Đứng trên đường Trần Phú giữa khu trung tâm Đà Nẵng, quý vị thấy một mặt tiền tường hồng nhạt, các ô cửa cuốn nhọn hình quả trám, và trên đỉnh tháp là một con gà trống bằng kim loại xoay theo chiều gió. Chính con gà ấy đã đặt tên cho cả ngôi nhà thờ: người Đà Nẵng gọi đây là nhà thờ Con Gà, và cái tên ấy phổ biến hơn tên chính thức rất nhiều.
Xin nói ngay một điều để quý vị khỏi nhầm. Việt Nam có hai nhà thờ Con Gà. Ngôi trong bài này ở Đà Nẵng, là nhà thờ chính tòa của giáo phận Đà Nẵng, dâng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Ngôi kia ở Đà Lạt, thuộc tỉnh Lâm Đồng, là nhà thờ chính tòa của giáo phận Đà Lạt, dâng kính Thánh Nicôla Bari, và thư viện có một trang riêng cho ngôi ấy. Hai nơi khác tỉnh, khác giáo phận, khác tước hiệu, chỉ giống nhau ở con gà trên đỉnh tháp.
IHai Nhà Thờ Con Gà Và Tước Hiệu Thánh Tâm
Con gà trống trên đỉnh tháp là một phong tiêu, tức vật chỉ hướng gió, thứ rất quen trên tháp nhà thờ ở châu Âu. Nó xoay theo gió nên người dưới đất nhìn lên là biết gió đang thổi chiều nào. Nhưng gà trống trên tháp không chỉ là một dụng cụ: trong cách hiểu của Kitô giáo, tiếng gà gáy gắn với đoạn Tin Mừng kể ông Phêrô chối Thầy rồi nghe gà gáy mà nhớ lại và khóc, nên con gà thành hình ảnh của sự tỉnh thức và của việc quay về. Đặt nó lên chỗ cao nhất là đặt một lời nhắc lên trên đầu cả nhà thờ.
Vì hình ảnh ấy quen thuộc trong lối trang trí nhà thờ nên nhiều nơi cùng có, và ở Việt Nam thì hai ngôi nổi tiếng nhất cùng được dân gọi bằng một tên.
Chỗ hay hiểu lầm nhất về nơi này không nằm ở lịch sử mà nằm ở cái tên. Rất nhiều bài viết, ảnh chụp và lời kể bị gán lẫn giữa hai ngôi. Xin phân cho rõ. Ngôi ở Đà Nẵng, tức ngôi trong bài này, ở số 156 đường Trần Phú, là nhà thờ chính tòa của giáo phận Đà Nẵng, tước hiệu Thánh Tâm Chúa Giêsu, dựng trong các năm 1923 và 1924. Ngôi ở Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, là nhà thờ chính tòa của giáo phận Đà Lạt, tước hiệu Thánh Nicôla Bari, dựng muộn hơn và nằm trên một sườn dốc giữa rừng thông. Quý vị muốn đọc về ngôi trên cao nguyên thì xem trang riêng của thư viện về Nhà thờ Con Gà Đà Lạt.
Một chỗ lẫn nhỏ hơn: có bài gọi ngôi ở Đà Nẵng là nhà thờ Thánh Tâm, có bài gọi là nhà thờ Chính tòa, có bài gọi là nhà thờ Con Gà. Cả ba đều chỉ cùng một nơi, chỉ khác là hai tên đầu lấy theo tước hiệu và chức năng, tên sau lấy theo con gà trên tháp.
Về tước hiệu, Thánh Tâm Chúa Giêsu là lòng sùng kính hướng về trái tim Chúa Giêsu như dấu chỉ của tình thương. Đây là một trong những lòng sùng kính phổ thông nhất trong Công giáo, và trong lịch phụng vụ thì lễ Thánh Tâm rơi vào tháng Sáu, ngày cụ thể thay đổi theo lịch Phục Sinh hằng năm vì tính từ lễ Hiện Xuống. Cả tháng Sáu vì thế được gọi là tháng kính Thánh Tâm, các xứ đọc kinh riêng suốt tháng.
Còn chữ chính tòa: theo tổ chức của Giáo hội Công giáo, địa bàn chia thành các giáo phận, mỗi giáo phận do một giám mục coi sóc, và ngôi nhà thờ có đặt cathedra, tức ngai tòa của vị giám mục ấy, thì gọi là nhà thờ chính tòa. Ngai tòa đặt trong cung thánh, quay xuống cộng đoàn, là dấu chỉ của quyền giảng dạy chứ không phải chiếc ghế danh dự. Mỗi giáo phận chỉ có một ngôi như vậy, và lễ truyền chức linh mục cùng lễ dầu sáng Thứ Năm Tuần Thánh đều cử hành tại đây cho cả giáo phận.
IITừ Nhà Thờ Của Một Xứ Tới Nhà Thờ Của Một Giáo Phận
Ngôi nhà thờ có trước giáo phận gần bốn mươi năm. Khi dựng, đây là nhà thờ của cộng đoàn Công giáo trong thành phố, thuộc địa bàn một giáo phận khác. Phải tới năm 1963, khi giáo phận Đà Nẵng được lập, nó mới thành nhà thờ của một giám mục. Cách đọc ấy giải thích vì sao quy mô công trình vừa phải và vì sao khuôn viên hẹp so với các nhà thờ chính tòa dựng sẵn để làm chính tòa.
- 1923Khởi côngCông trình khởi công vào tháng 2 năm 1923, do linh mục Louis Vallet vẽ mẫu và trực tiếp chỉ huy việc dựng.
- 1924Hoàn thành và làm phépNhà thờ hoàn thành sau khoảng một năm. Các nguồn ghi ngày khánh thành là 10 tháng 3 năm 1924, một số nguồn khác ghi công trình xong vào tháng 9 và được làm phép ngày 14 tháng 9 năm ấy.
- 1940Hang đá Đức Mẹ Lộ ĐứcHang đá nhân tạo phía sau nhà thờ, đắp theo hình hang Lộ Đức bên Pháp, được khánh thành ngày 11 tháng 2 năm 1940, đúng ngày lễ Đức Mẹ Lộ Đức.
- 1963Lập giáo phận Đà NẵngNgày 18 tháng 1 năm 1963, giáo phận Đà Nẵng được lập, tách ra từ địa bàn phía nam của Tổng giáo phận Huế.
- 1963Trở thành nhà thờ chính tòaNgày 1 tháng 5 năm 1963, ngôi nhà thờ này chính thức trở thành nhà thờ chính tòa của giáo phận mới, nơi đặt ngai tòa giám mục.
- 2017Mốc thống kê hiện dùngSố liệu 50 giáo xứ, 6 giáo họ biệt lập và khoảng 72.495 giáo dân trong bài lấy theo thống kê năm 2017, mốc mà tài liệu giới thiệu giáo phận đang dùng.
Xin ghi thẳng hai chỗ nguồn vênh nhau. Thứ nhất là ngày khánh thành năm 1924. Có nguồn ghi ngày 10 tháng 3, có nguồn ghi công trình xong vào tháng 9 và được làm phép ngày 14 tháng 9. Nhiều khả năng đây là hai mốc khác nhau của cùng một tiến trình, một là ngày bắt đầu sử dụng và một là ngày cử hành nghi thức làm phép, nhưng chúng tôi chưa tìm được tư liệu gốc phân định, nên ghi cả hai.
Thứ hai là chiều cao. Nhiều bài du lịch ghi công trình cao gần bảy mươi mét. Con số ấy lặp lại giữa các bài với nhau chứ chúng tôi chưa đối chiếu được trong tư liệu của giáo phận, và nhìn bằng mắt thì khối tháp không cho cảm giác cao tới mức ấy. Chúng tôi ghi lại con số đang lưu hành kèm lời dè dặt, và không dùng nó như một số liệu đã chốt.
Về giáo phận: Đà Nẵng trải trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam cũ, rộng khoảng 11.723 km2, coi sóc 50 giáo xứ cùng 6 giáo họ biệt lập với khoảng 72.495 giáo dân. Giáo phận có hai trung tâm hành hương lớn là Trung tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu và đền thánh kính chân phước Anrê Phú Yên.
IIIVòm Quả Trám, Kính Màu Và Con Gà Trên Tháp
Công trình theo lối Gothic đã được giản lược cho hợp vật liệu và điều kiện tại chỗ: đường nét dựng đứng, các ô cửa và cổng làm theo dạng cuốn nhọn, trong lòng nhà thờ có hệ vòm gân dẫn mắt lên cao. Thứ dễ nhận nhất ở mặt tiền là các ô cửa hình quả trám, một biến thể của cửa cuốn nhọn, và màu tường hồng nhạt đã thành màu quen của nhà thờ này trong trí nhớ người Đà Nẵng.
Con gà trống bằng hợp kim, xoay theo chiều gió, đặt trên chóp tháp chuông. Vừa là vật chỉ hướng gió vừa là hình ảnh quen của Tin Mừng về sự tỉnh thức. Đây là điểm nhận diện và là nguồn gốc tên gọi dân gian.
Mặt tiền dựng đứng, trục giữa là tháp chuông, hai bên là các ô cửa cuốn nhọn dạng quả trám. Tường quét màu hồng nhạt, các đường gờ đắp nổi chạy dọc để nhấn chiều cao.
Lòng nhà thờ chia gian bằng hai hàng cột, trần vòm gân. Các ô kính màu trên tường cao đón ánh sáng tự nhiên, khi nắng chiếu qua thì cả lòng nhà thờ đổi màu theo giờ trong ngày.
Ở cuối trục là cung thánh, nơi đặt bàn thờ, nhà tạm giữ Thánh Thể và ngai tòa giám mục. Ngai tòa là thứ khiến ngôi này khác mọi nhà thờ giáo xứ khác trong giáo phận.
Hang đá nhân tạo phía sau nhà thờ, khánh thành năm 1940, đắp theo hình hang Lộ Đức. Đây là nơi giáo dân hay lần chuỗi Mân Côi ngoài giờ lễ, nhất là trong tháng Năm và tháng Mười.
Cần nói một điều cho đúng về mặt kiến trúc. Gọi đây là Gothic thì đúng về dáng nhưng không đúng về cấu tạo. Gothic thật ở châu Âu là một hệ chịu lực gồm vòm gân, cuốn bay và trụ chống ngoài, cho phép mở tường thành những mảng kính khổng lồ. Ở Đà Nẵng, cũng như ở phần lớn nhà thờ Việt Nam dựng đầu thế kỷ 20, những chi tiết ấy được giữ lại như hình dáng trang trí, còn việc chịu lực thì do tường gạch và kết cấu thông thường đảm nhận. Cách gọi chuẩn hơn là lối tân Gothic thuộc địa, và biết điều đó thì quý vị nhìn công trình chính xác hơn mà không hề giảm đi phần đẹp của nó.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này cần rào trước cho rõ. Công giáo không dạy phong thủy. Hướng của một ngôi nhà thờ theo lối cổ là hướng phụng vụ, tức quy tắc riêng của đạo về chỗ đặt bàn thờ và cung thánh, mà lối cổ nhất là quay cung thánh về phía đông đón mặt trời mọc. Đó là quy tắc của đạo, không phải kết quả của một cuộc xem đất, và với một nhà thờ dựng giữa phố thì trục còn bị hình thửa đất và hướng con đường quyết định. Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc theo lối cổ truyền của người Việt, thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối ấy.
Điều đầu tiên là thế đất chung của Đà Nẵng. Thành phố nằm trên dải đất giữa dãy núi phía tây bắc và cửa biển phía đông, có sông Hàn chảy qua giữa. Đọc theo lối cổ truyền thì đó là thế sơn thủy giao hội: núi ở sau, sông ở giữa, biển ở trước. Sách xưa coi chỗ sông gặp biển là chỗ khí tụ mạnh nhưng cũng động nhất, hợp với đô thị buôn bán hơn là với chốn ẩn cư. Ngôi nhà thờ nằm trong khu trung tâm ấy, cách bờ sông không xa.
Thứ hai là vật trên đỉnh, thứ chỉ riêng nơi này có. Một con vật đặt ở điểm cao nhất của công trình là điều mà cả hai truyền thống đều làm: đình chùa Việt Nam đặt lưỡng long chầu nguyệt hoặc con kìm trên bờ nóc, nhà thờ châu Âu đặt thánh giá hoặc con gà phong tiêu. Khác nhau ở nghĩa: con kìm và con rồng thuộc lớp trấn trạch, còn con gà ở đây thuộc lớp nhắc nhở. Nhưng xét theo con mắt cổ truyền thì cả hai cùng làm một việc, là đặt một dấu có nghĩa lên chỗ mà cả vùng đều nhìn thấy. Thêm một lớp nữa: con gà xoay theo gió, nên nó không đứng yên như con kìm mà luôn báo cho người dưới đất biết khí trời đang chuyển chiều nào. Người xưa quan sát gió để biết thời tiết và mùa vụ, nên một vật như thế rất dễ được chấp nhận.
Thứ ba là hướng và trục. Nhà thờ mặt tiền quay ra đường Trần Phú, trục chạy theo hình thửa đất chứ không giữ đúng lối quay cung thánh về phía đông của các nhà thờ cổ châu Âu. Đây là chuyện rất thường gặp ở nhà thờ dựng trong đô thị Việt Nam đầu thế kỷ 20, và theo chính quy tắc của đạo thì không phải một khiếm khuyết.
Cuối cùng là minh đường, chữ cổ chỉ khoảng trống trước công trình. Ở đây khoảng ấy hẹp, vì nhà thờ nằm sát phố. Đọc theo lối cũ thì minh đường hẹp là chỗ thiếu, và cách bù của chính công trình là dồn tất cả sức nặng thị giác lên chiều đứng: tháp cao, đường gờ dọc, cửa nhọn, con gà trên chóp. Khi không có bề rộng để mở thì mở theo bề cao, đó là lối xử lý mà cả kiến trúc nhà thờ lẫn phép xem đất cổ truyền đều nhận ra.
VLễ Và Lệ Trong Năm
Là nhà thờ chính tòa, ngôi này giữ đủ lịch phụng vụ chung của Giáo hội Công giáo tính theo dương lịch, cộng thêm các dịp riêng của một nhà thờ có ngai tòa giám mục và dịp riêng theo tước hiệu Thánh Tâm. Bài chỉ ghi ngày theo lịch phụng vụ, không ghi giờ giấc.
| Thời điểm | Lễ hoặc nghi thức | Nội dung |
|---|---|---|
| Tháng Sáu | Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu | Lễ bổn mạng theo tước hiệu của nhà thờ. Ngày cụ thể thay đổi hằng năm vì tính từ lễ Hiện Xuống, nhưng luôn rơi vào tháng Sáu, và cả tháng ấy là tháng kính Thánh Tâm. |
| Thứ Năm Tuần Thánh | Lễ dầu | Giám mục làm phép các loại dầu thánh cho cả giáo phận, linh mục các xứ về đồng tế rồi mang dầu về xứ mình. Chỉ diễn ra ở nhà thờ chính tòa. |
| Tam Nhật Vượt Qua | Tuần Thánh và Phục Sinh | Chuỗi cử hành trọng thể nhất của năm phụng vụ, ngày thay đổi theo lịch Phục Sinh hằng năm. |
| Ngày 25 tháng 12 | Lễ Giáng Sinh | Dịp quy tụ đông người nhất trong năm, kéo cả người ngoài Công giáo tới xem hang đá và trang trí quanh nhà thờ. |
| Cuối tháng Năm | Hành hương Trà Kiệu | Kỳ hành hương lớn của cả giáo phận tại Trung tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu, quanh lễ Đức Mẹ Thăm Viếng ngày 31 tháng 5. Giáo xứ chính tòa đi thành đoàn. |
| Ngày 11 tháng 2 | Lễ Đức Mẹ Lộ Đức | Ngày kỷ niệm khánh thành hang đá phía sau nhà thờ năm 1940, cũng là ngày lễ theo tên hang đá ấy. |
Ngoài lịch chung còn có chầu lượt, phiên chầu Thánh Thể luân phiên giữa các giáo xứ trong giáo phận, mỗi xứ một dịp trong năm. Với một giáo phận có địa bàn trải từ phố biển lên tới vùng núi phía tây Quảng Nam cũ, chầu lượt là dịp các xứ ở xa nhau gặp nhau.
Một nếp riêng của giáo xứ chính tòa là tháng Sáu kính Thánh Tâm: suốt tháng có kinh riêng, và nhiều gia đình trong xứ giữ lệ đặt ảnh Thánh Tâm ở gian chính của nhà, một thói quen đã có từ nhiều đời.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 156 đường Trần Phú, quận Hải Châu cũ, thành phố Đà Nẵng
- Đường tới
- Nhà thờ ở số 156 đường Trần Phú, quận Hải Châu cũ, thành phố Đà Nẵng, nằm giữa khu trung tâm và đi bộ được từ khu vực bờ tây sông Hàn.
- Toạ độ
- 16.0667, 108.2232
Đây là nhà thờ chính tòa đang hoạt động chứ không phải điểm tham quan, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, đi nhẹ nói khẽ, không đi lại hay chụp ảnh ở khu cung thánh, phần đặt bàn thờ, nhà tạm và ngai tòa giám mục. Nếu tới đúng lúc đang có thánh lễ, xin quý vị ngồi phía cuối nhà thờ và giữ yên lặng. Khuôn viên hẹp và nằm giữa phố đông, xin để xe đúng chỗ giáo xứ chỉ dẫn và không đứng chắn lối vào.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nhà thờ chính tòa Đà Nẵng
Contribute photos, information or video for Da Nang CathedralThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Nhà thờ Con Gà ở Đà Nẵng hay Đà Lạt
Cả hai nơi đều có một ngôi mang tên ấy. Ngôi ở Đà Nẵng là nhà thờ chính tòa giáo phận Đà Nẵng, tước hiệu Thánh Tâm Chúa Giêsu, ở số 156 Trần Phú. Ngôi ở Đà Lạt thuộc tỉnh Lâm Đồng, là nhà thờ chính tòa giáo phận Đà Lạt, tước hiệu Thánh Nicôla Bari. Hai nơi khác tỉnh, khác giáo phận, khác tước hiệu.
Vì sao trên tháp nhà thờ lại có con gà
Con gà trống là một phong tiêu, tức vật chỉ hướng gió, rất quen trên tháp nhà thờ châu Âu. Ngoài công dụng ấy, trong Kitô giáo tiếng gà gáy gắn với đoạn Tin Mừng kể ông Phêrô chối Thầy rồi nghe gà gáy mà nhớ lại, nên con gà thành hình ảnh của sự tỉnh thức và của việc quay về.
Nhà thờ chính tòa Đà Nẵng dâng kính ai
Dâng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, tức lòng sùng kính hướng về trái tim Chúa Giêsu như dấu chỉ của tình thương. Lễ Thánh Tâm mừng vào tháng Sáu, ngày cụ thể thay đổi hằng năm vì tính từ lễ Hiện Xuống, và cả tháng Sáu là tháng kính Thánh Tâm.
Nhà thờ Con Gà Đà Nẵng xây năm nào
Khởi công tháng 2 năm 1923 và hoàn thành trong năm 1924, do linh mục Louis Vallet vẽ mẫu và chỉ huy. Các nguồn ghi ngày khánh thành khác nhau, chỗ ghi ngày 10 tháng 3, chỗ ghi làm phép ngày 14 tháng 9, nên chúng tôi ghi cả hai thay vì chọn bừa.
Giáo phận Đà Nẵng lập năm nào
Lập ngày 18 tháng 1 năm 1963, tách từ địa bàn phía nam của Tổng giáo phận Huế, và ngôi nhà thờ này trở thành nhà thờ chính tòa từ ngày 1 tháng 5 năm 1963. Giáo phận trải trên Đà Nẵng và Quảng Nam cũ, coi sóc 50 giáo xứ cùng 6 giáo họ biệt lập với khoảng 72.495 giáo dân.