Ở vùng Dran, trên một ngọn đồi cao chừng một nghìn mét của cao nguyên, không khí mát hẳn so với đồng bằng. Giữa khoảng vườn tược xanh hiện ra một ngôi nhà nguyện có mái vươn cao, vòm nhọn, các đường nét thẳng đứng hướng lên trời. Gần đó là dòng sông Đa Nhim. Nơi này yên hơn hẳn những vùng đông người quanh đó.
Đây là Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương, nơi các đan sĩ dòng Xitô trong Công Giáo sống chung trọn đời theo nếp cầu nguyện và lao động. Cái tên Châu Sơn không sinh ra ở đây mà ở vùng đồi Nho Quan, Ninh Bình, năm 1936. Giai đoạn 1953 tới 1957, phần lớn cộng đoàn Châu Sơn chuyển vào miền Nam rồi dựng cơ sở mới trên cao nguyên này ngày 1 tháng 6 năm 1957 và mang theo tên ấy, để từ đó hai nơi cùng giữ một cái tên.

IĐan viện là gì và khác nhà thờ giáo xứ ở đâu
Người ngoài đạo lên Đơn Dương thấy ngôi nhà nguyện mái nhọn thường gọi đó là nhà thờ. Nhưng vai trò của nơi này khác một nhà thờ giáo xứ. Nhà thờ giáo xứ phục vụ giáo dân một vùng trong các việc dự lễ, rửa tội, cưới hỏi, đưa tiễn người qua đời dưới sự coi sóc của một linh mục chánh xứ. Đan viện là nơi một cộng đoàn đan sĩ sống chung trọn đời, và nhà nguyện của đan viện trước hết là nơi cộng đoàn ấy cùng đọc kinh nhiều lần mỗi ngày.
Theo trang của Hội dòng Xitô Thánh Gia, đan sĩ Xitô không làm các việc mục vụ như coi xứ hay dạy giáo lý ở giáo xứ, mà sống đời cầu nguyện chiêm niệm trong đan viện. Người muốn biết đời đan tu Việt Nam trông ra sao thì đây là một trong những nơi lớn để nhìn thấy nếp sống ấy.
Dòng Xitô, tên Latinh là Ordo Cisterciensis, được lập năm 1098 tại vùng đất Cîteaux gần Dijon bên Pháp. Chữ Xitô là tên Việt của địa danh ấy. Đan sĩ Xitô sống theo Luật Thánh Biển Đức, nhấn mạnh vâng phục viện phụ, khiêm nhường, thinh lặng, định cư và khổ chế.
Theo tư liệu của Giáo phận Đà Lạt, mỗi ngày đan sĩ ở Châu Sơn cùng dâng thánh lễ, cử hành bảy giờ kinh phụng vụ, suy niệm lời Chúa và xét mình. Bảy giờ kinh ấy trải từ khoảng ba giờ rưỡi sáng tới lúc tối, chia ngày thành những quãng đều nhau. Giữa các giờ kinh là lao động, vì trong truyền thống Biển Đức, làm việc bằng tay cũng là một cách cầu nguyện theo châm ngôn cầu nguyện và lao động (Ora et Labora).
Theo tư liệu của Giáo phận Đà Lạt và VietCatholic, lao động của đan sĩ ở đây gồm giảng tĩnh tâm, dạy học tại Học viện Triết Thần của đan viện, viết và dịch sách báo, chăm sóc bệnh nhân, canh tác vườn tược và hồ ao. Đan viện tự nuôi mình bằng những việc ấy, đúng với lý tưởng tự cấp của dòng.
Về quy mô, bản lược sử của Hội dòng ghi năm 2008 cộng đoàn có 22 linh mục, 65 đan sĩ khấn trọn, 37 khấn tạm và 9 tập sinh. Từ Châu Sơn Đơn Dương, các đan sĩ còn lập thêm các nhà con gồm Đan viện Thánh Mẫu Châu Thủy tại Bình Thuận ngày 2 tháng 7 năm 1971, cộng đoàn Châu Sơn Sacramento tại Hoa Kỳ ngày 15 tháng 8 năm 2001 và Đan viện Châu Sơn Nothgottes tại Đức năm 2013.
Có hai nơi cùng tên Châu Sơn và người ta hay lẫn. Nơi gốc là Đan viện Châu Sơn Nho Quan ở Ninh Bình, nơi cộng đoàn khai sinh ngày 8 tháng 9 năm 1936. Cơ sở ở Đơn Dương do cộng đoàn Châu Sơn dựng năm 1957 và thành đan viện tự trị năm 1961. Nơi gốc ở Nho Quan vẫn là một đan viện riêng. Hai nơi là cùng một dòng chảy của một cộng đoàn, không phải hai dòng tu khác nhau.
Những năm 1993 và 1994, Viện phụ Châu Sơn Đơn Dương được ủy thác giúp cộng đoàn Nho Quan phục hồi và đào tạo nhân sự. Nhà ở cao nguyên đã quay lại giúp nhà gốc ở đồng bằng.
IIMột cộng đoàn dựng nhà trên cao nguyên
Tư liệu của Hội dòng Xitô Thánh Gia ghi rõ các mốc di chuyển, dựng cơ sở và nâng phẩm cấp giáo luật của Châu Sơn Đơn Dương từ một cộng đoàn tạm cư tới hàng đan phụ viện.
- 8 tháng 9 năm 1936Cộng đoàn khai sinh ở Nho QuanCộng đoàn Châu Sơn khai sinh tại Phú Sơn, Nho Quan, Ninh Bình do các đan sĩ từ đan viện mẹ Phước Sơn về lập, chọn Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh làm bổn mạng.
- 1953 tới 1957Tạm cư tại Phước Lý rồi lên Đơn DươngTháng 4 năm 1953 phần lớn cộng đoàn chuyển vào miền Nam, tạm cư tại giáo xứ Phước Lý, Nhơn Trạch, Đồng Nai. Ngày 1 tháng 6 năm 1957, cộng đoàn chuyển hẳn lên khu đồn điền Canhkina cũ rộng 150 héc ta của Viện Pasteur dọc sông Đa Nhim thuộc xã Lạc Xuân, Đơn Dương.
- 1958 hoặc 1959Bề trên của cơ sở mớiTổng phụ dòng Xitô cử linh mục đan sĩ người Pháp Gilbert Barnabé (tên Việt là Cố Bá, 1904 tới 1975) từ Phước Sơn tới Đơn Dương làm Bề trên dẫn dắt cộng đoàn dựng cơ sở mới.
- 27 tháng 7 năm 1961Thành đan viện tự trịTòa Thánh ban sắc lệnh thiết lập Đan viện Châu Sơn Đơn Dương thành đan viện tự trị (prioratus sui iuris). Ngày 12 tháng 10 năm 1962, cha Stêphanô Trần Ngọc Hoàng đắc cử Viện trưởng tiên khởi.
- 13 tháng 11 năm 1963Nâng lên hàng đan phụ việnThánh bộ Tu sĩ ban nghị định (số Prot. 1769/61) nâng ba đan viện Phước Sơn, Châu Sơn và Phước Lý lên hàng Đan phụ viện (Abbatia). Ngày 2 tháng 3 năm 1964, Viện trưởng Stêphanô Trần Ngọc Hoàng đắc cử Viện phụ tiên khởi.
- 1964Chúc phong Viện phụ và lập Hội dòngNgày 19 tháng 3 năm 1964, Tổng quyền dòng Xitô Sighard Kleiner chủ sự lễ chúc phong ba vị Viện phụ tiên khởi tại Vương cung thánh đường Đức Bà Sài Gòn. Ngày 6 tháng 10 năm 1964, Giáo hoàng Phaolô VI ban sắc chỉ thành lập Hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam.
- 1993 tới 1994Giúp nhà gốc và tiếp nối các đời Viện phụViện phụ Châu Sơn Đơn Dương được ủy thác giúp cộng đoàn Nho Quan đào tạo nhân sự. Các đời Viện phụ kế tiếp gồm Liên An Vũ Đức Chính (1974), Giêrađô Nguyễn Văn Thất (1994), Phanxicô Xaviê Phan Bảo Luyện (2000), Ephrem Trịnh Văn Đức (2007), M. Vianney Nguyễn Tri Phương (2013) và Đaminh Trần Tiến Thiệu (2025).
- 2003 tới 2007Mở Học viện Triết Thần và mừng 50 nămNgày 4 tháng 8 năm 2003 đan viện thành lập Học viện Triết Thần Châu Sơn (khánh thành dãy học viện 70 phòng tháng 8 năm 2006) và năm 2007 mừng 50 năm định cư tại Đơn Dương.
Có hai chi tiết sử liệu cần đọc kỹ để khỏi nhầm lẫn. Thứ nhất là sự phân biệt giữa đan viện tự trị và đan phụ viện trong giáo luật dòng Xitô. Ngày 27 tháng 7 năm 1961, Tòa Thánh nâng Châu Sơn Đơn Dương lên bậc đan viện tự trị (prioratus sui iuris), đứng đầu là một Viện trưởng (Prior), nên ngày 12 tháng 10 năm 1962 cha Stêphanô Trần Ngọc Hoàng được bầu làm Viện trưởng tiên khởi. Tới ngày 13 tháng 11 năm 1963, Tòa Thánh mới nâng đan viện lên bậc đan phụ viện (Abbatia), đứng đầu là một Viện phụ (Abbot), nên ngày 2 tháng 3 năm 1964 cha Stêphanô Trần Ngọc Hoàng được bầu làm Viện phụ tiên khởi và thụ phong ngày 19 tháng 3 năm 1964. Nhờ phân biệt rõ hai bậc này, bạn đọc sẽ hiểu vì sao có nguồn ghi năm 1962 (Viện trưởng) và có nguồn ghi năm 1964 (Viện phụ).
Thứ hai, về thời điểm Tổng phụ dòng Xitô cử cha Gilbert Barnabé (Cố Bá) về làm Bề trên tại Đơn Dương, bản lược sử trên trang Hội dòng ghi ngày 21 tháng 8 năm 1958, trong khi bài khảo cứu trên VietCatholic ghi tháng 8 năm 1959. Thư viện ghi nhận cả hai mốc này để người tra cứu tiện đối chiếu.
IIINhà nguyện Gothic cách điệu và tượng Đức Mẹ gỗ sồi
Công trình trung tâm của đan viện là nhà nguyện. Theo tư liệu của Giáo phận Đà Lạt, nhà nguyện rộng chừng 750 m2, theo lối Gothic cách điệu, với kết cấu thẳng đứng, mái vòm vuốt nhọn và chiều cao vượt trội. Đường nét hướng lên ấy không phải để trang trí mà để đưa mắt người đọc kinh lên cao, đúng tinh thần của lối Gothic.
Khác với một nhà thờ giáo xứ, nơi phần lớn lòng nhà dành cho hàng ghế giáo dân, nhà nguyện đan viện theo truyền thống dành chỗ quan trọng cho ca đoàn đan sĩ, tức khu các đan sĩ cùng hát các giờ kinh. Khách tới dự ở phần dành riêng.
Rộng chừng 750 m2, mái vòm nhọn, kết cấu thẳng đứng. Nơi cộng đoàn quy tụ đọc bảy giờ kinh phụng vụ mỗi ngày.
Tượng cao 1,5 m, tạc bằng gỗ sồi lấy từ vùng Fatima bên Bồ Đào Nha do Viện phụ Stêphanô Trần Ngọc Hoàng đặt làm và đưa về đan viện.
Khu đất bazan màu mỡ trải dọc sông Đa Nhim trên ngọn đồi của cao nguyên Lang Biang ở độ cao trung bình chừng 1.050 m, gồm vườn tược, hồ ao và rừng thông.
Ngoài khu nội vi khép kín của đan sĩ, đan viện có khu Học viện Triết Thần khánh thành năm 2006 gồm 70 phòng cá nhân cùng khu nhà khách tĩnh tâm khoảng 40 phòng đón các linh mục, tu sĩ và giáo dân về cầu nguyện.
Kiến trúc ở đây nên được đọc cùng khu đất. Một đan viện Xitô không phải một ngôi nhà thờ đứng giữa khu dân cư mà là cả một khu định cư khép kín gồm nhà nguyện ở giữa, nhà ở của đan sĩ, nhà tập, học viện, nhà khách, rồi đất canh tác và mặt nước bao quanh. Người xem chỉ thấy nhà nguyện, nhưng cái làm nên đan viện là cả vòng đất ấy.
IVThế đất và hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong tư liệu của đan viện. Công Giáo không dạy phong thủy. Nhà thờ Công Giáo xưa thường quay theo hướng phụng vụ, tức hướng đặt bàn thờ theo quy tắc cử hành. Còn đan sĩ chọn đất theo lý do riêng của đời đan tu gồm xa phố để giữ thinh lặng, gần nước để sống, và đủ đất canh tác để tự nuôi mình. Khu đất bên sông Đa Nhim thỏa đủ ba điều ấy. Những dòng dưới đây chỉ là chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt.
Điều đọc trước tiên là ngọn đồi. Đan viện đứng trên một ngọn đồi của cao nguyên Lang Biang, độ cao chừng một nghìn mét. Trong phép xem đất, một nơi đứng cao hơn vùng xung quanh mà lưng có núi xa che là thế cư cao vọng viễn, ở cao nhìn xa. Thế ấy hợp với đời chiêm niệm, vì người ở đó nhìn ra được cả vùng mà không bị vùng ấy xáo trộn.
Thứ hai là dòng sông. Khu đất trải dọc sông Đa Nhim. Con mắt cổ truyền chuộng dòng nước đi men theo và ôm lấy đất, gọi là thủy bão, nước ôm, chủ về sự giữ gìn và no đủ. Với đan sĩ, dòng sông là nước cho vườn và hồ ao, là nền của đời tự cấp. Hai cách nhìn gặp nhau ở cùng một mảnh đất.
Thứ ba là khí hậu. Cao nguyên mát quanh năm, đất đủ tốt để làm vườn. Người xưa gọi nơi khí trong mà đất tốt là địa linh, và coi đó là chỗ hợp cho người muốn sống lâu một chỗ. Thư viện ghi đúng như một cách đọc, và dừng ở đó. Thư viện không có tư liệu về hướng la bàn chính xác của nhà nguyện, nên không đọc hướng cụ thể.
VNhịp ngày của đan sĩ và những lễ trong năm
Nhịp sống của đan viện đi theo ngày chứ không theo tuần như một giáo xứ. Mỗi ngày có thánh lễ và bảy giờ kinh phụng vụ, từ trước bình minh tới khi đêm xuống. Bảng dưới ghi những ngày lễ riêng trong năm gắn với dòng Xitô và với chính Châu Sơn Đơn Dương.
| Ngày | Lễ | Ý nghĩa với Châu Sơn Đơn Dương |
|---|---|---|
| 26 tháng 1 | Lễ ba thánh sáng lập dòng Xitô | Kính các thánh Robert, Alberic và Stephen Harding, những người lập dòng tại Cîteaux năm 1098. |
| 1 tháng 6 | Kỷ niệm dựng cơ sở | Ngày cộng đoàn Châu Sơn dựng cơ sở tại Đơn Dương năm 1957. |
| 11 tháng 7 | Lễ Thánh Biển Đức | Kính vị thánh viết bản luật đan tu mà đan sĩ Xitô sống theo. |
| 27 tháng 7 | Kỷ niệm thành đan viện tự trị | Ngày Tòa Thánh ban sắc lệnh năm 1961. |
| 15 tháng 8 | Lễ Đức Mẹ Lên Trời | Lễ trọng của các đan viện Xitô vốn dâng kính Đức Mẹ, cũng là ngày lập nhà mẹ Phước Sơn năm 1918. |
| 20 tháng 8 | Lễ Thánh Bernard | Kính vị thánh đã làm dòng Xitô lớn mạnh ở thế kỷ 12. |
| 8 tháng 9 | Lễ Sinh nhật Đức Mẹ | Ngày cộng đoàn Châu Sơn khai sinh ở Nho Quan năm 1936, gốc của cả hai đan viện mang tên Châu Sơn. |
Hội dòng mang tên Thánh Gia, nên lễ Thánh Gia trong tuần bát nhật Giáng Sinh cũng là một ngày riêng của các đan viện trong hội dòng. Ngoài những ngày ấy, đan viện còn đón khách về tĩnh tâm, một việc mà các đan sĩ ở đây coi là một phần lao động của mình.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Vùng Dran bên sông Đa Nhim, xã D'Ran (xã Lạc Xuân cũ, huyện Đơn Dương cũ), tỉnh Lâm Đồng
- Đường tới
- Đan viện ở vùng Dran bên sông Đa Nhim, xã D'Ran, tỉnh Lâm Đồng (trước năm 2025 là xã Lạc Xuân, huyện Đơn Dương), trên cao nguyên phía đông nam Đà Lạt.
- Toạ độ
- 11.8096, 108.5779
Đan viện là nơi các đan sĩ sống đời thinh lặng, phần lớn khuôn viên là nội vi mà khách không vào. Lệ của nơi ấy là khách chỉ đi trong phạm vi nhà nguyện, sân và lối được chỉ dẫn, ăn mặc kín đáo, nói khẽ, và không làm ồn khi đan sĩ đang đọc kinh. Người muốn ở lại tĩnh tâm cần liên hệ trước với đan viện. Chụp ảnh đan sĩ cần hỏi trước.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn Đơn Dương
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đan viện Châu Sơn Đơn Dương ở đâu?
Đan viện ở vùng Dran bên sông Đa Nhim, xã D'Ran, tỉnh Lâm Đồng (trước năm 2025 là xã Lạc Xuân, huyện Đơn Dương), trên một ngọn đồi của cao nguyên Lang Biang ở độ cao chừng 1.050 m. Khu đất rộng khoảng 150 héc ta, gồm nhà nguyện, nhà ở đan sĩ, học viện, nhà khách, vườn tược và hồ ao.
Đan viện Châu Sơn Đơn Dương thành lập năm nào?
Cộng đoàn Châu Sơn từ Nho Quan chuyển vào miền Nam giai đoạn 1953 tới 1957 và dựng cơ sở tại Đơn Dương ngày 1 tháng 6 năm 1957. Ngày 27 tháng 7 năm 1961 Tòa Thánh ban sắc lệnh lập đan viện tự trị, ngày 13 tháng 11 năm 1963 nâng lên hàng đan phụ viện, và năm 1964 cha Stêphanô Trần Ngọc Hoàng được chúc phong Viện phụ tiên khởi.
Châu Sơn Đơn Dương và Châu Sơn Nho Quan có liên quan gì?
Hai nơi cùng một cộng đoàn gốc. Cộng đoàn Châu Sơn khai sinh ở Nho Quan, Ninh Bình năm 1936, năm 1957 dựng thêm cơ sở ở Đơn Dương và mang theo tên Châu Sơn. Nho Quan vẫn là một đan viện riêng, và năm 1993, 1994 được Viện phụ Đơn Dương giúp phục hồi.
Đan sĩ dòng Xitô sống như thế nào?
Đan sĩ sống trọn đời trong đan viện theo Luật Thánh Biển Đức. Mỗi ngày họ dâng thánh lễ, cử hành bảy giờ kinh phụng vụ, suy niệm và lao động như canh tác vườn tược, hồ ao, giảng tĩnh tâm, dạy học, viết và dịch sách. Họ không làm việc coi xứ như linh mục giáo xứ.
Khách có vào tham quan đan viện Châu Sơn được không?
Khách được vào khu nhà nguyện và các lối được chỉ dẫn, còn phần lớn khuôn viên là nội vi dành riêng cho đan sĩ. Khách cần ăn mặc kín đáo, giữ thinh lặng, không làm ồn khi đan sĩ đang đọc kinh. Người muốn ở lại tĩnh tâm cần liên hệ trước với đan viện.