Đi sâu vào lòng thung lũng khô cằn Wadi Araba thuộc vùng Sa mạc phía Đông của Ai Cập, nơi chỉ có cát vàng bỏng rát và những dãy núi đá vôi dựng đứng màu đỏ cháy của cao nguyên Nam Galala vươn lên đối diện vùng biển Hồng Hải, người lữ khách bất ngờ bắt gặp một ốc đảo xanh tươi rợp bóng cọ và ô-liu được bao bọc bởi những bức tường thành đá cao vút như một tòa pháo đài cổ đại. Khi bước qua cổng thành vào những con hẻm nhỏ lát đá trắng tĩnh lặng và cúi mình đi vào ngôi nhà thờ gạch bùn thấp nhỏ sực nức hương trầm nhũ hương, du khách sẽ thấy những bức bích họa tám trăm năm tuổi ánh lên dưới ánh nến lung linh ngay phía trên ngôi mộ nằm sâu trong lòng đá.
Thánh địa sa mạc huyền thoại ấy là Tu viện Thánh Antôn trên sa mạc Hồng Hải (phiên âm tiếng Ả Rập: Dayr Mar Antuniyus). Khởi nguồn từ năm 313 khi Thánh Antôn Cả (Abba Antonios, 251 tới 356) vượt sa mạc tìm tới ẩn cư trong hang đá trên núi Al-Qalzam và được các môn đệ chính thức xây dựng thành đan viện từ năm 356 tới 361 ngay sau khi Ngài viên tịch, nơi đây được toàn thế giới công nhận là đan viện Kitô giáo đang hoạt động liên tục cổ xưa nhất của nhân loại (sớm hơn cả Tu viện Thánh Catarina, Sinai gần hai thế kỷ), giữ vai trò là cái nôi nguyên thủy của truyền thống đan tu Chính Thống giáo cũng như toàn bộ Kitô giáo Đông Tây.

IThánh Antôn Cả (Abba Antonios, 251 Tới 356): Vị Tổ Phụ Của Đời Sống Đan Tu Kitô Giáo Toàn Cầu Và Linh Đạo Các Giáo Phụ Sa Mạc
Trong truyền thống đức tin của Giáo hội Chính Thống giáo Coptic Tòa Thánh Alexandria (giáo hội được truyền thừa từ Thánh Sử Mác-cô vào thế kỷ thứ nhất tại Ai Cập), mọi ngôi nhà thờ trong Tu viện Thánh Antôn đều tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi, cử hành Bí tích Thánh Thể tôn vinh Chúa Giêsu Kitô, kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria (Theotokos) và đặc biệt tôn kính vị thánh bổn mạng khai sơn là Thánh Antôn Cả (Saint Anthony the Great, tiếng Coptic gọi là Abba Antonios, nghĩa là Cha Antôn), bậc đại thánh được cả Chính Thống giáo phương Đông, Chính Thống giáo Cổ phương Đông lẫn Công giáo La Mã suy tôn là Tổ phụ của các Đan sĩ (Pater Monachorum).
Sinh năm 251 tại làng Coma (nay là Qiman al-Arus thuộc tỉnh Beni Suef ở Trung Ai Cập) trong một gia đình điền chủ Kitô hữu giàu có, chàng thanh niên Antôn mồ côi cha mẹ năm mười tám tuổi, thừa kế 300 mẫu đất màu mỡ (khoảng 120 héc-ta). Khoảng năm 270, khi bước vào nhà thờ làng đúng lúc vị linh mục đang đọc câu Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu (chương 19, câu 21): Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời, rồi hãy đến theo Tôi, Antôn đã hiến tặng toàn bộ ruộng đất cho dân làng, bán hết gia sản phát chẩn cho người nghèo, gửi em gái vào một cộng đoàn trinh nữ, rồi một mình đi vào sa mạc sống đời cầu nguyện và khổ chế suốt tám mươi lăm năm cho tới khi viên tịch ở tuổi 105.
Linh đạo mà Thánh Antôn Cả và các Giáo phụ Sa mạc (Desert Fathers) khởi xướng tại núi Al-Qalzam và vùng sa mạc Ai Cập thế kỷ 4 được gọi là cuộc tử đạo trắng (tử đạo của lương tâm và sự tĩnh lặng). Khi các cuộc bách hại đẫm máu của Đế chế La Mã chấm dứt sau Sắc lệnh Milan năm 313, Thánh Antôn nhận ra rằng người Kitô hữu cần một chiến trường tâm linh mới: rời bỏ sự xa hoa và ồn ào của các đô thị để đi vào sự tĩnh lặng tuyệt đối của sa mạc, nơi con người đối diện trực tiếp với chính tâm hồn mình, chiến đấu chống lại những dục vọng ích kỷ và kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa qua việc niệm tưởng không ngừng lời Kinh Cầu Chúa Giêsu cùng 150 bài Thánh Vịnh.
Khác với hình dung sai lầm rằng người ẩn sĩ là người trốn chạy xã hội, Thánh Antôn Cả đã thiết lập mô hình đan tu cân bằng giữa độc cư cầu nguyện trên hang núi và bác ái phục vụ con người dưới chân núi (kết hợp lối sống ẩn tu Anchoritic và bán cộng đoàn Lauras). Trong các lời dạy của Ngài được lưu truyền trong bộ Châm ngôn các Giáo phụ Sa mạc (Apophthegmata Patrum), Thánh Antôn khẳng định: Sự sống và cái chết của chúng ta nằm ở nơi người anh em đồng loại; nếu chúng ta thu phục được người anh em mình là chúng ta thu phục được Thiên Chúa, còn nếu chúng ta làm vấp phạm người anh em là chúng ta phạm tội với chính Đức Kitô.
Chỉ vài năm sau khi Thánh Antôn viên tịch năm 356, người bạn thân và môn đệ của Ngài là Thánh Athanasius, Thượng phụ Alexandria (người được Thánh Antôn trao tặng lại chiếc áo choàng da cừu như một di vật kế thừa trước lúc lâm chung) đã viết cuốn tiểu sử bất hủ Cuộc đời Thánh Antôn (Vita Antonii) vào khoảng năm 360. Tác phẩm này nhanh chóng được dịch từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Latinh, tiếng Coptic, tiếng Syriac và tạo nên một cuộc cách mạng tâm linh chấn động toàn bộ thế giới Địa Trung Hải: nó trực tiếp truyền cảm hứng cho Thánh Basiliô Cả lập quy tắc đan viện tại Tiểu Á, thúc đẩy Thánh Giêrônimô và Gioan Cassian đưa đan tu sang châu Âu, và chính là cuốn sách đã làm bừng tỉnh tâm hồn Thánh Augustinô thành Hippo trong khu vườn tại Milan năm 386 để đưa ông trở về với đức tin.
Tại trung tâm của Nhà thờ cổ Thánh Antôn trong đan viện hiện nay, ngay bên dưới khu vực ca đoàn trước cung thánh là một đường hầm đá nhỏ hẹp dẫn xuống Ngôi mộ nguyên thủy dưới lòng đất của Thánh Antôn Cả. Trước khi nhắm mắt lìa đời ngày 17 tháng 1 năm 356, Thánh Antôn đã nghiêm dặn hai môn đệ chăm sóc mình là Macarius và Amatas phải chôn thi hài Ngài dưới lòng đất mà không được ướp xác theo tục lệ cổ của Ai Cập để giữ trọn sự khiêm nhường. Suốt gần mười bảy thế kỷ qua, ngôi mộ đá dưới nền nhà thờ vẫn là nơi các đan sĩ và khách hành hương cúi đầu chạm tay cầu nguyện mỗi ngày.
IIHành Trình Vào Núi Trong Năm 313, Mười Bảy Thế Kỷ Thăng Trầm Giữa Sa Mạc Và Cuộc Phục Hưng Thế Kỷ 16
Sau hai mươi năm ẩn tu tại pháo đài bỏ hoang trên ngọn núi Pispir bên bờ đông sông Nile (Núi Ngoài) và thu hút hàng trăm môn đệ vây quanh, vào năm 313, ở tuổi sáu mươi hai, Thánh Antôn Cả khao khát tìm lại sự cô tịch sâu thẳm hơn. Ngài đã đi theo một đoàn lạc đà của người du mục Bedouin vượt qua vùng Sa mạc phía Đông hoang vu suốt ba ngày ba đêm về hướng biển Hồng Hải cho tới khi dừng chân dưới vách núi đá vôi Al-Qalzam (Núi Trong, thuộc cao nguyên Nam Galala), nơi có một mạch nước ngọt trong lành tuôn chảy từ vách đá dưới bóng những cây chà là. Tại đây, Thánh nhân sống thêm bốn mươi ba năm cuối đời trong hang đá trên lưng chừng núi, tự tay cuốc đất trồng lúa mì bên suối để làm bánh tiếp khách và hướng dẫn các môn đệ tìm tới.
Ngay sau khi Thánh Antôn viên tịch vào năm 356, các môn đệ của Ngài đã dựng những công trình đầu tiên bao quanh ngôi mộ của vị Tổ phụ và dòng suối ngọt dưới chân núi Al-Qalzam (từ năm 356 tới 361 dưới triều Hoàng đế Julianus). Trong khi các khu đan viện ở vùng hạ lưu như Scetis (Wadi El Natrun) nhiều lần bị tàn phá bởi các cuộc xâm lăng, vị trí biệt lập giữa lòng sa mạc Hồng Hải đã giúp Tu viện Thánh Antôn trở thành thành trì vững chắc nhất của Kitô giáo Ai Cập qua suốt thời kỳ Byzantine, thời kỳ Hồi giáo sơ kỳ, thời kỳ Thập tự chinh cho tới thời cận đại.
- Năm 313 tới ngày 17 tháng 1 năm 356 CNThánh Antôn Cả ẩn tu trên hang đá núi Al-Qalzam và sự ra đời của đan viện (356 tới 361)Thánh Antôn sống hơn bốn thập niên trong hang đá ở độ cao 680 mét trên núi Al-Qalzam cho tới khi viên tịch ở tuổi 105; ngay sau lễ an táng bí mật của Ngài, các môn đệ xây dựng nhà thờ cổ trên mộ Ngài cùng các phòng tu bên suối nước ngọt.
- Thế kỷ 6 tới thế kỷ 8 CNMở rộng các phòng tu đan sĩ bằng đá và trở thành nơi nương tựa qua các cuộc biến loạnĐan viện phát triển mạnh mẽ với hàng trăm đan sĩ; hệ thống phòng tu khổ hạnh bằng đá và gạch bùn thế kỷ 6 tới thế kỷ 7 (vừa được khai quật năm 2005 dưới nền Nhà thờ cổ) cùng lớp bích họa đầu tiên và Tháp canh phòng thủ Qasr được kiến tạo.
- Năm 1232 tới năm 1233 CN (Năm 949 lịch Tử đạo Coptic)Danh họa Coptic Theodore hoàn thành chu kỳ bích họa kiệt tác trong Nhà thờ cổ Thánh AntônDưới thời kỳ Ayyubid, bậc thầy hội họa Coptic là họa sĩ Theodore cùng xưởng vẽ của ông đã vẽ kín toàn bộ các bức tường và mái vòm của Nhà thờ cổ Thánh Antôn bằng chu kỳ bích họa rực rỡ khắc họa Chúa Kitô, các Thánh Kỵ sĩ và các Giáo phụ Sa mạc.
- Khoảng năm 1454 tới năm 1484 CNBiến cố nổi loạn bi thương của những người hầu du mục làm gián đoạn đời sống đan việnVào nửa cuối thế kỷ 15, những người hầu người du mục Bedouin làm thuê bên trong tường thành bất ngờ nổi dậy sát hại toàn bộ các đan sĩ để chiếm giữ ốc đảo và lấy các cuộn bản thảo kinh thánh quý giá bằng giấy da trong thư viện làm củi đun nấu suốt nhiều năm.
- Đầu thế kỷ 16 (Thời Giáo hoàng Thượng phụ Gabriel VII, 1525 tới 1568)Công cuộc đại tái thiết đan viện và khôi phục Thư viện thủ bảnGiáo hoàng Thượng phụ Coptic thứ 95 là Đức Gabriel VII (vốn chính là một đan sĩ xuất thân từ Tu viện Thánh Antôn) đã cử 20 đan sĩ từ Wadi El Natrun tới khôi phục toàn diện tu viện, xây dựng lại các nhà thờ, củng cố Tháp canh Qasr, tái lập thư viện và biến nơi đây thành trung tâm cung cấp các vị Thượng phụ cho Giáo hội Coptic và Giáo hội Ethiopia.
- Năm 1996 tới năm 2010 CNKhai quật khảo cổ phòng tu thế kỷ 6, phục chế bích họa năm 1232 và đại trùng tu tường thànhTrung tâm Nghiên cứu Mỹ tại Ai Cập (ARCE), các chuyên gia phục chế Ý và Hội đồng Cổ vật Tối cao Ai Cập thực hiện dự án bảo tồn quy mô lớn: làm sạch toàn bộ bích họa thế kỷ 13, phát hiện nền phòng tu thế kỷ 6 dưới sàn nhà thờ và trùng tu toàn bộ tường thành cổ dài gần 2 km.
Cuộc gặp gỡ huyền thoại giữa Thánh Antôn Cả và Thánh Phaolô Ẩn Sĩ cùng ổ bánh mì của chim quạ. Trong kho tàng bích họa của Nhà thờ cổ Thánh Antôn cũng như trong tác phẩm của Thánh Giêrônimô có ghi lại một câu chuyện tâm linh vô cùng cảm động gắn liền với rặng núi Galala này. Khi Thánh Antôn đã chín mươi tuổi, Ngài khởi tâm nghĩ rằng có lẽ không có ai sống đời ẩn tu trong sa mạc lâu năm hơn mình. Đêm ấy, Thiên Chúa mặc khải cho Ngài trong giấc mộng rằng ở phía sâu hơn bên kia rặng núi gần bờ biển Hồng Hải có một vị ẩn sĩ còn thánh thiện và đi vào sa mạc sớm hơn Ngài, đó là Thánh Phaolô thành Thebes (Abba Paula, 227 tới 341). Sáng hôm sau, Thánh Antôn chống gậy băng qua núi tìm tới hang của Thánh Phaolô (nơi ngày nay là Tu viện Thánh Phaolô Ẩn Sĩ cách đó vài chục cây số). Khi hai vị đại thánh ôm chầm lấy nhau chào hỏi bằng tên của nhau dù chưa từng gặp mặt, một con quạ đen từ trên trời bay xuống thả vào giữa hai vị nguyên một ổ bánh mì tròn. Thánh Phaolô mỉm cười nói với Thánh Antôn rằng suốt sáu mươi năm qua, mỗi ngày Chúa đều sai con quạ này mang tới cho Ngài nửa ổ bánh mì, nhưng hôm nay vì có Thánh Antôn đến thăm nên Chúa đã ban khẩu phần gấp đôi. Sau khi Thánh Phaolô viên tịch ở tuổi 113, chính Thánh Antôn đã mặc chiếc áo choàng do Thánh Phaolô đan bằng lá cọ và chôn cất người bạn đồng tu của mình.
IIIPháo Đài Tường Thành 18 Mẫu, Ròng Rọc Kéo Giỏ, Tháp Canh Qasr, Nhà Thờ Cổ Bích Họa Thế Kỷ 13 Và Hang Đá 1.150 Bậc
Nhìn từ trên sườn núi Al-Qalzam xuống, Tu viện Thánh Antôn hiện ra như một thị trấn pháo đài đan tu tự cung tự cấp hoàn chỉnh nằm giữa lòng sa mạc. Khuôn viên đan viện cổ (được mở rộng lên tới 18 mẫu Ai Cập, tương đương khoảng 7,5 héc-ta dưới thời Giáo hoàng Cyril IV vào thế kỷ 19) được bao bọc bởi vòng tường thành bằng đá vôi và gạch bùn cao từ 10 tới 12 mét, chu vi gần 2 cây số. Bên trong vòng tường thành ấy là những con hẻm nhỏ quanh co nối liền sáu ngôi nhà thờ, các dãy phòng ở của đan sĩ, tháp canh phòng thủ, nhà ăn cổ, cối xay bột, máy ép dầu ô-liu, thư viện và những khu vườn xanh mướt nhờ dòng suối ngọt cổ đại.
Trong suốt hơn một thiên niên kỷ rưỡi cho tới đầu thế kỷ 20, để ngăn chặn các cuộc đột kích bất ngờ của du mục sa mạc, vòng tường thành cao từ 10 tới 12 mét của Tu viện Thánh Antôn hoàn toàn không có cổng mở ở mặt đất (ngoại trừ một lối ngầm nhỏ bịt đá kín chỉ dùng khi khẩn cấp). Trên đỉnh tường thành phía bắc có một căn phòng gỗ nhô ra đặt hệ thống trục tời ròng rọc lớn bằng gỗ (gọi là Fatil hoặc Baraq): khi có khách hành hương, giám mục hay lương thực đến chân tường, các đan sĩ sau khi kiểm tra từ trên cao sẽ thả một chiếc giỏ đan lớn buộc dây thừng xuống rồi cùng nhau quay trục gỗ kéo người và hàng hóa bổng lên độ cao 10 mét qua đỉnh tường. Ngày nay, bên cạnh hai cổng vòm hiện đại, tháp tời ròng rọc gỗ cổ kính này vẫn được giữ nguyên vẹn.
Đứng sừng sững tại trung tâm khu tu viện cổ là tòa Tháp canh phòng thủ (Qasr) hình vuông cao năm tầng bằng đá và gạch có tường dày kiên cố. Tầng trệt và tầng một của tháp hoàn toàn không có cửa ra vào hay cửa sổ: lối duy nhất để bước vào trong tháp là đi qua một cây cầu gỗ rút (drawbridge) bắc lơ lửng trên không từ mái của Nhà thờ Đức Trinh Nữ Maria sang cửa tầng hai của tháp. Khi có biến loạn, toàn thể các đan sĩ rút vào trong tháp rồi kéo cây cầu gỗ lên. Bên trong năm tầng tháp có mạch dẫn nước ngầm riêng, kho chứa lúa mì và chà là đủ ăn cả năm, phòng cất giấu các báu vật thờ tự, và trên tầng năm cao nhất là Nhà nguyện Tổng lãnh Thiên thần Micae (vị tướng thiên binh cầm gươm bảo vệ các đan viện Coptic).
Trái tim tâm linh của đan viện là Nhà thờ cổ Thánh Antôn (Kanisat al-Qiddis Antuniyus al-Athariyya), một ngôi nhà thờ gạch bùn thấp lợp nhiều mái vòm tròn nối tiếp nhau để giữ sự mát mẻ giữa sa mạc. Ngay bên dưới khu vực ca đoàn trước bức bình phong cung thánh khảm ngà voi là đường hầm dẫn xuống căn phòng đá dưới lòng đất nơi an táng thi hài Thánh Antôn Cả từ năm 356. Đặc biệt, trong cuộc trùng tu từ năm 2005 tới 2008, các nhà khảo cổ thuộc Trung tâm Nghiên cứu Mỹ tại Ai Cập (ARCE) đã khai quật ngay dưới mặt sàn gian chính của nhà thờ các nền phòng tu bằng đá có bếp nấu và chữ viết Coptic có niên đại từ thế kỷ 6 tới đầu thế kỷ 7 (những phòng tu đan sĩ Kitô giáo có niên đại sớm nhất thế giới từng được phát hiện), hiện được trưng bày dưới lớp sàn kính cường lực dày cho khách hành hương chiêm ngưỡng.
Toàn bộ mặt tường, các cung vòm và lòng mái vòm bên trong Nhà thờ cổ Thánh Antôn được bao phủ bởi chu kỳ bích họa Trung cổ lớn nhất và hoàn chỉnh nhất của nghệ thuật Kitô giáo Coptic (được các chuyên gia Ý làm sạch lớp bồ hóng đèn dầu từ năm 1996 tới 2006). Theo dòng minh văn trong nhà thờ, bộ tranh tường này do bậc thầy hội họa Coptic là họa sĩ Theodore cùng xưởng vẽ hoàn thành năm 1232 tới 1233 trên nền các bức họa cổ hơn từ thế kỷ 7. Trong cung thánh là hình ảnh Chúa Giêsu Toàn Năng (Christ Pantocrator), Đức Trinh Nữ Maria, Bốn Sinh Vật Khải Huyền và các tiên tri Cựu Ước; dọc gian chính là các Thánh Kỵ sĩ Tử đạo cưỡi ngựa (Thánh George, Thánh Theodore, Thánh Mercurius, Thánh Claudius) cùng dải chân dung các Giáo phụ Sa mạc, nổi bật nhất là bức họa Thánh Antôn ngồi đàm đạo với Thánh Phaolô Ẩn Sĩ dưới bóng chim quạ mang bánh từ trời xuống.
Ở góc phía nam bên trong tường thành là Giếng suối Thánh Antôn ('Ayn al-Qiddis Antuniyus), mạch nước ngọt tự nhiên chảy ra từ một khe hang đá vôi sâu 30 mét trong lòng núi với lưu lượng ổn định khoảng 100 mét khối nước mát lành (nhiệt độ 23 độ C) mỗi ngày đêm suốt hơn 1.700 năm qua. Dòng suối này tưới mát cho toàn bộ vườn cọ, ô-liu, vườn nho và rau xanh của tu viện. Gần đó là Nhà ăn cổ thời Trung cổ với chiếc bàn đá dài, cối xay bột mì và máy ép dầu ô-liu bằng đá có từ thế kỷ 9, Nhà thờ Mười Hai Mái Vòm Hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô (năm 1776), Nhà thờ Thánh Mác-cô Khổ Hạnh, và Thư viện Tu viện nơi lưu giữ hơn 1.700 bộ thủ bản viết tay bằng tiếng Coptic, Ả Rập và Ethiopia.
Phía sau bức tường thành tu viện là con đường mòn leo núi dài khoảng 2 cây số gồm 1.150 bậc đá dẫn lên vách núi đá vôi Al-Qalzam tới Hang đá của Thánh Antôn (Magharat al-Qiddis Antuniyus) nằm ở độ cao 680 mét so với mực nước biển Hồng Hải (cao hơn mặt sân tu viện 276 mét). Để vào được bên trong hang, người hành hương phải cúi gập người đi qua một khe đá tự nhiên cực kỳ hẹp và tối dài khoảng 10 mét mới tới được căn phòng đá nhỏ bé rộng vài mét vuông, nơi Thánh Antôn đã cầu nguyện độc cư hơn bốn thập niên, với chiếc giường đá tự nhiên, bàn thờ đục vào vách đá và tầm nhìn bao quát toàn bộ thung lũng Wadi Araba ra tới tận biển Hồng Hải.
| Hạng mục kiến trúc | Niên đại và vị trí | Đặc trưng cấu trúc và giá trị di sản |
|---|---|---|
| Tường thành bao và Tháp ròng rọc | Thế kỷ 6 tới thế kỷ 19, bao quanh khuôn viên 18 mẫu (7,5 ha) | Tường đá và gạch bùn cao 10 tới 12 m, dài gần 2 km; bảo tồn tháp tời ròng rọc gỗ Fatil kéo giỏ qua tường |
| Nhà thờ cổ Thánh Antôn | Khởi dựng thế kỷ 4 (356 tới 361 CN), mở rộng thế kỷ 6 và thế kỷ 12 tới 13 | Xây trực tiếp trên hầm mộ Thánh Antôn Cả; dưới sàn kính là các phòng tu đan sĩ bằng đá thế kỷ 6 sớm nhất thế giới |
| Chu kỳ Bích họa Coptic | Thế kỷ 7 tới 8 (lớp đầu) và năm 1232 tới 1233 CN (do họa sĩ Theodore vẽ) | Quần thể bích họa Trung cổ nguyên vẹn nhất Ai Cập khắc họa Chúa Kitô, các Thánh Kỵ sĩ và các Giáo phụ Sa mạc |
| Tháp canh phòng thủ (Qasr) | Cao 5 tầng tại trung tâm đan viện (xây từ thế kỷ 6, trùng tu thế kỷ 12 và 16) | Vào bằng cầu gỗ rút từ mái Nhà thờ Đức Trinh Nữ; tầng 5 có Nhà nguyện Tổng lãnh Thiên thần Micae |
| Giếng suối và Thư viện thủ bản | Suối tự nhiên chảy từ năm 313 CN (100 m3/ngày); Thư viện tái lập thế kỷ 16 | Nguồn nước ngọt nuôi sống ốc đảo suốt 17 thế kỷ; thư viện lưu giữ hơn 1.700 thủ bản Coptic và Ả Rập quý giá |
| Hang đá Thánh Antôn trên núi | Ở độ cao 680 m trên vách núi Al-Qalzam (cách sân tu viện 1.150 bậc đá) | Hang đá tự nhiên hẹp nơi Thánh Antôn ẩn tu từ năm 313 tới 356 CN; có bàn thờ đá cử hành phụng vụ |
IVThế Đất Và Hướng
Kiến trúc đan viện Chính Thống giáo Coptic định hướng toàn bộ các nhà thờ theo nguyên tắc phụng vụ Kitô giáo cổ truyền: cung thánh (Haikal) và bàn thờ luôn đặt ở chính Đông hướng về phía mặt trời mọc (biểu trưng cho Đức Kitô Phục Sinh là Mặt Trời Công Chính), chứ không sử dụng thuật phong thủy Bát quái Á Đông. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu địa thế kỳ vĩ của núi Al-Qalzam và ốc đảo Tu viện Thánh Antôn theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện.
Xét trên đại cục địa hình vùng Sa mạc phía Đông của Ai Cập tại tọa độ 28,9242 độ vĩ bắc, 32,3500 độ kinh đông, Tu viện Thánh Antôn tọa lạc tại một huyệt đạo ốc đảo sơn thủy giao hòa độc nhất vô nhị giữa sa mạc khô cằn. Phía sau lưng (phía nam và đông nam) của đan viện là dãy núi đá vôi dựng đứng Al-Qalzam (thuộc khối cao nguyên Nam Galala cao trên 1.200 mét) đứng sừng sững như một bức Thái Tổ Sơn và Huyền Vũ khổng lồ bằng đá che chắn toàn bộ những cơn bão cát nóng từ sa mạc sâu; trong khi mở rộng ra phía trước mặt (phía bắc và đông bắc) là thung lũng Wadi Araba rộng tới hơn ba mươi cây số đóng vai trò một Đại Minh Đường bằng phẳng hướng ra vịnh Suez và vùng biển Hồng Hải (Biển Đỏ), đối diện ở phía bắc thung lũng là dãy cao nguyên Bắc Galala làm Án Sơn chầu lại.
Điểm kỳ diệu nhất về mặt thủy pháp và sinh khí tại thế đất này chính là mạch nước ngọt tự nhiên (Thánh Tuyền) chảy ra từ chính lòng vách đá vôi khô hạn của núi Al-Qalzam. Theo phép xem mạch đất cổ truyền, giữa vùng sa mạc đá vôi hoàn toàn không có sông ngòi và lượng mưa gần như bằng không, nơi nào có mạch nước ngọt ấm áp tuôn chảy suốt hàng nghìn năm không cạn chính là nơi long mạch tụ khí kết huyệt (sơn quản nhân đinh, thủy quản sinh cơ). Hang đá ẩn tu của Thánh Antôn nằm ở độ cao 680 mét trên vách núi chính là Thiên Huyệt (nơi giao thông với bầu trời tĩnh lặng), còn đan viện xây dựng ngay tại nơi mạch nước phun ra dưới chân núi chính là Địa Huyệt (nơi tụ thủy dưỡng sinh), giúp cộng đoàn đan sĩ sinh tồn và duy trì mạch kinh cầu liên tục suốt mười bảy thế kỷ giữa hoang mạc.
VKinh Ca Ngợi Nửa Đêm Tasbeha Lúc 3 Giờ Sáng, Đại Lễ Kính Thánh Antôn Và Mùa Chay Thánh Coptic
Ngày nay, Tu viện Thánh Antôn là nơi tu hành của hơn 120 đan sĩ Chính Thống giáo Coptic sống đời khiết tịnh, khó nghèo và cầu nguyện theo đúng nếp sống của các Giáo phụ Sa mạc thế kỷ 4. Mọi nghi lễ phụng vụ tại đây được cử hành bằng ngôn ngữ Coptic cổ truyền (hậu duệ trực tiếp của ngôn ngữ Ai Cập thời các Pharaoh) kết hợp tiếng Ả Rập theo Lịch Coptic (Lịch Tử Đạo - Anno Martyrum):
| Thời điểm | Hệ lịch áp dụng | Tên lễ tiết và nghi thức | Hoạt động phụng vụ tại Tu viện Thánh Antôn |
|---|---|---|---|
| 3 giờ 00 rạng sáng mỗi ngày quanh năm | Nhịp sống phụng vụ đan viện hằng ngày | Kinh Ca ngợi Nửa đêm (Tasbeha) và Thánh lễ Phụng vụ Thánh Basiliô | Giữa màn đêm tĩnh mịch của sa mạc Hồng Hải, tiếng chuông vang lên lúc 3 giờ sáng gọi toàn thể đan sĩ tụ họp trong ánh nến của Nhà thờ cổ Thánh Antôn (hoặc Nhà thờ Các Thánh Tông Đồ vào mùa đông) để hát kinh Tasbeha, đọc Kinh Tin Kính Nicea và dâng Thánh lễ kéo dài tới lúc mặt trời mọc. |
| Ngày 22 tháng Tobi hằng năm (tức ngày 30 tháng 1 dương lịch, hoặc 31 tháng 1 năm nhuận) | Lịch Coptic (tương ứng ngày 17 tháng 1 lịch Julius cổ) | Đại lễ Kính Thánh Antôn Cả Viên Tịch (Feast of the Departure of Saint Anthony the Great) | Kỳ đại lễ trọng đại nhất trong năm của đan viện: hàng vạn tín hữu Coptic và khách hành hương từ khắp Ai Cập cùng thế giới đổ về ốc đảo, thức suốt đêm hát thánh ca, rước ảnh thánh quanh hầm mộ Thánh Antôn và leo 1.150 bậc đá lên hang núi cầu nguyện. |
| 55 ngày trước Đại lễ Phục Sinh và Tuần Thánh (Pascha) | Lịch Phụng vụ Coptic | Đại Mùa Chay Thánh 55 ngày (Great Lent) và Đại lễ Chúa Phục Sinh | Suốt 55 ngày Đại Mùa Chay (kỷ niệm 40 ngày Chúa Giêsu ăn chay trong hoang địa), các đan sĩ giữ chay tịnh nghiêm ngặt hoàn toàn thuần chay, tăng gấp đôi giờ cầu nguyện và bái lạy (Metania) trong phòng riêng cũng như tại nhà thờ cổ. |
| Ngày 25 tháng Paopi (tức ngày 4 tháng 11 dương lịch) | Lịch Coptic | Lễ Kính Thánh Mác-cô Khổ Hạnh (Feast of Saint Mark the Ascetic / Abba Marcos al-Antuni) | Lễ hội hành hương lớn thứ hai tại tu viện kính nhớ vị đan sĩ thánh thiện thế kỷ 14 Abba Marcos al-Antuni, người có ngôi mộ làm nhiều phép lạ đặt trong Nhà thờ Thánh Mác-cô ngay giữa vườn đan viện. |
Âm vang tiếng chũm chọe đồng và tam giác bạc trong đêm sa mạc Hồng Hải. Ai từng có dịp nghỉ đêm tại nhà khách hành hương của Tu viện Thánh Antôn và thức dậy vào lúc 3 giờ sáng để bước vào Nhà thờ cổ dưới ánh nến đều không thể quên được trải nghiệm âm thanh tâm linh tại đây. Không có đàn đại phong cầm hay nhạc cụ dây, toàn bộ các bài thánh ca Coptic có giai điệu truyền thừa từ thời cổ đại chỉ được giữ nhịp bằng một cặp chũm chọe nhỏ bằng đồng (Naqrazan) và một chiếc tam giác bằng kim loại bạc (Tawashiya) do các thầy đan sĩ gõ nhịp nhàng, hòa quyện cùng làn khói nhũ hương thơm ngát bay lên bao phủ lấy những bức bích họa các Giáo phụ Sa mạc và lời tuyên xưng Kinh Tin Kính Nicea, tạo cảm giác như thời gian đã ngưng đọng lại ở thế kỷ thứ 4.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Chân núi Al-Qalzam (cao nguyên Nam Galala), ốc đảo Wadi Araba, Sa mạc phía Đông, cách Zafarana 45 km về phía tây, tỉnh Biển Đỏ, Ai Cập
- Đường tới
- Tu viện tọa lạc tại chân núi Al-Qalzam trong thung lũng Wadi Araba thuộc tỉnh Biển Đỏ (Red Sea Governorate), cách thị trấn ven biển Zafarana (trên bờ vịnh Suez) khoảng 45 km về phía tây, cách thủ đô Cairo khoảng 250 km về phía đông nam (tương đương 2,5 tới 3 giờ đi ô tô theo đường cao tốc Cairo - Ain Sokhna - Zafarana rồi rẽ phải vào đường nhánh sa mạc trải nhựa phẳng phiu dẫn thẳng tới cổng tu viện) và cách khu nghỉ dưỡng Hurghada khoảng 300 km về phía bắc. Vì không có xe buýt công cộng chạy vào tận cửa tu viện trong thung lũng, cách thuận tiện nhất là thuê xe ô tô riêng có tài xế từ Cairo hoặc Ain Sokhna đi về trong ngày, kết hợp thăm luôn cả hai đan viện lịch sử nằm hai bên rặng núi Nam Galala là Tu viện Thánh Antôn và Tu viện Thánh Phaolô Ẩn Sĩ (cách nhau khoảng 75 km đường bộ).
- Toạ độ
- 28.9242, 32.35
Tu viện Thánh Antôn đón tiếp khách hành hương và du khách thuộc mọi tôn giáo hoàn toàn miễn phí vé vào cổng hàng ngày từ 5 giờ sáng tới 7 giờ tối (tuy nhiên trong khoảng 40 ngày đầu của Đại Mùa Chay Thánh trước lễ Phục Sinh và Mùa Chay Giáng Sinh, tu viện có thể giới hạn giờ đón khách tham quan để các đan sĩ tĩnh tâm; quý vị nên kiểm tra lịch trước khi đi). Khi vào thăm tu viện, một vị đan sĩ nói tiếng Anh và tiếng Ả Rập lưu loát sẽ trực tiếp dẫn quý vị đi thăm Nhà thờ cổ Thánh Antôn, hầm mộ Thánh nhân, các bức bích họa năm 1232, Tháp canh Qasr, Giếng suối Thánh Antôn và cối xay cổ. Nếu muốn leo 1.150 bậc đá lên Hang Thánh Antôn trên núi Al-Qalzam (mất khoảng 45 tới 60 phút leo lên và 30 phút đi xuống), quý vị bắt buộc phải bắt đầu leo từ sáng sớm hoặc trước 3 giờ chiều, mang giày thể thao bám tốt, đội mũ rộng vành và mang theo ít nhất 1,5 lít nước uống. Trang phục khi vào đan viện bắt buộc phải lịch sự kín đáo (quần dài qua mắt cá chân, áo có tay che kín vai; phụ nữ nên mang theo khăn choàng đầu khi bước vào trong các nhà thờ và hang thánh).
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tu viện Thánh Antôn trên sa mạc Hồng Hải
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tu viện Thánh Antôn hay Tu viện Thánh Catarina tại Sinai là tu viện Kitô giáo cổ nhất thế giới?
Tu viện Thánh Antôn trên sa mạc Hồng Hải là tu viện Kitô giáo đang hoạt động cổ xưa nhất thế giới: nơi đây khởi nguồn từ năm 313 CN khi Thánh Antôn Cả đến ẩn tu và được các môn đệ chính thức thiết lập thành đan viện từ năm 356 tới 361 CN ngay sau khi Ngài viên tịch. Trong khi đó, Tu viện Thánh Catarina tại bán đảo Sinai được Hoàng đế Đông La Mã Justinianus I xây dựng thành tu viện kiên cố vào khoảng năm 548 tới 565 CN (tức là sau Tu viện Thánh Antôn gần hai thế kỷ).
Tại sao một đan viện lớn như vậy lại có thể tồn tại suốt 1.700 năm giữa vùng sa mạc Hồng Hải khô cằn?
Sự sinh tồn kỳ diệu của Tu viện Thánh Antôn suốt mười bảy thế kỷ dựa vào Giếng suối Thánh Antôn ('Ayn al-Qiddis Antuniyus), một mạch nước ngọt tự nhiên chảy ra từ khe núi đá vôi Al-Qalzam ngay bên trong tường thành tu viện với lưu lượng khoảng 100 mét khối nước mát mỗi ngày đêm mà chưa bao giờ cạn kiệt, giúp các đan sĩ trồng trọt vườn cọ, ô-liu, rau xanh và làm bánh mì tự cung tự cấp hoàn toàn.
Ngôi mộ của Thánh Antôn Cả hiện nằm ở đâu trong tu viện?
Thi hài của Thánh Antôn Cả (viên tịch ngày 17 tháng 1 năm 356 ở tuổi 105) hiện vẫn yên nghỉ trong căn phòng đá ngầm sâu dưới lòng đất ngay bên dưới khu vực ca đoàn và cung thánh của Nhà thờ cổ Thánh Antôn. Du khách và khách hành hương có thể cúi đầu đi theo một đường hầm nhỏ hẹp dưới sàn nhà thờ để chạm tay vào phiến đá phủ trên mộ Ngài.
Giá trị đặc biệt của các bức bích họa bên trong Nhà thờ cổ Thánh Antôn là gì?
Sau khi được các chuyên gia bảo tồn Ý và Trung tâm Nghiên cứu Mỹ tại Ai Cập (ARCE) làm sạch lớp bồ hóng đèn dầu từ năm 1996 tới 2006, hệ thống tranh tường trong Nhà thờ cổ Thánh Antôn (chủ yếu do danh họa Coptic Theodore vẽ vào năm 1232 tới 1233 CN chồng lên lớp tranh thế kỷ 7) đã được công nhận là chu kỳ bích họa Kitô giáo Coptic thời Trung cổ lớn nhất, rực rỡ nhất và hoàn chỉnh nhất còn tồn tại trên thế giới.
Hành trình leo lên Hang đá của Thánh Antôn trên núi Al-Qalzam diễn ra như thế nào?
Từ cổng sau của tu viện, khách hành hương đi bộ theo một cầu thang đá dài khoảng 2 km gồm 1.150 bậc leo ngược lên vách núi đá vôi Al-Qalzam tới độ cao 680 mét so với mực nước biển (mất khoảng 45 tới 60 phút leo lên). Cửa hang là một khe đá tự nhiên rất hẹp dài 10 mét dẫn vào căn phòng đá nhỏ trong lòng núi, nơi Thánh Antôn đã sống độc cư cầu nguyện suốt hơn 40 năm cuối đời.