VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền thờ thần Apollo Epicurius tại Bassae

Naos tou Apollonos Epikouriou stis Basses, Sanctuary of Apollo at Kotilion, Đền Apollo Đấng Cứu Giúp tại Bassae

Ngôi đền đá vôi xám ẩn mình ở độ cao 1.131 mét giữa vùng núi đá hoang sơ Kotilion thuộc bán đảo Peloponnesos, được kiến trúc sư Ictinus của Đền Parthenon thiết kế vào cuối thế kỷ 5 trước Công nguyên để cư dân thành Phigaleia tạ ơn thần Apollo Đấng Cứu Giúp, công trình duy nhất thời Cổ điển xoay trục Bắc Nam và hội tụ cả ba thức cột Doric, Ionic cùng đầu cột Corinthian cổ xưa nhất lịch sử kiến trúc.

Khởi nguyên và Đền hiện tồn
Thế kỷ 7 TCN; Đền xây 420 tới 400 TCN
cư dân thành Phigaleia thờ từ thế kỷ 7 TCN; đền đá vôi hiện tồn xây cuối thế kỷ 5 TCN
Kiến trúc sư đại tài
Ictinus (theo Pausanias)
kiến trúc sư trưởng của Đền Parthenon tại Athens thiết kế với những cách tân táo bạo
Đột phá kiến trúc
Ba thức cột trong một đền
ngoại thất Doric, nội điện Ionic và cây cột Corinthian cổ nhất lịch sử ở chính giữa
Tọa hướng độc nhất
Trục Bắc Nam và Cửa phụ hướng Đông
quay mặt chính về hướng Bắc thay vì hướng Đông, mở cửa hông đón nắng sớm ở gian Adyton
Phù điêu nội điện
23 tấm cẩm thạch (Bảo tàng Anh)
dải phù điêu dài 31 mét chạm cảnh chiến trận Amazonomachy và Centauromachy
Di sản Thế giới
UNESCO (1986, mã số 392)
công trình đầu tiên của Hy Lạp được ghi danh vào Danh sách Di sản Thế giới UNESCO

Rời những thung lũng ven biển để ngược theo những cung đường đèo dốc đứng xuyên qua vùng núi giáp ranh ba xứ cổ đại Arcadia, Messenia và Triphylia (Elis) ở phía tây nam bán đảo Peloponnesos, người lữ hành lên tới độ cao 1.131 mét so với mực nước biển trên sườn núi Kotilion. Tại vùng đất đá vôi hoang sơ lộng gió và điểm xuyết những gốc sồi già cỗi mà người xưa gọi là Bassae (Basses, trong tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là Những Khe Hẻm Núi Nhỏ), hiện ra một mái vòm lều bạt bảo vệ khổng lồ màu trắng che chở bên trong một trong những ngôi đền Hy Lạp cổ đại còn đứng nguyên vẹn và bí ẩn nhất thế giới: Đền thờ thần Apollo Epicurius tại Bassae.

Khác với những đại thánh địa nằm giữa kinh thành phồn hoa như Đền Parthenon trên đồi Acropolis hay nằm bên đường giao thương lớn như Đền thờ thần Zeus tại Olympia, ngôi đền tại Bassae đứng cô tịch giữa lưng chừng mây núi như một lời nguyện ước thiêng liêng của cư dân miền sơn cước thành bang Phigaleia dâng lên vị thần bảo hộ đã cứu sống tổ tiên họ qua chiến tranh và dịch bệnh, một truyền thống tri ân thần linh hộ quốc bảo dân gắn bó mật thiết với tinh thần thờ phụng tổ tiên và thần Thành hoàng ở phương Đông. Chính sự biệt lập trên đỉnh núi cao ấy đã giúp 38 cây cột đá vôi của ngôi đền thoát khỏi bàn tay tháo dỡ làm vật liệu xây dựng suốt hai thiên niên kỷ, để tới năm 1986, Đền thờ thần Apollo Epicurius tại Bassae vinh dự trở thành di sản đầu tiên của đất nước Hy Lạp được UNESCO ghi danh là Di sản Thế giới.

Đền thờ thần Apollo Epicurius tại Bassae
Đền thờ thần Apollo Epicurius tại Bassae. Ảnh: Tomisti, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThần Apollo Epicurius (Đấng Cứu Giúp Trong Chiến Trận Và Dịch Bệnh) Cùng Lòng Tri Ân Của Thành Phigaleia

Tại vùng núi Bassae thuộc lãnh thổ thành bang cổ đại Phigaleia (nằm cách đền thờ khoảng 13 kilômét đường núi về phía tây nam), vị thần ánh sáng Apollo được phụng thờ dưới hai danh hiệu đặc biệt gắn liền với lịch sử sinh tồn của cư dân miền núi Arcadia: danh hiệu bản địa cổ xưa là Apollo Bassitas (hay Vassitas, nghĩa là Thần Apollo của các khe núi Bassae) và danh hiệu nổi tiếng toàn Hy Lạp là Apollo Epicurius (Apollon Epikourios).

Trong tiếng Hy Lạp cổ điển, tính từ epikourios (bắt nguồn từ danh từ epikouros) có nghĩa là Đấng Cứu Giúp, Đấng Trợ Chiến hay Đấng Bảo Trợ trong cơn hoạn nạn. Theo truyền thống lịch sử và khảo cổ học, danh hiệu thiêng liêng này bắt nguồn từ hai biến cố sống còn của người dân Phigaleia. Tầng nghĩa thứ nhất gắn với thời kỳ Cổ sơ (thế kỷ 7 trước Công nguyên): khi quân đội hùng mạnh của thành bang Sparta xâm chiếm vùng núi Phigaleia vào năm 659 trước Công nguyên, cư dân bản địa cùng các chiến binh đánh thuê vùng Arcadia đã cầu xin thần Apollo tại khe núi Bassae che chở và giành lại được quê hương; hàng ngàn hiện vật lễ vật bằng đồng và sắt thu nhỏ hình áo giáp, mũ trụ, khiên, giáo và mũi tên được các nhà khảo cổ tìm thấy quanh nền đền cổ đã chứng thực vai trò của thần Apollo như một vị thần hộ mệnh chiến trận tại vùng biên ải.

Theo giáo nghĩa

Tầng nghĩa thứ hai của danh hiệu Apollo Epicurius được nhà địa lý học Pausanias (Description of Greece, Quyển VIII, chương 41, mục 7 tới 9) ghi chép khi ông lặn lội leo lên núi Kotilion vào thế kỷ 2 sau Công nguyên. Theo lời kể của cư dân Phigaleia truyền lại cho Pausanias, vào thời điểm nổ ra cuộc Chiến tranh Peloponnesus (khoảng năm 430 tới 429 trước Công nguyên), khi cơn đại dịch kinh hoàng tàn phá thành bang Athens và lan sang nhiều vùng lân cận, người dân Phigaleia đã khẩn cầu thần Apollo cứu mạng và thoát khỏi dịch bệnh bình an. Để tạ ơn vị thần vừa là Đấng Cứu Giúp khỏi bệnh dịch (tương tự danh hiệu Apollo Alexikakos, Đấng Xua Đuổi Tai Ương tại Athens) vừa là vị cha của thần y học Asclepius tại Epidaurus, người dân Phigaleia đã dốc toàn lực mời chính kiến trúc sư danh tiếng nhất nước Hy Lạp lúc bấy giờ là Ictinus lên đỉnh núi Kotilion để xây dựng ngôi đền đá vôi kỳ vĩ hiện tồn.

Không chỉ thờ riêng thần Apollo, trên đỉnh núi Kotilion cách đền thờ Apollo vài trăm mét về phía bắc còn có hai ngôi đền cổ phụng thờ nữ thần săn bắn Artemis Orthasia và nữ thần tình yêu Aphrodite tại Kotilion, tạo thành một quần thể linh địa núi cao hòa quyện giữa thiên nhiên hoang dã và lòng thành kính của con người.

Theo sử liệu

Sử liệu của Pausanias còn ghi lại một chi tiết quan trọng về pho tượng thờ bằng đồng khổng lồ của thần Apollo Epicurius cao tới 12 bộ (khoảng 3,6 tới 4 mét) từng ngự tại Bassae. Khi vào năm 370 tới 369 trước Công nguyên, các thành bang vùng Arcadia hợp nhất lại dưới sự hỗ trợ của tướng Epaminondas xứ Thebes để xây dựng đại kinh đô mới mang tên Megalopolis (Thành phố Vĩ đại) ở thung lũng phía đông, người dân Phigaleia đã hiến tặng chính bức đại tượng đồng thần Apollo Epicurius từ đền Bassae đưa về dựng trước đền thờ thần Zeus Lykaios tại quảng trường trung tâm của kinh đô Megalopolis như một biểu tượng đoàn kết của toàn xứ Arcadia.

Về phần ngôi đền trên núi Bassae, trong gian mật thất Adyton ở phía nam nội điện, các nhà khảo cổ nhận định từng đặt một bức tượng thờ cổ xưa hơn (kiểu xoanon bằng gỗ gắn mặt, tay và bàn chân bằng đá cẩm thạch trắng, gọi là tượng acrolithic; một số mảnh bàn chân và bàn tay bằng đá cẩm thạch của tượng thờ này đã được tìm thấy trong hố khai quật và hiện lưu giữ tại Bảo tàng Anh). Điểm kỳ diệu nhất là bức tượng này được đặt quay mặt về phía khung cửa phụ mở ở bức tường phía Đông của gian Adyton, sao cho vào buổi bình minh ngày lễ hạ chí của thần ánh sáng Apollo, tia nắng đầu tiên vượt qua rặng núi Arcadia sẽ xuyên thẳng qua khung cửa hông này chiếu rọi lên bức tượng thần giữa không gian nội điện trầm tối.

Chỗ hay hiểu lầm

Khi du khách tìm hiểu tên gọi Temple of Apollo Epicurius bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, có một sự nhầm lẫn ngôn ngữ rất thú vị thường xảy ra: nhiều người ngỡ rằng chữ Epicurius có liên hệ với triết gia Epicurus (khoảng 341 tới 270 trước Công nguyên, người sáng lập trường phái triết học Khoái lạc điều độ Epicureanism tại Athens). Thực tế lịch sử hoàn toàn không có mối liên hệ nào: ngôi đền thờ thần Apollo Epicurius (Apollon Epikourios) tại Bassae được khởi dựng từ thế kỷ 7 và tái thiết vào khoảng năm 420 trước Công nguyên, tức là sớm hơn gần một thế kỷ trước khi triết gia Epicurus ra đời; bản thân tên riêng của triết gia Epicurus chỉ là một tên người Hy Lạp mượn lại từ chính tính từ cổ epikouros (nghĩa là người giúp đỡ, người trợ giúp) vốn đã là tôn hiệu từ ngàn xưa của thần Apollo tại vùng núi Arcadia.

IIHành Trình Hai Nghìn Bảy Trăm Năm Từ Đền Cổ Thế Kỷ 7 TCN Tới Mái Vòm Bảo Tồn Hiện Đại

Các cuộc khai quật khảo cổ học sâu dưới nền đất ngay phía nam ngôi đền hiện tồn (do Konstantinos Kourouniotis và sau đó là Nikolaos Yalouris thực hiện) đã chứng minh rằng ngôi đền thế kỷ 5 trước Công nguyên của kiến trúc sư Ictinus thực chất là ngôi đền thứ tư được xây dựng nối tiếp nhau trên cùng một địa điểm linh thiêng. Ngôi đền đầu tiên được dựng vào cuối thế kỷ 7 trước Công nguyên (khoảng năm 625 tới 600 trước Công nguyên) bằng gạch bùn và cột gỗ trên nền đá vôi, và ngay từ ngôi đền đầu tiên cách đây hơn hai nghìn sáu trăm năm ấy, công trình đã có mặt bằng xoay theo trục Bắc Nam và có một cánh cửa phụ mở ở tường phía Đông, một truyền thống nghi lễ bản địa mà kiến trúc sư Ictinus bắt buộc phải giữ nguyên khi thiết kế ngôi đền đá lớn vào hai thế kỷ sau.

Sau các đợt xây lại vào khoảng năm 575 trước Công nguyên và năm 500 trước Công nguyên, tới khoảng năm 420 tới 400 trước Công nguyên, cư dân Phigaleia đã ủy thác cho kiến trúc sư Ictinus kiến tạo ngôi đền hiện tồn bằng đá vôi xám khai thác ngay tại núi Kotilion kết hợp với đá cẩm thạch cho phần điêu khắc nội thất. Trong cuốn sách du ký viết vào thế kỷ 2 sau Công nguyên, Pausanias đã dành lời khen ngợi cao nhất cho công trình này: ông viết rằng trong tất cả các ngôi đền trên toàn bán đảo Peloponnesos, ngoài ngôi đền Athena Alea ở Tegea thì Đền thờ thần Apollo tại Bassae đứng đầu về vẻ đẹp của chất đá và sự hài hòa tuyệt đối của tỷ lệ kiến trúc.

  • Cuối thế kỷ 7 TCN (khoảng 625 tới 600 TCN)Xây dựng ngôi đền Apollo Bassitas đầu tiên trên núi Kotilion
    Cư dân thành bang Phigaleia dựng ngôi đền đầu tiên theo trục Bắc Nam có cửa phụ phía Đông, nơi dâng cúng hàng ngàn vũ khí thu nhỏ bằng đồng và sắt để tạ ơn thần trợ chiến.
  • Khoảng 575 TCN và 500 TCNHai đợt tái thiết ngôi đền thời kỳ Cổ sơ (Archaic)
    Thánh địa được mở rộng qua ngôi đền thứ hai và ngôi đền thứ ba bằng đá vôi trước khi bước vào đại dự án thời Cổ điển.
  • Khoảng 420 tới 400 TCNKiến trúc sư Ictinus xây dựng Đền thờ thần Apollo Epicurius hiện tồn
    Sau đại dịch thời Chiến tranh Peloponnesus, người Phigaleia mời kiến trúc sư Ictinus thiết kế ngôi đền thức Doric 6 nhân 15 cột, bên trong kết hợp hàng cột Ionic, cây cột Corinthian đầu tiên trong lịch sử và dải phù điêu cẩm thạch dài 31 mét.
  • 370 tới 369 TCNĐưa đại tượng đồng thần Apollo Epicurius về kinh đô mới Megalopolis
    Khi Liên minh Arcadia xây dựng kinh đô mới Megalopolis để chống lại Sparta, người Phigaleia đưa bức tượng đồng Apollo Epicurius cao 12 bộ về đặt tại quảng trường Megalopolis.
  • 1765 và 1811 tới 1814Kiến trúc sư Pháp J. Bocher phát hiện lại ngôi đền và cuộc khai quật năm 1812
    Sau nhiều thế kỷ bị lãng quên trên núi cao, năm 1765 kiến trúc sư người Pháp Joachim Bocher tình cờ phát hiện lại ngôi đền. Năm 1811 tới 1812, nhóm học giả và kiến trúc sư quốc tế (C. R. Cockrell, Otto Magnus von Stackelberg, Karl Haller von Hallerstein) khai quật 23 tấm phù điêu cẩm thạch và bán cho Bảo tàng Anh năm 1814.
  • 1902 tới 1908 và 1965 tới 1979Trùng tu khoa học của Hội Khảo cổ học Hy Lạp
    Nhà khảo cổ Panagiotis Kavvadias và Konstantinos Kourouniotis dựng lại các bức tường nội điện cella từ năm 1902 tới 1908; Nikolaos Yalouris tiếp tục khảo sát toàn diện khu vực núi Kotilion trong thập niên 1960 và 1970.
  • 1986 và 1987 tới nayGhi danh Di sản Thế giới UNESCO đầu tiên của Hy Lạp và dựng mái vòm bảo tồn
    Năm 1986, Đền thờ Apollo Epicurius tại Bassae trở thành di sản đầu tiên của Hy Lạp được ghi danh UNESCO (mã số 392). Năm 1987, Ủy ban Bảo tồn Đền Apollo Epicurius lắp đặt mái vòm lều bạt chịu lực đặc biệt bao trùm toàn bộ ngôi đền để bảo vệ đá vôi khỏi sương giá và thực hiện trùng tu chống động đất.
Theo sử liệu

Cuộc tái phát hiện đầy kịch tính năm 1765 và bí ẩn về chiếc đầu cột Corinthian đầu tiên. Vì nằm ở vùng núi hẻo lánh chỉ có những người chăn cừu qua lại, Đền thờ thần Apollo Epicurius tại Bassae hoàn toàn vắng bóng trong các bản đồ châu Âu suốt thời Trung cổ và Phục Hưng. Mãi tới tháng 11 năm 1765, một kiến trúc sư người Pháp đang làm việc tại đảo Zakynthos là Joachim Bocher trên đường cưỡi ngựa băng qua núi Kotilion đã kinh ngạc phát hiện ra những hàng cột đá vôi xám đứng sừng sững giữa sương mù và nhận ra ngay đây chính là ngôi đền của Ictinus mà Pausanias từng mô tả (đáng thương thay, khi Bocher quay trở lại khảo sát ngôi đền lần thứ hai vào năm 1770, ông đã bị toán cướp núi sát hại).

Đến mùa hè năm 1811 và 1812, một nhóm các kiến trúc sư và nhà khảo cổ trẻ tuổi đầy nhiệt huyết từ Anh, Đức và Đan Mạch tự xưng là nhóm Xerieion (gồm kiến trúc sư người Anh Charles Robert Cockerell và nam tước Otto Magnus von Stackelberg) đã lên núi Kotilion đo vẽ và khai quật đống đá đổ trong nội điện. Chính tại đây, họ đã tìm thấy trọn vẹn 23 tấm phù điêu bằng đá cẩm thạch dài 31 mét (sau đó được chính phủ Anh mua đấu giá năm 1814 với giá 15.000 bảng vàng để đưa về trưng bày tại Phòng 16 của Bảo tàng Anh ở Luân Đôn) và vẽ lại chi tiết từng đường nét của chiếc đầu cột thức Corinthian cổ xưa nhất thế giới đặt ở chính giữa gian nội điện. Trớ trêu là ngay sau khi nhóm của Cockerell rời bến cảng để xuống tàu, những người lính địa phương thất vọng vì không được chia thêm tiền thưởng đã đập vỡ chiếc đầu cột Corinthian nguyên bản trên bãi biển (hiện các mảnh vỡ gốc của đầu cột này được bảo quản tại Bảo tàng Khảo cổ học Quốc gia ở Athens, và nhờ bản vẽ chính xác từng milimét của Cockerell và Haller von Hallerstein mà giới kiến trúc thế giới nắm rõ hoàn toàn cấu trúc của nó).

IIICách Mạng Không Gian Của Ictinus: Ngoại Thất Doric Khắc Kỷ, Nội Thất Ionic Và Cây Cột Corinthian Cổ Nhất Lịch Sử

Nếu nhìn từ bên ngoài, Đền thờ thần Apollo Epicurius tại Bassae mang vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc và khắc kỷ của một ngôi đền thức Doric vùng núi: mặt sàn stylobate dài 38,24 mét, rộng 14,48 mét, bao quanh bởi 6 cột ở mặt bắc và mặt nam cùng 15 cột ở mặt đông và mặt tây (tổng cộng 38 cột ngoại vi cao 5,95 mét). Khác với các ngôi đền thời Cổ điển có tỷ lệ $6 \times 13$ cột, ngôi đền tại Bassae giữ tỷ lệ thon dài $6 \times 15$ cột giống hệt như Đền thờ thần Apollo tại Delphi để có đủ không gian cho cả bốn gian phòng nối tiếp nhau bên trong: tiền sảnh (Pronaos ở phía bắc), nội điện chính (Naos), gian mật thất (Adyton có cửa phụ mở ra hướng đông) và hậu sảnh (Opisthodomos ở phía nam).

Thế nhưng, ngay khi bước qua ngưỡng cửa tiền sảnh để tiến vào bên trong nội điện Naos, kiến trúc sư Ictinus đã tạo nên một cuộc cách mạng không gian chưa từng có trong lịch sử kiến trúc cổ đại: nếu như ở Đền Parthenon ông đặt các bức phù điêu ở mặt ngoài đền, thì tại Bassae ông giữ mặt ngoài hoàn toàn mộc mạc không chạm trổ và đưa toàn bộ sự lộng lẫy của thức cột Ionic, thức cột Corinthian và dải phù điêu đá cẩm thạch quay vào bên trong nội điện.

Vòng cột ngoại thất thức Doric bằng đá vôi xám núi Kotilion (38 cột)

Toàn bộ nền tam cấp, 38 cột bao ngoài và các bức tường của ngôi đền đều được xây bằng đá vôi xám xanh khai thác ngay tại núi Kotilion. Trong số 38 cột ngoại vi của đền (6 cột mặt bắc nam, 15 cột mặt đông tây, mỗi cột có 20 rãnh sáo), có tới 36 cột vẫn còn đứng vững tại chỗ suốt hơn 2.400 năm qua.

Mười cột liền tường thức Ionic có chân đế loe độc bản trong nội điện

Bên trong nội điện Naos, thay vì dựng hai hàng cột đứng rời làm chật lòng đền, Ictinus đã thiết kế 10 cây cột thức Ionic (5 cột mỗi bên đông và tây) nối liền vào mặt tường trong bằng những bức tường ngắn (spurs); riêng hai cột cuối cùng ở phía nam thì vươn chéo góc 45 độ. Các cột Ionic này có phần chân cột loe rộng hình chuông và đầu cột có đường xoắn ốc liên hoàn ở cả ba mặt vô cùng độc đáo.

Cây cột thức Corinthian cổ xưa nhất lịch sử kiến trúc nhân loại

Đứng độc lập hoàn toàn ở chính giữa điểm ngăn cách giữa gian nội điện Naos và gian mật thất Adyton phía nam là một cây cột đơn độc mang chiếc đầu cột chạm khắc hai hàng lá ô rô (acanthus), các tua xoắn ốc (helices) và hoa palmette. Được chế tác vào khoảng năm 410 tới 400 TCN, đây chính là đầu cột thức Corinthian cổ xưa nhất từng được tìm thấy trong lịch sử kiến trúc thế giới, khởi nguồn cho thức cột thứ ba của văn minh cổ điển.

Dải phù điêu nội điện bằng đá cẩm thạch (Bassae Frieze, dài 31 mét)

Chạy vòng quanh bốn mặt phía trên hàng cột Ionic bên trong nội điện là dải phù điêu liên tục dài 31 mét gồm 23 tấm đá cẩm thạch trắng (hiện trưng bày tại Bảo tàng Anh): 12 tấm khắc cuộc chiến dữ dội giữa người Hy Lạp (do Heracles dẫn đầu) với các nữ chiến binh Amazon (Amazonomachy), và 11 tấm khắc cuộc chiến giữa tộc người Lapith với các nhân mã Centaur (Centauromachy) có sự xuất hiện cứu giúp của thần Apollo và nữ thần Artemis trên cỗ xe do hươu kéo.

Gian mật thất Adyton và Khung cửa phụ đón ánh bình minh phía Đông

Phía nam cây cột Corinthian là gian mật thất Adyton, nơi đặt pho tượng thờ cổ xưa của thần Apollo. Tại bức tường phía đông của gian này (giữa cột thứ 10 và thứ 11 tính từ phía bắc), Ictinus đã mở một cánh cửa phụ rộng rãi nhìn thẳng ra sườn núi phía đông để đón luồng ánh sáng Mặt Trời mọc chiếu thẳng vào bức tượng thần bên trong.

Mái vòm lều bạt bảo tồn hiện đại (Canopy, lắp đặt từ năm 1987)

Vì đá vôi núi Kotilion có nhiều mạch thạch anh dễ bị nứt vỡ do băng tuyết mùa đông đóng băng rồi tan chảy dưới nắng gắt mùa hè ở độ cao 1.131 mét, năm 1987 Bộ Văn hóa Hy Lạp đã dựng một mái vòm lều bạt bằng sợi polyester phủ nhựa PVC căng trên hệ cột thép bao trùm toàn bộ ngôi đền, tạo vi khí hậu ổn định để các chuyên gia tiến hành gia cố từng khối đá bằng chốt titan.

Các thông số kiến trúc và điêu khắc cốt lõi của Đền thờ thần Apollo Epicurius tại Bassae. Nguồn: Ủy ban Bảo tồn Đền Apollo Epicurius (Bộ Văn hóa Hy Lạp), Bảo tàng Anh và Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO (mã số 392)..
Hạng mục kiến trúcThông số kỹ thuật và Chất liệuÝ nghĩa trong lịch sử kiến trúc cổ điển
Mặt bằng tổng thể và Tọa hướngStylobate 38,24 nhân 14,48 mét; xoay trục Bắc - Nam (lệch nhẹ 15 độ đông bắc)Ngôi đền cổ điển lớn duy nhất xoay trục Bắc Nam theo truyền thống đền cổ thế kỷ 7 TCN và mở cửa phụ ở hướng Đông
Hàng cột ngoại thất (Peristasis)38 cột thức Doric (6 nhân 15 cột), cao 5,95 mét, đường kính đáy 1,16 mét, đá vôi KotilionBảo tồn 36 trên tổng số 38 cột ngoại vi đứng tại chỗ; mái ngói cổ xưa từng được lợp hoàn toàn bằng đá cẩm thạch
Hệ cột nội thất (Naos)10 cột thức Ionic gắn tường (cao 6,13 mét) và 1 cột thức Corinthian độc lập ở tâmĐầu cột Corinthian tại Bassae (khoảng 410 tới 400 TCN) là mẫu vật thức cột Corinthian cổ nhất từng được biết đến trên thế giới
Dải phù điêu nội điện (Bassae Frieze)23 tấm đá cẩm thạch dài tổng cộng 31 mét, cao 0,64 mét (hiện ở Bảo tàng Anh)Phù điêu đầu tiên được đặt ở mặt trong nội điện thay vì mặt ngoài, khắc cảnh Amazonomachy và Centauromachy đầy kịch tính
Phù điêu Metopes tiền sảnh12 tấm đá cẩm thạch tại Pronaos và Opisthodomos (mảnh vỡ ở Bảo tàng Anh và Olympia)Chạm khắc cảnh thần Apollo mang đàn kithara trở về từ xứ Hyperboreans và cảnh các vị thần Arcadia

IVThế Đất Và Hướng

Cần nêu rõ rằng cư dân thành bang Phigaleia và kiến trúc sư Ictinus không sử dụng hệ thống phong thủy phương Đông. Sở dĩ Đền thờ thần Apollo Epicurius tại Bassae có trục dọc chạy từ Bắc xuống Nam (thay vì từ Tây sang Đông như hầu hết các đền thờ Hy Lạp khác) là do hai nguyên nhân thực tế và tín ngưỡng bản địa: thứ nhất, dải thềm đá tự nhiên hẹp trên sườn núi Kotilion chạy dọc theo phương Bắc Nam giữa hai sườn dốc đứng nên chỉ cho phép đặt chiều dài ngôi đền theo hướng này; thứ hai, truyền thống thờ phụng vùng núi Arcadia (cũng giống như đền Athena Alea ở Tegea và đền Despoina ở Lykosoura) vốn giữ cổ lệ xoay trục Bắc Nam từ ngôi đền đầu tiên thế kỷ 7 trước Công nguyên, đồng thời mở một cửa phụ ở bức tường phía Đông của gian Adyton để vẫn đón được tia nắng bình minh chiếu vào tượng thần Apollo. Phần phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường.

Thế đất và hướng

Xét trên đại địa hình vùng núi phía tây nam bán đảo Peloponnesos tại tọa độ 37,4297 độ vĩ bắc, 21,9003 độ kinh đông, Đền thờ thần Apollo Epicurius tọa lạc ở cao độ 1.131 mét trên một yên ngựa đá vôi phẳng hẹp nằm ngay dưới đỉnh núi Kotilion (cao 1.231 mét). Trong phép xem sơn pháp cổ truyền, vị trí nằm trên một thềm đất phẳng giữa sườn núi cao gần đỉnh được gọi là thế thiên hồ huyệt hay cao sơn kỵ long (cưỡi trên sống lưng rồng núi cao): ngay phía bắc và tây bắc của ngôi đền là đỉnh chính của núi Kotilion vươn cao thêm một trăm mét đóng vai trò là hậu chẩm sơn che chắn trực diện luồng gió bấc lạnh giá thổi từ phía bắc bán đảo xuống, trong khi hai bên sườn đông và sườn tây có hai nhánh núi đá vôi kèm những khe suối nhỏ (đúng như nghĩa của tên gọi Bassae là những khe núi) ôm gọn lấy nền đền như hai cánh tay tả Thanh Long và hữu Bạch Hổ.

Xét về tầm nhìn minh đường và tiền án, do ngôi đền được xây theo thế tọa Bắc hướng Nam (trục dọc xoay góc khoảng 15 độ về hướng bắc đông bắc - nam tây nam) nhưng cửa chính đón khách ở mặt Bắc còn gian mật thất Adyton nằm ở đầu phía Nam và mở cửa hông về hướng Đông, đứng từ thềm đền nhìn về phương Nam và Đông Nam là một bức tranh sơn thủy trùng điệp kỳ vĩ bậc nhất Hy Lạp: phía trước mở ra thung lũng sâu của sông Neda (dòng sông duy nhất mang tên nữ thần trong thần thoại Hy Lạp chảy qua hẻm vực Phigaleia đổ ra biển Ionia), xa hơn ở chân trời phía đông nam là đỉnh núi thiêng Lykaion (cao 1.421 mét, nơi thần Zeus chào đời theo truyền thuyết Arcadia) và dãy núi Ithome cùng vịnh biển Messenia lấp lánh ở phương nam làm viễn triều sơn và ngoại minh đường. Hơn nữa, việc kiến trúc sư Ictinus khai thác chính lớp đá vôi xám xanh của núi Kotilion để dựng nên 38 cây cột Doric khiến ngôi đền hoàn toàn đồng nhất về sắc thái và khí chất với ngọn núi mẹ, đạt tới cảnh giới thiên nhân hợp nhất giữa công trình kiến trúc và thiên nhiên hoang sơ.

VLễ Hội Hành Hương Của Cư Dân Thành Phigaleia Và Nghi Thức Đón Ánh Sáng Bình Minh Ngày Hạ Chí

Do nằm ở độ cao hơn 1.130 mét thường xuyên có tuyết phủ dày và gió bão lạnh buốt vào mùa đông, các hoạt động lễ hội và hành hương quy mô lớn tại Đền thờ thần Apollo Epicurius ở Bassae vào thời cổ đại chủ yếu diễn ra từ cuối mùa xuân tới đầu mùa thu, gắn liền với lịch nông nghiệp và chăn thả gia súc trên vùng núi cao Arcadia của cư dân thành bang Phigaleia cùng các thị trấn lân cận như Andritsaina và Gortys.

Các nghi thức cổ đại tại Bassae gắn liền với địa hình núi cao và thiết kế cửa đón nắng hướng Đông của gian Adyton. Nguồn: Pausanias (Description of Greece, Quyển VIII, 41), Ủy ban Bảo tồn Đền Apollo Epicurius và Bộ Văn hóa Hy Lạp..
Thời gianHệ lịchTên lễ tiết và nghi thứcNội dung phụng tự trên đỉnh núi Kotilion (Bassae)
Mùa hạ (đặc biệt quanh kỳ Hạ chí tháng 6)Lịch thiên văn và lịch cổ đại vùng ArcadiaNghi thức Đón Ánh Bình Minh chiếu qua cửa Đông gian AdytonVào buổi bình minh những ngày quanh tiết Hạ chí và lễ hội mùa hè, cánh cửa phụ ở tường phía Đông của gian mật thất Adyton được mở rộng để tia nắng đầu tiên vượt qua rặng núi Arcadia chiếu thẳng vào pho tượng thần Apollo Epicurius bên trong, tiếp nối bằng lễ hiến tế và ca vũ.
Mùa xuân và mùa thu hằng nămNghi lễ thành bang PhigaleiaLễ Hành hương Tạ ơn Thần Trợ Chiến và Chữa lành (Apollo Epicurius & Bassitas)Công dân và các chàng trai trẻ thành Phigaleia đi bộ ngược đường núi dài 13 km lên khe núi Bassae để dâng lễ vật tạ ơn vị thần đã bảo vệ thành phố khỏi chiến tranh và dịch bệnh, kết hợp tế lễ tại hai ngôi đền Artemis Orthasia và Aphrodite trên đỉnh Kotilion.
Mùa hè đương đại (tháng 7 và tháng 8)Dương lịch hiện đạiCác hoạt động văn hóa và tham quan di sản vùng núi Andritsaina - PhigaleiaChính quyền đô thị Oichalia và Andritsaina-Krestena tổ chức các chương trình giới thiệu di sản kiến trúc của Ictinus và kết nối hành trình khám phá Đền thờ Bassae với hẻm vực sông Neda và thành cổ Phigaleia.

Trải nghiệm bước vào dưới mái vòm bảo tồn trên đỉnh núi Kotilion hôm nay. Nhiều du khách trước khi tới Bassae thường băn khoăn liệu chiếc mái vòm lều bạt màu trắng bao bọc ngôi đền từ năm 1987 có làm giảm đi vẻ đẹp cổ kính của di tích hay không. Thế nhưng khi thực sự đặt chân lên độ cao 1.131 mét giữa tiếng gió núi vi vu và bước qua cửa mái vòm vào bên trong, ai nấy đều choáng ngợp trước khoảng cách gần gũi hiếm có: dưới ánh sáng dịu mát được lọc qua lớp mái vòm trắng, toàn bộ 36 cây cột thức Doric và những bức tường đá vôi của nội điện hiện ra sừng sững ngay trước mắt ở cự ly chỉ vài bước chân, giúp người xem quan sát rõ từng rãnh sáo trên thân cột, từng viên đá lát sàn của gian Adyton và khung cửa phía Đông mà kiến trúc sư Ictinus đã tính toán cách đây hai nghìn bốn trăm năm. Sau khi chiêm bái ngôi đền dưới mái vòm, quý vị có thể đi bộ thêm khoảng 200 mét lên sườn đồi phía bắc (ngoài mái vòm) để ngắm nhìn nền đá của hai ngôi đền cổ thờ nữ thần Artemis và Aphrodite giữa khung cảnh núi non Arcadia hùng vĩ trải dài tới tận chân trời.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đỉnh núi Kotilion (Bassae), đô thị Oichalia (gần Phigaleia và Andritsaina) 270 61, vùng giáp ranh Messenia, Arcadia và Elis, Peloponnesos, Hy Lạp
Đường tới
Khu khảo cổ Bassae nằm trên núi Kotilion, cách thị trấn miền núi truyền thống Andritsaina khoảng 14 kilômét về phía nam (khoảng 20 phút lái xe), cách thánh địa Olympia khoảng 65 kilômét về phía đông nam (khoảng 1 giờ 20 phút lái xe) và cách thủ đô Athens khoảng 250 kilômét về phía tây nam. Phương tiện thuận lợi nhất để tới đền là đi ô tô tự lái hoặc đi xe buýt KTEL từ Athens hay Pyrgos (Olympia) tới thị trấn Andritsaina, sau đó đi taxi địa phương từ quảng trường Andritsaina ngược đường đèo nhựa rất đẹp lên thẳng cổng Đền thờ Bassae.
Toạ độ
37.4297, 21.9003
Khi tới nơi

Đền thờ thần Apollo Epicurius tại Bassae nằm ở độ cao 1.131 mét trên vùng núi hẻo lánh, vì vậy thời tiết tại đây luôn mát hơn vùng đồng bằng từ 7 tới 10 độ C và thường có gió mạnh (vào mùa xuân và mùa thu quý vị nên mang theo áo khoác chắn gió). Toàn bộ ngôi đền chính nằm bên trong mái vòm bảo tồn kín gió nên có thể tham quan thuận lợi ngay cả khi trời nắng gắt hay mưa nhẹ, nhưng lối đi bộ lên đồi phía bắc xem đền Aphrodite và Artemis là đường đá tự nhiên nên cần đi giày đế thấp chắc chắn. Vì xung quanh khu khảo cổ trên đỉnh núi hoàn toàn không có cửa hàng ăn uống hay cây xăng (chỉ có quầy vé và nhà vệ sinh), quý vị hãy chuẩn bị sẵn nước uống và đổ đầy nhiên liệu tại thị trấn cổ kính Andritsaina (cách đền 14 kilômét) trước khi lên núi.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền thờ thần Apollo Epicurius tại Bassae

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tên gọi Apollo Epicurius có nghĩa là gì, có liên quan tới triết gia Epicurus không?

Hoàn toàn không liên quan tới triết gia Epicurus. Trong tiếng Hy Lạp cổ, tính từ epikourios (từ gốc epikouros) có nghĩa là Đấng Cứu Giúp hay Đấng Trợ Giúp trong cơn nguy nan. Cư dân thành bang Phigaleia đã dâng tôn hiệu Apollo Epicurius cho vị thần từ thế kỷ 7 và thế kỷ 5 trước Công nguyên để tạ ơn ngài đã cứu giúp họ trong cuộc chiến chống lại Sparta và bảo vệ họ thoát khỏi cơn đại dịch thời Chiến tranh Peloponnesus (khoảng năm 430 trước Công nguyên), tức là sớm hơn gần một thế kỷ trước khi triết gia Epicurus ra đời.

Vì sao Đền thờ thần Apollo Epicurius tại Bassae được coi là công trình độc nhất vô nhị trong lịch sử kiến trúc Hy Lạp?

Được thiết kế bởi kiến trúc sư Ictinus (người từng thiết kế Đền Parthenon tại Athens) vào khoảng năm 420 tới 400 trước Công nguyên, ngôi đền tại Bassae hội tụ ba đặc điểm độc nhất: thứ nhất, đây là ngôi đền duy nhất thời Cổ điển kết hợp cả ba thức cột cổ điển trong cùng một tòa nhà (hàng cột ngoài thức Doric, hàng cột gắn tường trong nội điện thức Ionic, và một cây cột thức Corinthian cổ nhất lịch sử ở chính giữa); thứ hai, dải phù điêu đá cẩm thạch được đặt ở bên trong nội điện thay vì bên ngoài; thứ ba, ngôi đền xoay theo trục Bắc Nam và mở một cửa phụ ở tường phía Đông để đón ánh nắng bình minh chiếu vào tượng thần.

Tại sao hiện nay toàn bộ ngôi đền tại Bassae lại được bao bọc bên trong một mái vòm lều bạt lớn?

Ngôi đền được xây bằng đá vôi địa phương của núi Kotilion ở độ cao 1.131 mét. Trải qua hơn 2.400 năm chịu đựng sự chênh lệch nhiệt độ khắc nghiệt giữa băng tuyết đóng băng vào mùa đông và nắng nóng mùa hè cùng mưa axit hiện đại, các mạch đá vôi bị rạn nứt và xói mòn. Để bảo vệ di sản, vào năm 1987 Bộ Văn hóa Hy Lạp đã dựng một mái vòm lều bạt chịu lực đặc biệt bao trùm toàn bộ ngôi đền nhằm ổn định nhiệt độ, độ ẩm và che chắn mưa tuyết trong khi các kỹ sư thực hiện chương trình trùng tu gia cố chống động đất.

Dải phù điêu đá cẩm thạch và chiếc đầu cột Corinthian cổ nhất của Đền Bassae hiện đang ở đâu?

Vào năm 1812, một nhóm các kiến trúc sư và nhà khảo cổ quốc tế (gồm Charles Robert Cockerell và Otto Magnus von Stackelberg) đã khai quật bên trong đền và tìm thấy trọn vẹn 23 tấm phù điêu đá cẩm thạch dài 31 mét (chạm khắc cảnh cuộc chiến với người Amazon và nhân mã Centaur). Năm 1814, bộ phù điêu này được chính phủ Anh mua đấu giá và hiện đang được trưng bày trong một phòng riêng (Phòng 16) tại Bảo tàng Anh ở Luân Đôn. Riêng chiếc đầu cột Corinthian cổ nhất lịch sử tìm thấy năm 1812 đã được Cockerell vẽ lại chi tiết trước khi bị đập vỡ, và các mảnh gốc còn lại hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Khảo cổ học Quốc gia ở Athens.

Công trình nào của Hy Lạp được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới đầu tiên?

Chính là Đền thờ thần Apollo Epicurius tại Bassae. Nhờ giá trị kiến trúc kiệt xuất và mức độ bảo tồn nguyên vẹn hiếm có trên đỉnh núi Kotilion, ngôi đền đã được UNESCO chính thức ghi danh vào Danh sách Di sản Thế giới vào năm 1986 (mã số 392), trở thành di sản thế giới đầu tiên của đất nước Hy Lạp (sớm hơn một năm so với Đền Parthenon trên đồi Acropolis và Thánh địa Delphi được ghi danh năm 1987).

›Đọc Tiếp