Rời đường lớn đi về phía tây Nho Quan, qua những cánh đồng và dãy núi đá thấp, quý vị sẽ thấy một khối gạch đỏ sẫm nhô lên giữa vùng đất bằng. Tường không trát vữa, gạch để trần nguyên màu nung, cửa vòm nhọn nối nhau dọc hai bên. Tới gần mới thấy khối ấy lớn thế nào: dài hơn sáu chục mét, và bước vào trong là một lòng nhà cao vút, mái vòm quét trắng, ánh sáng đổ xuống từ các ô cửa trên cao.
Đây là thánh đường của Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn, nơi gốc của cái tên Châu Sơn. Người ở đây không phải giáo dân một giáo xứ mà là các đan sĩ, những người đã khấn sống trọn đời trong đan viện, theo một nếp cầu nguyện và lao động lặp lại mỗi ngày suốt đời người. Ngôi thánh đường gạch ấy do chính một đan sĩ vẽ và dựng, không có bản vẽ kiến trúc, không có cốt thép.
IĐan Viện Là Gì Và Khác Nhà Thờ Giáo Xứ Ở Đâu
Người ngoài đạo nhìn khối gạch đỏ ở Nho Quan thường gọi đó là nhà thờ. Đúng là có một thánh đường, nhưng vai trò của nơi này khác hẳn một nhà thờ giáo xứ. Nhà thờ giáo xứ phục vụ giáo dân một vùng: dự lễ, rửa tội, cưới hỏi, đưa tiễn người qua đời, dưới sự coi sóc của một linh mục chánh xứ. Đan viện là nơi một cộng đoàn đan sĩ sống chung trọn đời, và thánh đường của đan viện trước hết là nơi cộng đoàn ấy cùng nhau đọc kinh nhiều lần mỗi ngày.
Theo trang của Hội dòng Xitô Thánh Gia, đan sĩ Xitô không làm các việc mục vụ tông đồ như dạy giáo lý hay coi xứ, mà sống đời cầu nguyện chiêm niệm trong đan viện. Họ không đi đâu cả. Chính sự ở yên một chỗ ấy là lời khấn của họ.
Dòng Xitô, tên Latinh là Ordo Cisterciensis, được lập năm 1098 tại vùng đất Cîteaux gần Dijon bên Pháp, do các thánh Robert, Alberic và Stephen Harding khởi xướng khi rời đan viện Molesme. Chữ Xitô là tên Việt của địa danh Cîteaux ấy.
Đan sĩ Xitô sống theo Luật Thánh Biển Đức, một bản luật đan tu từ thế kỷ 6, nhấn mạnh sự vâng phục viện phụ, khiêm nhường, thinh lặng, định cư và khổ chế. Định cư nghĩa là đan sĩ gắn đời mình với một đan viện, không đổi chỗ theo ý riêng. Ngày của đan sĩ chia giữa các giờ kinh phụng vụ chung trong thánh đường, việc đọc sách thiêng và lao động chân tay, theo tinh thần cầu nguyện và lao động của Luật Thánh Biển Đức.
Châu Sơn là đan viện con của Phước Sơn, đan viện Xitô đầu tiên ở Việt Nam do cha Biển Đức Thuận lập ngày 15 tháng 8 năm 1918. Ngày nay Châu Sơn Nho Quan thuộc Hội dòng Xitô Thánh Gia, hội dòng gồm các đan viện nam gốc Phước Sơn cùng nhánh nữ, được Tòa Thánh thiết lập năm 1964.
Theo các tư liệu của Hội dòng, việc lập Châu Sơn có sự giới thiệu và dàn xếp của Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, người mong có một đan viện chiêm niệm trong giáo phận mình để làm, theo chữ của tư liệu, cây thu lôi thiêng liêng, tức một nơi cầu nguyện cho cả vùng.
Có hai nơi cùng mang tên Châu Sơn và người ta hay lẫn. Nơi ở Nho Quan là nơi gốc, cộng đoàn khai sinh tại đây năm 1936. Năm 1957 cộng đoàn Châu Sơn dựng thêm một cơ sở mới ở vùng Dran, Lâm Đồng, mang theo tên Châu Sơn, và cơ sở ấy về sau thành một đan viện tự trị riêng, xem bài Đan viện Châu Sơn Đơn Dương. Nơi gốc ở Nho Quan vẫn là một đan viện riêng. Hai nơi là cùng một dòng chảy của một cộng đoàn, không phải hai dòng tu khác nhau.
Cũng cần phân biệt: đan viện không phải nhà thờ giáo xứ, và khách tới thánh đường không phải là tới dự sinh hoạt của một giáo xứ, mà là bước vào nơi cầu nguyện của một cộng đoàn đan tu.
IITừ Nhóm Đan Sĩ Phước Sơn Tới Thánh Đường Gạch Đỏ
Tư liệu của Hội dòng Xitô Thánh Gia ghi các mốc dựng và mở của Châu Sơn khá đủ. Chúng tôi chỉ ghi các mốc ấy, theo đúng phần việc của một đan viện: lập cộng đoàn, dựng nhà, mở nhà tập.
- 1936Khai sinh cộng đoànNgày 18 tháng 2, bề trên Phước Sơn là cha Bernard Mendiboure và cha quản lý Martinô Võ Hồng Khanh nhận khu đất ở Nho Quan. Ngày 8 tháng 9, lễ Sinh nhật Đức Mẹ, cộng đoàn Châu Sơn khai sinh với thánh lễ do vị bề trên tiên khởi của cộng đoàn chủ sự.
- 1936Thành đan viện đơn lậpNgày 24 tháng 11 năm 1936, Tòa Thánh cho Châu Sơn thành đan viện đơn lập, tức có tư cách riêng chứ không còn là một nhà phụ thuộc Phước Sơn.
- 1937Mở tập việnNgày 24 tháng 11 năm 1937, đan viện được phép mở tập viện chính thức, tức có thể tự đón và đào tạo người muốn vào dòng.
- 1939Khởi công thánh đườngĐặt viên đá đầu tiên của thánh đường. Cha Placiđô Trương Minh Trạch vẽ và chỉ huy việc xây.
- 1940Đệ tử việnXây đệ tử viện, nơi đón các thiếu niên tìm hiểu đời đan tu trước tuổi vào nhà tập.
- 1945Cung hiến thánh đườngNgày 4 tháng 11 năm 1945, thánh đường được cung hiến sau chừng sáu năm dựng.
- 1950Đan viện tự trịChâu Sơn được nâng lên hàng đan viện tự trị, cấp cao nhất trong tổ chức một đan viện Xitô.
- 2005Mở lại tập việnSau giai đoạn phục hồi khởi từ những năm 1993 và 1994, với sự giúp đỡ của Viện phụ Châu Sơn Đơn Dương, đan viện Nho Quan mở lại tập viện chính thức.
Có một chỗ các nguồn ghi khác nhau về ngày khởi công thánh đường. Trang lịch sử của Hội dòng Xitô Thánh Gia và bảng của thư viện ghi ngày đặt viên đá đầu tiên là 18 tháng 2 năm 1939. Bản lược sử đăng trên trang lưu của Hội dòng năm 2013 lại ghi 18 tháng 12 năm 1939. Hai ngày cách nhau đúng mười tháng, nhiều khả năng là một chỗ chép nhầm tháng, nhưng chúng tôi không chọn thay quý vị. Về năm thì hai nguồn cùng ghi 1939, và năm cung hiến 1945 thì mọi nguồn đều thống nhất.
Năm 1957 cộng đoàn Châu Sơn dựng cơ sở mới ở Đơn Dương, Lâm Đồng. Những năm 1993 và 1994, Viện phụ Châu Sơn Đơn Dương được ủy thác giúp cộng đoàn Nho Quan phục hồi và đào tạo nhân sự. Hai nơi vì thế vẫn gắn với nhau suốt chín mươi năm tính tới năm 2026.
IIIThánh Đường Gạch Đỏ Không Trát
Thứ làm người xem nhớ Châu Sơn là thánh đường. Theo bài của VietNamNet, công trình dài 64 mét, rộng 20 mét, cao 21 mét ở mái vòm. Tường bao dày 0,6 mét, cột dày 1,2 mét. Toàn bộ xây bằng gạch đỏ nung, để trần không tô trát, và không dùng xi măng cốt thép, dựng hoàn toàn bằng giàn giáo và sức người.
Công trình theo lối Gothic phương Tây: cửa vòm nhọn, lòng nhà cao, nhịp cột đều. Nhưng người vẽ nó không phải kiến trúc sư. Cha Placiđô Trương Minh Trạch, một đan sĩ chưa từng học trường kiến trúc, tự nghiên cứu, tự thiết kế và chỉ huy thi công. Thánh đường gạch đỏ ấy vì thế vừa là một công trình, vừa là một chứng từ về sức làm của một cộng đoàn đan tu.
Gạch đỏ nung không trát vữa, giữ nguyên màu và mạch gạch. Khối đỏ sẫm giữa đồng xanh là hình ảnh người xem nhớ nhất khi rời Nho Quan.
Bên trong, mái vòm cao chừng 21 mét quét trắng, tương phản với tường gạch đỏ bên ngoài, làm lòng nhà sáng hơn hẳn điều người ta chờ đợi từ mặt ngoài.
Tường 0,6 mét, cột 1,2 mét. Không có cốt thép, sức chịu của công trình nằm ở khối xây, nên tường và cột phải dày hơn nhiều so với một công trình bê tông cùng cỡ.
Theo thiết kế ban đầu, thánh đường có một tháp chuông cao 60 mét. Tháp ấy chưa bao giờ được xây xong, và phần dở dang đã thành một nét riêng của Châu Sơn.
Thánh đường là trung tâm, hai bên là nhà khấn và nhà tập. Đây là bố cục quen của đan viện: mọi dãy nhà xoay quanh nơi cộng đoàn đọc kinh chung.
Quanh thánh đường là khu đất rộng và bằng phẳng giữa vùng núi rừng, có vườn cầu nguyện Fatima và hồ nước. Bố cục ấy không đặt ra cho khách mà cho đời đan tu: nơi đọc kinh ở giữa, nơi ở và nơi học ở hai bên, đất canh tác và nước ở quanh.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong tư liệu của đan viện. Công giáo không dạy phong thủy. Nhà thờ Công giáo xưa thường quay theo hướng phụng vụ, tức hướng đặt bàn thờ theo quy tắc cử hành. Còn đan sĩ chọn đất theo lý do riêng của đời đan tu: xa phố để giữ thinh lặng, gần nước để sống, và đủ đất canh tác để tự nuôi mình bằng lao động. Những dòng dưới đây chỉ là chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt.
Điều đọc trước tiên là núi. Châu Sơn nằm ở vùng đất nơi đồng bằng Ninh Bình chạm vào dãy núi đá vôi phía tây. Trong phép xem đất, núi ở phía sau và hai bên là chỗ dựa và tay ôm, giữ cho khí không tán. Một khu đất bằng mà có núi vây quanh ở xa gọi là thế bình dương có sơn hộ, đất phẳng mà vẫn có núi che, hợp với nơi cần yên.
Thứ hai là nước. Khu đan viện có hồ nước và nằm giữa ruộng đồng. Con mắt cổ truyền coi nước tụ ở trước là nơi giữ khí và nuôi đất. Với đan sĩ, nước là thứ thực dụng hơn nhiều: nước cho ruộng, cho vườn, cho đời sống tự cấp. Hai cách nhìn gặp nhau ở cùng một mảnh đất, mỗi bên với lý do của mình.
Thứ ba là khối đỏ giữa đồng xanh. Theo ngũ hành, sắc đỏ thuộc Hỏa, đồng ruộng và cây cỏ thuộc Mộc. Mộc sinh Hỏa, tức đất xanh quanh nuôi khối đỏ ở giữa. Chúng tôi ghi đúng như một cách đọc cổ truyền và dừng ở đó. Chúng tôi không có tư liệu về hướng la bàn chính xác của thánh đường, nên không đọc hướng cụ thể.
VNhịp Ngày Của Đan Sĩ Và Những Lễ Trong Năm
Nhịp sống của đan viện không đi theo tuần như một giáo xứ mà theo ngày. Mỗi ngày đan sĩ về thánh đường nhiều lần để đọc các giờ kinh phụng vụ chung, bắt đầu từ trước khi trời sáng và kết thúc khi đêm xuống. Bảng dưới ghi những ngày lễ riêng trong năm gắn với dòng và với chính Châu Sơn.
| Ngày | Lễ | Ý nghĩa với Châu Sơn |
|---|---|---|
| 26 tháng 1 | Lễ ba thánh sáng lập dòng Xitô | Kính các thánh Robert, Alberic và Stephen Harding, những người lập dòng tại Cîteaux năm 1098. |
| 11 tháng 7 | Lễ Thánh Biển Đức | Kính vị thánh viết bản luật đan tu mà đan sĩ Xitô sống theo. |
| 15 tháng 8 | Lễ Đức Mẹ Lên Trời | Lễ trọng của các đan viện Xitô vốn dâng kính Đức Mẹ. Đây cũng là ngày cha Biển Đức Thuận lập Phước Sơn năm 1918, nhà mẹ của Châu Sơn. |
| 20 tháng 8 | Lễ Thánh Bernard | Kính vị thánh đã làm dòng Xitô lớn mạnh ở thế kỷ 12. |
| 8 tháng 9 | Lễ Sinh nhật Đức Mẹ | Ngày cộng đoàn Châu Sơn khai sinh năm 1936, ngày kỷ niệm thành lập của đan viện. |
| 4 tháng 11 | Kỷ niệm cung hiến thánh đường | Ngày thánh đường gạch đỏ được cung hiến năm 1945. |
Hội dòng mang tên Thánh Gia, nên lễ Thánh Gia trong tuần bát nhật Giáng Sinh cũng là một ngày riêng của các đan viện trong hội dòng. Ngoài những ngày ấy, đời đan sĩ không có mùa đông khách hay mùa vắng khách. Nhịp của họ là nhịp của giờ kinh và giờ lao động, lặp lại giống nhau quanh năm.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã Phú Sơn (xã Phú Sơn cũ, huyện Nho Quan cũ), tỉnh Ninh Bình
- Đường tới
- Đan viện ở xã Phú Sơn, tỉnh Ninh Bình (huyện Nho Quan cũ), phía tây vùng đồng bằng Ninh Bình, đi theo đường về phía Nho Quan rồi rẽ vào vùng đồng ruộng dưới chân núi.
- Toạ độ
- 20.3412, 105.7358
Đan viện là nơi các đan sĩ sống đời thinh lặng, có phần nội vi dành riêng cho cộng đoàn mà khách không vào. Lệ của nơi ấy là khách chỉ đi trong phạm vi thánh đường, sân và lối được chỉ dẫn, ăn mặc kín đáo, nói khẽ, không làm ồn khi đan sĩ đang đọc kinh trong thánh đường. Chụp ảnh đan sĩ cần hỏi trước.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn Nho Quan
Contribute photos, information or video for Our Lady of Chau Son Cistercian Abbey, Nho QuanThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đan viện Châu Sơn ở đâu
Đan viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn ở xã Phú Sơn, tỉnh Ninh Bình, thuộc huyện Nho Quan cũ, trên một khu đất bằng giữa đồng ruộng và núi đá phía tây Ninh Bình. Đây là nơi gốc của tên Châu Sơn, cộng đoàn khai sinh tại đây ngày 8 tháng 9 năm 1936.
Đan viện Châu Sơn xây năm nào
Cộng đoàn khai sinh năm 1936. Thánh đường gạch đỏ khởi công năm 1939, các nguồn ghi ngày 18 tháng 2 hoặc 18 tháng 12, và được cung hiến ngày 4 tháng 11 năm 1945. Người vẽ và chỉ huy xây là cha Placiđô Trương Minh Trạch, một đan sĩ không học trường kiến trúc.
Đan viện khác nhà thờ giáo xứ thế nào
Nhà thờ giáo xứ phục vụ giáo dân một vùng, có linh mục chánh xứ coi sóc. Đan viện là nơi các đan sĩ sống trọn đời, cầu nguyện và lao động, không làm việc coi xứ hay dạy giáo lý. Thánh đường đan viện trước hết là nơi cộng đoàn đọc kinh chung nhiều lần mỗi ngày.
Vì sao thánh đường Châu Sơn không trát vữa
Thánh đường xây bằng gạch đỏ nung để trần, không tô trát, và không dùng cốt thép, dựng bằng giàn giáo và sức người. Công trình dài 64 mét, cao 21 mét ở mái vòm, tường dày 0,6 mét, cột dày 1,2 mét. Chính lớp gạch để trần làm nên dáng riêng của nó.
Châu Sơn Nho Quan và Châu Sơn Đơn Dương khác nhau thế nào
Hai nơi cùng một cộng đoàn gốc. Nho Quan là nơi khai sinh năm 1936. Năm 1957 cộng đoàn dựng thêm cơ sở mới ở Đơn Dương, Lâm Đồng, cơ sở ấy thành đan viện tự trị năm 1961. Nho Quan vẫn là một đan viện riêng, và năm 1993, 1994 được Viện phụ Đơn Dương giúp phục hồi.