VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Quán Cháo

Chúc Sơn Tiên Từ, Đền Tiên Núi Cháo, quần thể Đền Dâu và Đền Quán Cháo

Một ngôi đền nhỏ bên con dốc của đường thiên lý cũ, nơi dân gian kể rằng Thánh Mẫu từng hiện làm cô hàng cháo cho người qua đèo.

Trùng tu
1854
bia đá năm Tự Đức thứ 7 trước sân đền
Vị thờ chính
Thánh Mẫu Liễu Hạnh
hàng Mẫu, Thiên phủ
Xếp hạng
Cấp tỉnh, 2009
theo trang Đạo Mẫu, chưa thấy quyết định gốc

Xe chạy trên Quốc lộ 1A tới quãng dốc Tam Điệp thì chậm lại, và ngay bên lề đường, dưới chân một ngọn núi đá không cao, là mái đền Quán Cháo. Đền không lùi sâu vào trong như nhiều nơi thờ Mẫu khác mà đứng sát con đường, gần tới mức tiếng xe tải lên dốc vọng vào tận sân. Người đi lễ dừng xe, bước vài bậc là đã tới cửa.

Cái tên nói gần hết chuyện của nơi này. Tên chữ là Chúc Sơn Tiên Từ, nghĩa là đền tiên ở núi Cháo, còn tên nôm là Quán Cháo. Dân gian kể rằng Thánh Mẫu Liễu Hạnh từng hiện làm cô hàng bán cháo bên dốc cho người qua đèo, và núi lẫn đền đều lấy tên từ cái quán ấy. Đây không phải nơi gốc của việc thờ Mẫu, mà là một chặng dừng trên đường thiên lý.

Đền Quán Cháo
Đền Quán Cháo. Ảnh: Vudoanh2101 (thảo luận), giấy phép Phạm vi công cộng, nguồn Wikimedia Commons.

IThánh Mẫu Liễu Hạnh Và Cái Quán Bên Dốc

Vị thờ chính của đền là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, thuộc hàng Mẫu trong điện thần Tứ Phủ, được đồng nhất với Mẫu Thượng Thiên cai quản Thiên phủ, tức miền trời, sắc đỏ. Theo báo Dân Việt, mia.vn và các trang Đạo Mẫu, cung cấm thờ tượng Thánh Mẫu cùng ban Nhị Vị Chầu Bà ở bên tả, cung đệ nhị thờ Chúa Bản Đền ở chính giữa với ban Ông Hoàng Mười bên tả và ban Ông Hoàng Bảy bên hữu, còn cung đệ tam phía ngoài đặt ban Công Đồng Tứ Phủ.

Trên mái trước của đền có đắp nổi bốn chữ Chúc Sơn Tiên Từ theo mô tả của báo Dân Việt và mia.vn. Bốn chữ Hán ở đầu trang là mặt chữ thư viện ghi theo đúng danh hiệu ấy, trong đó chữ chúc là cháo, sơn là núi, tiên là tiên, từ là đền.

Theo giáo nghĩa

Theo cách tín ngưỡng thờ Mẫu tự nói về mình, Liễu Hạnh là con gái Ngọc Hoàng giáng trần, được tôn vào hàng Tứ bất tử và đứng đầu Tam Tòa Thánh Mẫu. Người trong đạo tin rằng Mẫu có nhiều lần hiển linh ở nhiều nơi, và mỗi nơi Mẫu hiện về được dựng đền. Quán Cháo thuộc loại nơi ấy, không phải chỗ Mẫu giáng sinh mà là chỗ Mẫu hiện ra trong một hình dạng rất đời thường. Phần đời Mẫu và nơi gốc của việc thờ, quý vị xem ở bài Phủ Dầy.

Theo sử liệu

Tương truyền Thánh Mẫu hóa làm cô hàng bán cháo bên dốc Tam Điệp, nấu cháo cho người qua đèo rồi biến mất, và dân lập đền ở chỗ quán cũ. Bản kể phổ biến nhất gắn chuyện với lúc vua Quang Trung đi qua đèo ra Bắc, mia.vn ghi cuối năm 1788, báo Dân Việt ghi năm 1789. Có bản còn nói đền do chính nhà vua cho lập. Cả ba điều ấy đều thuộc lớp truyền thuyết, thư viện không tìm thấy sử liệu chính sử nào xác nhận việc vua lập đền, nên năm trong chuyện kể không phải năm khởi dựng công trình.

Cũng cần nói thẳng về nguồn. Những gì chép về đền Quán Cháo trong bài này chủ yếu lấy từ báo Dân Việt, các trang du lịch và trang Đạo Mẫu. Thư viện chưa tra được hồ sơ di tích gốc của cơ quan văn hóa tỉnh Ninh Bình về đền, nên bài giữ ở mức những gì các nguồn hiện có nói được.

Chỗ hay hiểu lầm

Có người nghe tích cô hàng cháo rồi coi Quán Cháo là một nơi gốc của việc thờ Liễu Hạnh, ngang với Phủ Dầy hay đền Sòng. Theo tư liệu hiện có thì không phải vậy. Nơi gắn với truyền tụng Mẫu giáng sinh là Phủ Dầy ở Vụ Bản, còn Đền Sòng Sơn ở Bỉm Sơn là một đền Mẫu lớn khác của xứ Thanh. Quán Cháo được người hành hương tính vào vòng các nơi thờ Liễu Hạnh vì tích hiển linh bên đường, chứ không vì một vai trò tổ đình.

IIMột Niên Đại Còn Nằm Trong Lời Kể

Năm khởi dựng đền Quán Cháo chưa khảo được. Mốc chắc nhất về lịch sử công trình là tấm bia đá đặt ở phía trước sân đền, cao 1 mét, rộng 0,7 mét, ghi lại lần trùng tu năm Tự Đức thứ 7, tức năm 1854, do chính Tuần phủ Ninh Bình Tôn Thất Tĩnh cho tạc theo mô tả của mia.vn và các trang giới thiệu di tích.

  • Chưa rõKhởi dựng
    Chưa rõ năm khởi dựng ban đầu trước lần trùng tu thời Nguyễn.
  • 1788 hoặc 1789Năm trong truyền thuyết
    Tích cô hàng cháo được gắn với lúc vua Quang Trung qua đèo. Các nguồn ghi vênh một năm. Đây là năm của chuyện kể, không phải năm dựng đền.
  • 1854Bia trùng tu thời Tự Đức
    Năm Tự Đức thứ 7, Tuần phủ Ninh Bình Tôn Thất Tĩnh cho trùng tu đền và tạc bia đá dựng trước sân. Phần lớn kiến trúc hiện nay còn giữ lối của lần sửa này.
  • 2009Xếp hạng cấp tỉnh
    Trang Đạo Mẫu denthanhmau ghi đền là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2009. Thư viện chưa tra thấy văn bản quyết định gốc.
  • 2016UNESCO ghi danh
    Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Điều được ghi danh là tập quán thực hành chung, không riêng đền nào.
  • 2025Sắp xếp địa giới
    Phường Tây Sơn cũ cùng phường Bắc Sơn và xã Quang Sơn nhập thành phường Tam Điệp mới thuộc tỉnh Ninh Bình.
Theo sử liệu

Có hai chi tiết cần lưu ý khi đọc nguồn. Thứ nhất là năm trong truyền thuyết, ghi cuối năm 1788 theo mia.vn và đầu năm 1789 theo báo Dân Việt, thực chất là hai thời điểm trước và sau Tết Kỷ Dậu trong cùng một cuộc hành quân. Thứ hai là địa giới của cặp đền, trang Đạo Mẫu denthanhmau ghi rõ đền Quán Cháo thuộc phường Tây Sơn cũ, nay là phường Tam Điệp, còn Đền Dâu cách đó khoảng một cây số thuộc phường Nam Sơn cũ, nay là phường Trung Sơn. Khi tìm đường hoặc tra cứu hồ sơ, quý vị cần tách riêng địa chỉ của hai đền.

IIIBa Cung Thờ Sau Mái Lưỡng Long

Theo báo Dân Việt và mia.vn, đền dựng theo hình chữ nhị, hậu cung làm kiểu chuôi vồ, tức một khối nhỏ nhô ra phía sau. Mái trước trang trí đôi rồng chầu mặt nguyệt và đắp nổi bốn chữ Chúc Sơn Tiên Từ. Bên trong chia ba lớp cung, đi từ ngoài vào là cung đệ tam, cung đệ nhị rồi cung cấm.

Cung đệ tam

Lớp ngoài, đặt ban Công Đồng Tứ Phủ theo mô tả của báo Dân Việt và các trang Đạo Mẫu. Đây là nơi người đi lễ dâng hương chung trước khi vào trong.

Cung đệ nhị

Lớp giữa có bốn cột đá xanh chạm rồng phượng. Chính giữa thờ Chúa Bản Đền, bên tả là ban Ông Hoàng Mười, bên hữu là ban Ông Hoàng Bảy.

Cung cấm

Lớp trong cùng, đặt tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh bằng gỗ thời Nguyễn trong khám sơn son thếp vàng với dáng ngồi tọa thiền, bên tả đặt ban Nhị Vị Chầu Bà.

Mái trước và sân đền

Mái trước đắp lưỡng long chầu nguyệt. Trước sân có tấm bia đá năm Tự Đức thứ 7 (1854), bình phong hòn non bộ Ngũ Hành Sơn và ba gốc cổ thụ gồm đa, si, đề.

Khi đọc các bài viết trên mạng về số cột đá và tượng thờ, quý vị cần lưu ý tránh nhầm giữa hai đền. Báo Dân Việt và mia.vn tả rõ cung đệ nhị của đền Quán Cháo có bốn cột đá. Trong khi đó, bài viết gộp cả hai đền trên trang denthanhmau có đoạn tả tòa tiền đường mười sáu cột gỗ lim treo bức đại tự Tang Dã Linh Từ, cung thứ hai có mười hai cột đá xanh nguyên khối và cung đệ nhất Thượng Liệt Từ đặt ba pho tượng Tam Tòa Thánh Mẫu. Tên chữ Tang Dã Linh Từ, nghĩa là đền thiêng bãi dâu, cho biết đoạn mô tả mười hai cột đá ấy là kiến trúc của Đền Dâu chứ không phải đền Quán Cháo.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người gọi gộp Đền Dâu Quán Cháo như một ngôi đền. Thật ra đây là hai đền cách nhau chừng một cây số. Hai nơi đi cặp trong mùa hội, nên tên gọi gộp có lý do, nhưng khi đọc các mô tả kiến trúc thì cần tách ra, vì không phải bài viết nào cũng nói rõ mình đang tả đền nào.

IVThế Đất Và Hướng

Những dòng dưới đây không chép từ văn bản nào của đền. Đây là cách thư viện đọc thế đất theo con mắt phong thủy cổ truyền, và vì nguồn về nơi này còn mỏng, phần đọc cũng giữ ở mức dè dặt.

Thế đất và hướng

Điều dễ thấy nhất là đền đứng ở chỗ đường đi qua núi. Dốc Tam Điệp là một cửa ải tự nhiên giữa đồng bằng Ninh Bình và đất Thanh, và con đường thiên lý cũ, nay là Quốc lộ 1A, phải vượt qua đây. Con mắt cổ truyền gọi những nơi như vậy là yết hầu, tức chỗ hẹp mà mọi dòng người phải đi qua. Một nơi thờ đặt ở yết hầu không giữ vai tụ khí như đền giữa đồng, mà giữ vai trấn lối, người qua lại dừng chân rồi đi tiếp.

Thứ hai là chuyện tựa núi. Đền nép dưới chân núi Cháo, lấy khối đá làm chỗ dựa. Với một đền thờ Mẫu Thượng Thiên thì núi không phải hành của vị được thờ như với Mẫu Thượng Ngàn, nên ở đây núi chỉ giữ vai hậu chẩm, chắn gió cho mái đền, không có ý đắc vị.

Thứ ba là hướng. Trang denthanhmau tả một khu đất cao quay hướng đông nam, có núi bao quanh, nhưng đoạn ấy nằm trong phần tả Đền Dâu. Thư viện không đủ căn cứ để gán hướng ấy riêng cho Quán Cháo, nên để ngỏ, và xin quý vị tự nhìn tại chỗ.

Cuối cùng là cặp đền. Quán Cháo sát đường, Đền Dâu lùi vào trong. Đọc theo lối cổ truyền thì một nơi đón người ở cửa, một nơi giữ lễ ở sâu, và lệ rước ngai Mẫu từ Quán Cháo về Đền Dâu trong mùa hội đi đúng theo chiều ấy. Đây là một cách nhìn, không phải điều nguồn nào chép.

VMùa Hội Từ Rằm Tháng Giêng

Mùa hội của đền kéo dài, từ rằm tháng Giêng tới mồng 3 tháng Ba âm lịch, và gắn liền với hội Đền Dâu. Theo mia.vn, lệ quen là làm lễ ở Quán Cháo trước, rồi rước ngai và tượng Thánh Mẫu về Đền Dâu.

Các mốc lệ chính theo âm lịch. Nguồn: mia.vn, báo Dân Việt, tài liệu Du lịch Ninh Bình. Chưa có nguồn của cơ quan văn hóa tỉnh..
Thời điểm âm lịchLệNội dung
Rằm tháng GiêngMở hộiLễ mở mùa hội tại đền, người đi lễ tới trình Mẫu đầu năm.
Trong mùa hộiRước sang Đền DâuLàm lễ ở Quán Cháo rồi rước ngai và tượng Thánh Mẫu về Đền Dâu, theo mô tả của mia.vn.
Rải rác mùa hộiHầu đồng, trình đồngCác vấn hầu có cung văn hát văn đi kèm, theo tài liệu du lịch.
Mồng 3 tháng BaKết mùa hộiNgày giỗ Mẫu Liễu Hạnh theo lệ chung của các nơi thờ Mẫu, khép lại mùa hội.

Hát văn và hầu đồng ở đây thuộc cùng một thực hành với các nơi thờ Mẫu khác, và thực hành ấy được UNESCO ghi danh năm 2016. Điều được ghi danh là tập quán chung của người Việt, không phải danh hiệu riêng của đền Quán Cháo.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Bên Quốc lộ 1A ở dốc Tam Điệp, phường Tam Điệp (phường Tây Sơn cũ, thành phố Tam Điệp cũ), tỉnh Ninh Bình
Đường tới
Đền ở bên Quốc lộ 1A, trên dốc Tam Điệp, thuộc phường Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Đền Dâu cách chừng một cây số, chùa Bích Động cách chừng 7,8 cây số.
Toạ độ
20.1513, 105.9033
Khi tới nơi

Đền nằm ngay mép Quốc lộ 1A trên đoạn dốc, xe lớn qua lại liên tục, nên việc dừng đỗ và sang đường cần thong thả. Theo lệ quen của người đi lễ vùng này, quý vị trình ở Quán Cháo trước rồi mới sang Đền Dâu. Vào cung cấm xin đi nhẹ, không chạm vào khám và tượng. Nếu gặp vấn hầu, xin đứng ngoài chiếu hầu.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Quán Cháo

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Quán Cháo thờ ai

Thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, hàng Mẫu trong điện thần Tứ Phủ, được đồng nhất với Mẫu Thượng Thiên cai quản Thiên phủ. Theo báo Dân Việt và các trang Đạo Mẫu, đền còn có ban Nhị Vị Chầu Bà, ban Chúa Bản Đền, ban Ông Hoàng Mười, ban Ông Hoàng Bảy và ban Công Đồng Tứ Phủ.

Vì sao gọi là đền Quán Cháo

Tương truyền Thánh Mẫu từng hóa làm cô hàng bán cháo bên dốc Tam Điệp cho người qua đèo, nên núi được gọi là núi Cháo và đền là Quán Cháo. Tên chữ Chúc Sơn Tiên Từ nghĩa là đền tiên ở núi Cháo. Đây là chuyện kể dân gian, không có sử liệu xác nhận.

Đền Quán Cháo có từ năm nào

Chưa khảo được năm khởi dựng. Tích gắn với vua Quang Trung qua đèo năm 1788 hoặc 1789 chỉ là truyền thuyết. Mốc chắc nhất là tấm bia đá trước sân đền ghi lần trùng tu năm Tự Đức thứ 7, tức năm 1854, do Tuần phủ Ninh Bình Tôn Thất Tĩnh cho tạc.

Đền Dâu và đền Quán Cháo khác nhau thế nào

Là hai đền riêng, cách nhau chừng một cây số, cùng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Quán Cháo có tên chữ Chúc Sơn Tiên Từ, nằm sát Quốc lộ 1A thuộc phường Tây Sơn cũ, nay là phường Tam Điệp. Đền Dâu có tên chữ Tang Dã Linh Từ, thuộc phường Nam Sơn cũ, nay là phường Trung Sơn. Trong mùa hội, người ta làm lễ ở Quán Cháo trước rồi rước ngai và tượng Thánh Mẫu về Đền Dâu.

Lễ hội đền Quán Cháo vào ngày nào

Mùa hội mở từ rằm tháng Giêng và kéo tới mồng 3 tháng Ba âm lịch, ngày giỗ Mẫu Liễu Hạnh. Trong mùa hội có lễ rước sang Đền Dâu, có hầu đồng và hát văn. Các mốc này lấy theo tài liệu du lịch, chưa có văn bản của cơ quan văn hóa tỉnh.

›Đọc Tiếp