tổng hợp các kỳ lễ tiết chính tại tu viện.

Các kỳ đại lễ Kim Cương thừa Tây Tạng và sinh hoạt văn hóa tâm linh của người Sherpa tại Tu viện Tengboche. Nguồn: Ban Quản trị Tu viện Dawa Choling Tengboche (tengboche.org) và Tổng cục Du lịch Nepal (NTB)..
Thời gianHệ lịchTên lễ tiếtNghi thức và sinh hoạt tại Tu viện Tengboche
Từ mùng 1 tới ngày 19 tháng Mười (3 ngày lễ hội công cộng vào ngày 15, 16 và 17)Lịch Tây Tạng (tháng 10 hoặc tháng 11 dương lịch)Đại pháp hội Mani Rimdu (Vũ điệu Mặt nạ Cham và Lễ ban phước Hoàn trường thọ)Chư tăng kiến tạo Mạn đà la cát màu của bổn tôn Garwang Toedreng Tsal và trì tụng mật chú suốt 2 tuần; ngày Rằm cử hành lễ ban phước Wong (trao viên thuốc thảo dược đỏ Rilbu và hoàn trường thọ Tshereel cho hàng nghìn người dân Sherpa và du khách), ngày 16 trình diễn 16 màn vũ điệu mặt nạ kim cương Cham tại sân đá, và ngày 17 cử hành lễ Hỏa tịnh (Jinsak) cùng nghi thức xóa Mạn đà la cát dâng xuống dòng sông băng.
Mùng 1 tới ngày 15 tháng GiêngLịch Tây Tạng (tháng 2 hoặc tháng 3 dương lịch)Tết Cổ truyền Losar của người Sherpa và Tây TạngChư tăng và cư dân các bản làng Khumbu vân tập về Tengboche dâng đèn bơ, treo mới hàng nghìn lá cờ cầu nguyện Lungta và Darchog quanh đồi để cầu nguyện một năm mới mưa thuận gió hòa, tuyết tan an lành.
Tháng Tư âm lịch Tây Tạng (đặc biệt là ngày Rằm)Lịch Tây Tạng (tháng 5 hoặc tháng 6 dương lịch)Tháng Thánh Saga Dawa và Lễ kỷ niệm Đức Phật Đản Sinh, Thành Đạo, Niết BànToàn vùng Khumbu thực hành ăn chay, phóng sinh, đi nhiễu quanh bảo tháp và tụng đọc trọn bộ Đại Tạng Kinh Kangyur trong Đại Hùng Bảo Điện để hồi hướng công đức.
Tháng Năm hoặc tháng Sáu âm lịch Tây TạngLịch Tây Tạng (mùa hè tháng 6 tới tháng 7 dương lịch)Lễ hội Dumje của cộng đồng người Sherpa vùng KhumbuLễ hội cộng đồng truyền thống đánh dấu thời điểm kết thúc mùa gieo trồng khoai tây, kiều mạch và cầu bình an cho các gia đình người Sherpa, với nghi lễ rước pháp bảo và múa Tashi Zampa.
Mùa xuân (tháng 4 - 5) và mùa thu (tháng 10 - 11) hằng nămChu kỳ hàng ngày (15 giờ chiều)Khóa lễ tụng kinh chiều (Afternoon Puja) và nghi thức chúc phúc cho người leo núiMỗi buổi chiều vào lúc 15 giờ trong mùa hành hương và leo núi, chư tăng Tengboche mở cửa chánh điện cử hành thời kinh cầu an, cho phép các đoàn leo núi Everest và du khách vào ngồi tĩnh lặng lắng nghe tiếng kèn pháp khí và nhận sợi dây chỉ đỏ hộ mệnh.

Những viên thuốc thảo dược đỏ Rilbu và tiếng kèn Dungchen vang vọng đỉnh Everest. Vào ngày Rằm của lễ hội Mani Rimdu, hàng nghìn người dân Sherpa trong trang phục truyền thống rực rỡ từ các thung lũng xa xôi đi bộ nhiều ngày đường để xếp hàng ngay ngắn trên sân đá Tengboche, cúi đầu nhận sự gia trì trực tiếp từ vị trụ trì Rinpoche cùng những viên hoàn thảo dược đỏ Mani Rilbu được trì chú suốt nửa tháng ròng. Sang ngày hôm sau, khi những nhà sư khoác y phục gấm thêu và đeo mặt nạ các vị Hộ pháp bước ra sân xoay mình theo tiếng trống đồng, chập chõa và tiếng kèn dài Dungchen trầm hùng, cả không gian dưới chân đỉnh Ama Dablam và Everest như hòa làm một giữa con người và thần linh.

Từ những trang kinh cổ được các bậc tổ sư mang qua đèo tuyết giống như tại Bảo tháp Boudhanath và Tu viện Shechen Tennyi Dargyeling, Boudhanath ở thung lũng Kathmandu, Tu viện Tengboche ở độ cao 3.867 mét đã chứng minh rằng ngay tại nơi khí hậu khắc nghiệt nhất của hành tinh, ngọn đèn từ bi và trí tuệ của Đức Phật vẫn tỏa sáng ấm áp qua từng thế hệ người Sherpa.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đỉnh đồi Tengboche (cao độ 3.867 mét), xã Khumbu Pasanglhamu, huyện Solukhumbu, tỉnh Koshi
Đường tới
Tu viện Tengboche nằm trên cung đường đi bộ (trekking) chính dẫn vào Trạm căn cứ Everest (Everest Base Camp - EBC) thuộc Vườn quốc gia Sagarmatha và hoàn toàn không có đường ô tô, mọi di chuyển đều bằng đường bộ hoặc trực thăng. Lộ trình phổ biến nhất là đáp chuyến bay máy bay cánh quạt nhỏ (khoảng 30 tới 40 phút) từ Kathmandu hoặc từ sân bay Ramechhap (Manthali) đến Sân bay Tenzing-Hillary tại Lukla (cao độ 2.860 mét). Từ Lukla, du khách đi bộ dọc theo thung lũng sông Dudh Koshi qua Phakding (Ngày 1), leo dốc lên thị trấn Namche Bazaar (Ngày 2, nghỉ thích nghi độ cao Ngày 3), sau đó vào Ngày 4 đi bộ từ Namche Bazaar qua Kyangjuma, hạ độ cao xuống cầu treo Phunki Tenga (3.250 mét) rồi leo dốc xuyên rừng thông khoảng 2 tới 3 giờ đồng hồ (tổng quãng đường từ Namche tới Tengboche dài khoảng 10 km, mất 5 tới 6 giờ đi bộ) là tới cổng Kani trên đỉnh đồi Tengboche.
Toạ độ
27.8361, 86.7639
Khi tới nơi

Vì Tu viện Tengboche tọa lạc ở độ cao 3.867 mét, nguyên tắc quan trọng đầu tiên khi hành hương đến đây là tuân thủ nghiêm ngặt lịch trình thích nghi độ cao (nên nghỉ lại ít nhất hai đêm tại Namche Bazaar ở độ cao 3.440 mét trước khi đi bộ lên Tengboche để phòng ngừa chứng say độ cao cấp tính AMS). Khi bước vào khuôn viên tu viện, xin luôn đi vòng quanh các bảo tháp (Chorten), tường đá khắc kinh (Mani walls) và kinh luân theo chiều kim đồng hồ (giữ công trình thiêng ở bên tay phải của mình). Trước khi bước vào bên trong Đại Hùng Bảo Điện (Dukhang), quý vị cần cởi mũ nón, tháo giày dép để ở kệ gỗ ngoài hiên, mặc trang phục kín đáo ấm áp, giữ trật tự tuyệt đối khi chư tăng đang tụng kinh chiều (thường bắt đầu lúc 15 giờ) và lưu ý không chụp ảnh hay quay phim bên trong nội điện nếu không có sự cho phép của chư tăng quản tự.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tu viện Tengboche dưới chân đỉnh Everest, Khumbu

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tu viện Tengboche nằm ở độ cao bao nhiêu và thuộc truyền thống Phật giáo nào?

Tu viện Tengboche (tên pháp hiệu là Dawa Choling Gompa) nằm ở độ cao 3.867 mét (12.687 feet) so với mực nước biển tại huyện Solukhumbu, miền đông bắc Nepal. Đây là tu viện Phật giáo Tây Tạng lớn nhất vùng Khumbu của người Sherpa, thuộc phái Cổ Mật Nyingma và có mối liên hệ truyền thừa trực tiếp với Tu viện Rongbuk ở phía bắc đỉnh Everest và Tu viện Mindrolling ở Tây Tạng.

Ai là người sáng lập Tu viện Tengboche và ngôi chùa đã trải qua những biến cố lịch sử nào?

Tu viện được Lạt ma Gulu (Chatang Chotar) khởi lập vào năm 1916 (hoàn thành năm 1919) dưới sự hướng dẫn của Pháp vương Ngawang Tenzin Norbu. Trong thế kỷ 20, tu viện đã hai lần bị hủy hoại hoàn toàn bởi trận đại địa chấn năm 1934 và vụ hỏa hoạn ngày 19 tháng 1 năm 1989, nhưng cả hai lần đều được cộng đồng người Sherpa, đức Tengboche Rinpoche (Ngawang Tenzin Zangpo) cùng quỹ Himalayan Trust của Sir Edmund Hillary kiên cường tái thiết hoàn chỉnh vào năm 1993.

Từ sân Tu viện Tengboche có thể nhìn thấy những đỉnh núi tuyết nổi tiếng nào của dãy Himalaya?

Nhờ tọa lạc trên một sống núi thoáng đãng ở độ cao gần 3.900 mét, từ sân trước của Tu viện Tengboche du khách có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh 360 độ các đỉnh núi kỳ vĩ nhất của Vườn quốc gia Sagarmatha, nổi bật nhất ở hướng đông bắc là đỉnh Ama Dablam (6.812 m), bức tường tuyết Lhotse (8.516 m), đỉnh Everest (8.848,86 m) nhô lên phía sau Lhotse, cùng các đỉnh Thamserku, Kantega và Khumbila.

Lễ hội Mani Rimdu tại Tu viện Tengboche diễn ra vào thời gian nào và có ý nghĩa gì?

Đại pháp hội Mani Rimdu kéo dài 19 ngày vào tháng Mười âm lịch Tây Tạng (thường rơi vào tháng 10 hoặc tháng 11 dương lịch), với ba ngày lễ hội công cộng mở cửa cho toàn thể dân chúng vào ngày 15, 16 và 17. Lễ hội bao gồm nghi thức kiến tạo Mạn đà la cát màu, lễ ban phước trường thọ Wong bằng viên thuốc thảo dược đỏ Rilbu, các màn vũ điệu mặt nạ kim cương (Cham) của chư tăng trên sân đá và lễ hỏa tịnh cầu nguyện hòa bình cho thế giới.

Du khách đi trekking qua vùng Everest có thể vào tham dự khóa lễ tụng kinh của các nhà sư tại Tengboche không?

Hoàn toàn được phép. Vào khoảng 15 giờ chiều mỗi ngày trong mùa hành hương, chư tăng Tu viện Tengboche mở cửa Đại Hùng Bảo Điện để cử hành khóa lễ tụng kinh cầu an. Du khách và các nhà leo núi có thể cởi giày bước vào ngồi yên lặng ở hàng chiếu dành cho khách để lắng nghe tiếng tụng kinh và nhận lời chúc phúc bình an cho hành trình chinh phục vùng núi cao.

›Đọc Tiếp