VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn Nho Quan

Đan viện Châu Sơn, Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn Ninh Bình

Nơi gốc của tên Châu Sơn, nơi các đan sĩ dòng Xitô sống trọn đời cầu nguyện và lao động quanh một thánh đường gạch đỏ giữa đồng Nho Quan.

Cộng đoàn khai sinh
8.9.1936
các đan sĩ từ dòng Phước Sơn về lập
Thánh đường
64 m
dài 64 m, rộng 20 m, cao 21 m
Cung hiến
1945
ngày 4 tháng 11, sau chừng sáu năm dựng

Rời đường lớn đi về phía tây Nho Quan, qua những cánh đồng và dãy núi đá thấp, quý vị sẽ thấy một khối gạch đỏ sẫm nhô lên giữa vùng đất bằng. Tường không trát vữa, gạch để trần nguyên màu nung, cửa vòm nhọn nối nhau dọc hai bên. Tới gần mới thấy khối ấy lớn thế nào với chiều dài 64 m, và bước vào trong là một lòng nhà cao vút, mái vòm quét trắng, ánh sáng đổ xuống từ các ô cửa trên cao.

Đây là thánh đường của Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn, nơi gốc của cái tên Châu Sơn trong Công Giáo. Người ở đây không phải giáo dân một giáo xứ mà là các đan sĩ, những người đã khấn sống trọn đời trong đan viện theo một nếp cầu nguyện và lao động lặp lại mỗi ngày suốt đời người. Ngôi thánh đường gạch ấy do chính một đan sĩ tự học vẽ kiểu và chỉ huy xây dựng mà không dùng cốt thép.

Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn Nho Quan
Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn Nho Quan. Ảnh: Kien1980v at Vietnamese Wikipedia, giấy phép Phạm vi công cộng, nguồn Wikimedia Commons.

IĐan viện là gì và khác nhà thờ giáo xứ ở đâu

Người ngoài đạo nhìn khối gạch đỏ ở Nho Quan thường gọi đó là nhà thờ. Đúng là có một thánh đường, nhưng vai trò của nơi này khác hẳn một nhà thờ giáo xứ. Nhà thờ giáo xứ phục vụ giáo dân một vùng trong các việc dự lễ, rửa tội, cưới hỏi, đưa tiễn người qua đời dưới sự coi sóc của một linh mục chánh xứ. Đan viện là nơi một cộng đoàn đan sĩ sống chung trọn đời, và thánh đường của đan viện trước hết là nơi cộng đoàn ấy cùng nhau đọc kinh nhiều lần mỗi ngày.

Theo trang của Hội dòng Xitô Thánh Gia, đan sĩ Xitô không làm các việc mục vụ tông đồ như dạy giáo lý hay coi xứ ở giáo xứ, mà sống đời cầu nguyện chiêm niệm trong đan viện. Chính sự ở yên một chỗ ấy là lời khấn của họ.

Theo giáo nghĩa

Dòng Xitô, tên Latinh là Ordo Cisterciensis, được lập năm 1098 tại vùng đất Cîteaux gần Dijon bên Pháp, do các thánh Robert, Alberic và Stephen Harding khởi xướng khi rời đan viện Molesme. Chữ Xitô là tên Việt của địa danh Cîteaux ấy.

Đan sĩ Xitô sống theo Luật Thánh Biển Đức, một bản luật đan tu từ thế kỷ 6, nhấn mạnh sự vâng phục viện phụ, khiêm nhường, thinh lặng, định cư và khổ chế. Định cư nghĩa là đan sĩ gắn đời mình với một đan viện, không đổi chỗ theo ý riêng. Ngày của đan sĩ chia giữa các giờ kinh phụng vụ chung trong thánh đường, việc đọc sách thiêng và lao động chân tay, theo tinh thần cầu nguyện và lao động của Luật Thánh Biển Đức.

Theo sử liệu

Châu Sơn là đan viện con đầu tiên của Phước Sơn (Quảng Trị), đan viện Xitô đầu tiên ở Việt Nam do linh mục thừa sai người Pháp Henri Denis Biển Đức Thuận (1880 tới 1933) lập ngày 15 tháng 8 năm 1918 (ban đầu mang tên Dòng Đức Bà Việt Nam, sáp nhập vào đại gia đình Xitô ngày 24 tháng 5 năm 1934). Ngày nay Châu Sơn Nho Quan thuộc Hội dòng Xitô Thánh Gia, hội dòng gồm các đan viện nam gốc Phước Sơn cùng nhánh nữ, được Tòa Thánh thiết lập năm 1964.

Theo tư liệu của Hội dòng, việc lập Châu Sơn khởi từ ước nguyện của Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, Giám mục tiên khởi người Việt coi sóc Địa phận Phát Diệm, người mong có một đan viện chiêm niệm trong giáo phận mình để làm, theo chữ của tư liệu, cây thu lôi thiêng liêng, tức một nơi cầu nguyện đem lại phúc lành cho cả vùng. Cũng chính vì đồi Cành He sát cạnh đan viện là nơi Thánh tử đạo Phaolô Lê Bảo Tịnh từng sống ẩn tu gần hai năm giữa thế kỷ 19, cộng đoàn Châu Sơn đã chọn Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh làm bổn mạng của cộng đoàn.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai nơi cùng mang tên Châu Sơn và người ta hay lẫn. Nơi ở Nho Quan là nơi gốc, cộng đoàn khai sinh tại đây năm 1936. Giai đoạn 1953 tới 1957 phần lớn cộng đoàn Châu Sơn chuyển vào miền Nam, dựng thêm một cơ sở mới ở vùng Dran, Lâm Đồng, mang theo tên Châu Sơn, và cơ sở ấy về sau thành đan viện tự trị năm 1961 rồi đan phụ viện năm 1963, xem bài Đan viện Châu Sơn Đơn Dương. Nơi gốc ở Nho Quan vẫn là một đan viện riêng. Hai nơi là cùng một dòng chảy của một cộng đoàn, không phải hai dòng tu khác nhau.

Cũng cần phân biệt rằng đan viện không phải nhà thờ giáo xứ, và khách tới thánh đường không phải là tới dự sinh hoạt của một giáo xứ, mà là bước vào nơi cầu nguyện của một cộng đoàn đan tu.

IITừ nhóm đan sĩ Phước Sơn tới thánh đường gạch đỏ

Tư liệu của Hội dòng Xitô Thánh Gia ghi rõ các mốc hình thành của Châu Sơn từ lúc tiếp nhận khu đồn điền cà phê cũ của ông Lacombe ở Nho Quan tới khi dựng xong ngôi thánh đường gạch đỏ.

  • 1936Khai sinh cộng đoàn
    Ngày 18 tháng 2 năm 1936, Bề trên Phước Sơn là cha Bernard Mendiboure và cha quản lý Martinô Võ Hồng Khanh nhận khu đồn điền cà phê Lacombe ở Nho Quan. Ngày 15 tháng 8, cha Anselmô Lê Hữu Từ được bầu làm Bề trên tiên khởi. Ngày 8 tháng 9, lễ Sinh nhật Đức Mẹ, cộng đoàn Châu Sơn khai sinh với thánh lễ đầu tiên.
  • 24 tháng 11 năm 1936Thành đan viện đơn lập
    Tòa Thánh cho Châu Sơn thành đan viện đơn lập (prioratus simplex), có tư cách riêng bên cạnh nhà mẹ Phước Sơn.
  • 24 tháng 11 năm 1937Mở tập viện
    Đan viện được phép mở tập viện chính thức để tự đón nhận và đào tạo các tập sinh.
  • 1939Khởi công thánh đường
    Đặt viên đá đầu tiên xây dựng thánh đường bằng gạch đỏ. Linh mục đan sĩ Placiđô Trương Minh Trạch tự nghiên cứu, thiết kế và chỉ huy thi công, với sự đóng góp lớn về tài chính từ tiền bổng lễ của linh mục hưu dưỡng Phêrô Nguyễn Đình Trưởng (thường gọi là Cha Thánh Trưởng, 1874 tới 1954).
  • 1940Xây đệ tử viện
    Xây dựng đệ tử viện để đón các thiếu niên tìm hiểu ơn gọi đan tu trước tuổi vào nhà tập.
  • 4 tháng 11 năm 1945Cung hiến thánh đường
    Đức tân Giám mục Anselmô Lê Hữu Từ trở về Châu Sơn chủ sự lễ cung hiến thánh đường sau hơn sáu năm xây dựng và truyền chức cho bốn tân linh mục vào ngày hôm sau. Ngày 8 tháng 12 năm 1945, cha Marcô Nguyễn Quang Vinh đắc cử Bề trên.
  • 1948 và 1950Hang đá Cành He và đan viện tự trị
    Năm 1948 Bề trên Marcô Nguyễn Quang Vinh cho xây lễ đài Đức Mẹ trên đồi Cành He gồm 299 bậc đá và khánh thành ngày 8 tháng 12 năm 1948. Năm 1950 Châu Sơn được nâng lên hàng đan viện tự trị (prioratus sui iuris).
  • 1993 tới 2005Phục hồi và mở lại tập viện
    Với sự trợ giúp đào tạo nhân sự từ Viện phụ Châu Sơn Đơn Dương trong các năm 1993 và 1994, cộng đoàn Nho Quan từng bước củng cố và tới năm 2005 mở lại tập viện chính thức.
Theo sử liệu

Có một chỗ các nguồn ghi khác nhau về ngày đặt viên đá đầu tiên của thánh đường trong năm 1939. Trang lịch sử chính thức của Hội dòng Xitô Thánh Gia, trang giáo xứ Châu Sơn và bài viết trên VietNamNet ghi mốc khởi công vào tháng 2 năm 1939 (ngày 18 tháng 2 năm 1939). Trong khi đó, bản niên biểu vắn tắt trên trang lưu trữ Wordpress năm 2013 của Hội dòng có đoạn trên ghi 8 tháng 12 năm 1939 và đoạn dưới ghi 18 tháng 12 năm 1939. Thư viện ghi rõ cả hai mốc tháng 2 và tháng 12 năm 1939 để bạn đọc tiện tra cứu. Về năm khởi công 1939 và ngày cung hiến 4 tháng 11 năm 1945 thì mọi nguồn đều thống nhất.

Một chi tiết đáng nhớ khác được báo VietNamNet ghi lại liên quan tới tháp chuông dở dang. Theo thiết kế ban đầu, thánh đường có một tháp chuông cao 60 m, nhưng trong nạn đói năm 1945 tại miền Bắc, nhà dòng đã đem khoản kinh phí dự trù xây tháp chuông ra cứu giúp người dân quanh vùng, khiến tòa tháp dừng lại ở phần chân đế như hiện thấy.

IIIThánh đường gạch đỏ không trát

Thứ làm người xem nhớ Châu Sơn là thánh đường quay mặt về hướng đông. Theo tư liệu của Hội dòng và VietNamNet, công trình dài 64 m, rộng 20 m, cao 21 m ở mái vòm, tường bao dày 0,6 m và cột trụ dày 1,2 m. Toàn bộ xây bằng gạch đỏ nung để trần không tô trát, không dùng cốt thép hiện đại mà liên kết bằng mạch vữa truyền thống và dựng hoàn toàn bằng giàn giáo cùng sức người.

Công trình mang phong cách Gothic châu Âu kết hợp vật liệu bản địa với cửa vòm nhọn, lòng nhà cao và hệ cột trụ vươn thẳng. Dọc hai bên tường ngoài dài 64 m là các cột trụ chịu lực thiết kế như những tháp nhỏ đối xứng tạo nhịp điệu vững chãi. Cha Placiđô Trương Minh Trạch, một đan sĩ tự nghiên cứu kiến trúc, đã vẽ kiểu và trực tiếp chỉ huy thi công cùng các đan sĩ và thợ nề địa phương.

Tường gạch đỏ để trần

Gạch đỏ nung không trát vữa giữ nguyên màu đất nung và mạch gạch, qua thời gian phủ lớp rêu phong cổ kính giữa khuôn viên xanh mát rộng chừng 10 héc ta.

Mái vòm trắng và cửa sổ hai lớp

Bên trong, mái vòm cao 21 m quét vôi trắng tương phản với tường gạch đỏ bên ngoài. Cửa sổ chia hai tầng trên và dưới, phía trong lắp kính khung gỗ, phía ngoài là các bức chạm thủng họa hình các thánh và Đàng Thánh Giá vừa lấy sáng vừa giảm nắng gắt.

Tường dày 0,6 m, cột dày 1,2 m

Không có cốt thép, sức chịu lực của công trình nằm ở kết cấu vòm và độ dày của tường gạch cùng hàng cột trụ đối xứng.

Tháp chuông 60 m dở dang

Theo thiết kế ban đầu, thánh đường có một tháp chuông cao 60 m nhưng dừng thi công năm 1945 vì nhà dòng dành ngân quỹ cứu đói người dân quanh vùng.

Vườn Fatima và giếng cổ đá tổ ong

Quanh thánh đường là nhà khấn, nhà tập, khu vườn cầu nguyện Fatima xây dựng năm 2011 kỷ niệm 50 năm rước tượng Đức Mẹ Fatima, lễ đài đồi Cành He 299 bậc đá và chiếc giếng cổ ngầm dưới lòng đất xây bằng đá tổ ong đỏ.

Quanh thánh đường là khu đất rộng và bằng phẳng giữa vùng núi rừng, có vườn cây, bãi cỏ và hồ nước. Bố cục ấy không đặt ra cho khách du lịch mà cho đời đan tu, lấy nơi đọc kinh làm trung tâm, nơi ở và nơi học ở hai bên, đất canh tác và mặt nước bao quanh.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong tư liệu của đan viện. Công Giáo không dạy phong thủy. Nhà thờ Công Giáo xưa thường quay theo hướng phụng vụ, tức hướng đặt bàn thờ theo quy tắc cử hành. Còn đan sĩ chọn đất theo lý do riêng của đời đan tu gồm xa phố để giữ thinh lặng, gần nước để sống, và đủ đất canh tác để tự nuôi mình bằng lao động. Những dòng dưới đây chỉ là chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt.

Thế đất và hướng

Điều đọc trước tiên là núi. Châu Sơn nằm ở vùng đất nơi đồng bằng Ninh Bình chạm vào dãy núi đá vôi phía tây. Trong phép xem đất, núi ở phía sau và hai bên là chỗ dựa và tay ôm, giữ cho khí không tán. Một khu đất bằng mà có núi vây quanh ở xa gọi là thế bình dương có sơn hộ, đất phẳng mà vẫn có núi che, hợp với nơi cần yên.

Thứ hai là nước và hướng. Khu đan viện có hồ nước, mạch nước ngầm trong vắt và nằm giữa ruộng đồng, còn ngôi thánh đường quay mặt về hướng đông đón ánh mặt trời buổi sớm, phù hợp với truyền thống hướng phụng vụ cổ điển (ad orientem) nhìn về phía mặt trời mọc. Con mắt cổ truyền coi nước tụ ở quanh là nơi giữ khí và nuôi đất, còn với đan sĩ thì nước là nguồn sống thiết thực cho ruộng vườn và đời sống tự cấp.

Thứ ba là khối đỏ giữa đồng xanh. Theo ngũ hành, sắc đỏ của gạch nung thuộc Hỏa, đồng ruộng và cây cỏ bao quanh thuộc Mộc. Mộc sinh Hỏa, tức đất xanh quanh nuôi khối đỏ ở giữa. Thư viện ghi nhận xét này như một cách đọc cổ truyền để bạn đọc tham khảo đối chiếu.

VNhịp ngày của đan sĩ và những lễ trong năm

Nhịp sống của đan viện không đi theo tuần như một giáo xứ mà theo ngày. Mỗi ngày đan sĩ về thánh đường nhiều lần để đọc các giờ kinh phụng vụ chung, bắt đầu từ khoảng ba giờ rưỡi sáng và kết thúc khi đêm xuống. Bảng dưới ghi những ngày lễ riêng trong năm gắn với dòng và với chính Châu Sơn.

Các ngày lễ lặp lại hằng năm trong lịch phụng vụ của dòng và của đan viện. Nguồn: Tư liệu của Hội dòng Xitô Thánh Gia và lịch phụng vụ Giáo hội Công Giáo..
NgàyLễÝ nghĩa với Châu Sơn
26 tháng 1Lễ ba thánh sáng lập dòng XitôKính các thánh Robert, Alberic và Stephen Harding, những người lập dòng tại Cîteaux năm 1098.
6 tháng 4Lễ Thánh Phaolô Lê Bảo TịnhQuan thầy của cộng đoàn Châu Sơn, vị thánh tử đạo từng sống ẩn tu trên đồi Cành He cạnh đan viện.
11 tháng 7Lễ Thánh Biển ĐứcKính vị thánh viết bản luật đan tu mà đan sĩ Xitô sống theo.
15 tháng 8Lễ Đức Mẹ Lên TrờiLễ trọng của các đan viện Xitô vốn dâng kính Đức Mẹ, cũng là ngày cha Biển Đức Thuận lập nhà mẹ Phước Sơn năm 1918.
20 tháng 8Lễ Thánh BernardKính vị thánh đã làm dòng Xitô lớn mạnh ở thế kỷ 12.
8 tháng 9Lễ Sinh nhật Đức MẹNgày cộng đoàn Châu Sơn khai sinh năm 1936, ngày kỷ niệm thành lập của đan viện.
4 tháng 11Kỷ niệm cung hiến thánh đườngNgày thánh đường gạch đỏ được cung hiến năm 1945.

Hội dòng mang tên Thánh Gia, nên lễ Thánh Gia trong tuần bát nhật Giáng Sinh cũng là một ngày riêng của các đan viện trong hội dòng. Ngoài những ngày ấy, đời đan sĩ giữ nhịp điệu đều đặn của giờ kinh và giờ lao động lặp lại quanh năm.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Xã Phú Sơn (xã Phú Sơn cũ, huyện Nho Quan cũ), tỉnh Ninh Bình
Đường tới
Đan viện ở thôn 4, xã Phú Sơn, tỉnh Ninh Bình (trước năm 2025 thuộc huyện Nho Quan), cách trung tâm Hoa Lư khoảng 35 km về phía tây bắc.
Toạ độ
20.3412, 105.7358
Khi tới nơi

Đan viện là nơi các đan sĩ sống đời thinh lặng, có phần nội vi dành riêng cho cộng đoàn mà khách không vào. Lệ của nơi ấy là khách chỉ đi trong phạm vi thánh đường, sân vườn ngoài và lối được chỉ dẫn (thường mở cửa đón khách ngoài giờ kinh phụng vụ của đan sĩ), ăn mặc kín đáo, nói khẽ, không làm ồn khi đan sĩ đang đọc kinh trong thánh đường. Chụp ảnh đan sĩ cần hỏi trước.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn Nho Quan

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đan viện Châu Sơn ở đâu?

Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn ở thôn 4, xã Phú Sơn, tỉnh Ninh Bình (thuộc huyện Nho Quan cũ), trên khu đất bằng giữa đồng ruộng và núi đá phía tây bắc Ninh Bình. Đây là nơi gốc của tên Châu Sơn, cộng đoàn khai sinh tại đây ngày 8 tháng 9 năm 1936.

Đan viện Châu Sơn xây năm nào?

Cộng đoàn khai sinh năm 1936. Thánh đường gạch đỏ khởi công năm 1939 (các nguồn ghi ngày 18 tháng 2 hoặc tháng 12 năm 1939) và được cung hiến ngày 4 tháng 11 năm 1945. Người thiết kế và chỉ huy xây dựng là linh mục đan sĩ Placiđô Trương Minh Trạch.

Đan viện khác nhà thờ giáo xứ thế nào?

Nhà thờ giáo xứ phục vụ giáo dân một vùng, có linh mục chánh xứ coi sóc. Đan viện là nơi các đan sĩ sống trọn đời, cầu nguyện và lao động, không làm việc coi xứ hay dạy giáo lý ở giáo xứ. Thánh đường đan viện trước hết là nơi cộng đoàn đọc kinh chung nhiều lần mỗi ngày.

Vì sao thánh đường Châu Sơn không trát vữa và tháp chuông dở dang?

Thánh đường xây bằng gạch đỏ nung để trần không tô trát, dài 64 m, cao 21 m ở mái vòm, tường dày 0,6 m, cột dày 1,2 m. Theo thiết kế ban đầu có một tháp chuông cao 60 m, nhưng trong nạn đói năm 1945 nhà dòng đã dùng khoản tiền xây tháp chuông để cứu giúp người dân quanh vùng nên tháp dừng lại ở phần chân đế.

Châu Sơn Nho Quan và Châu Sơn Đơn Dương khác nhau thế nào?

Hai nơi cùng một cộng đoàn gốc. Nho Quan là nơi khai sinh năm 1936. Giai đoạn 1953 tới 1957 phần lớn cộng đoàn chuyển vào miền Nam, dựng cơ sở mới ở Đơn Dương, Lâm Đồng năm 1957, thành đan viện tự trị năm 1961 và đan phụ viện năm 1963. Nho Quan vẫn là một đan viện riêng và năm 1993, 1994 được Viện phụ Đơn Dương giúp phục hồi.

›Đọc Tiếp