Từ đường lớn rẽ vào thị trấn Kiện Khê, thứ đập vào mắt quý vị trước tiên là chiều cao. Hai ngọn tháp gạch đứng trên một vùng đất trũng của châu thổ, và giữa hai tháp là một khối nhà thờ dài hơn sáu mươi bảy mét, tường ngoài gạch đỏ, cửa cuốn nhọn chạy suốt hai bên. Vào trong, lòng nhà thờ chia thành năm lòng bởi bốn hàng cột, trần vòm cao vút, ánh sáng đổ xuống qua các ô kính màu vẽ tích thánh.
Nhưng rồi mắt quý vị sẽ dừng lại ở cung thánh. Ở phần trong cùng ấy, bàn thờ và cả khu cung thánh không làm theo lối châu Âu mà là gỗ chạm, sơn son thếp vàng theo đúng nghề thợ Việt. Một ngôi nhà thờ Gothic có trái tim làm bằng nghề chạm của làng nghề Bắc Bộ. Và đây cũng là nơi mà Giáo hội Việt Nam chọn làm chỗ quy tụ để kính nhớ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.
ITước Hiệu, Tước Vị Vương Cung Thánh Đường Và Lòng Kính Nhớ Các Thánh Tử Đạo
Ngôi nhà thờ này dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, lễ bổn mạng ngày 8 tháng 12. Trong Công giáo, tước hiệu của một ngôi nhà thờ là phần thờ tự chứ không phải một cái tên phụ: nó định ngày lễ lớn nhất của nhà thờ và định tên các hội đoàn trong xứ. Bên cạnh tước hiệu ấy, nơi này còn mang một tước vị khác hẳn, do Tòa Thánh ban, và đó là điều làm nên sức nặng riêng của Sở Kiện.
Vương cung thánh đường không phải là một ngôi nhà thờ to. Đây là điều cần nói cho thật rõ, vì nhiều người hiểu chữ ấy như một cách khen về quy mô. Thực ra đó là một tước vị do Tòa Thánh ban cho một ngôi nhà thờ cụ thể, tiếng Latinh gọi là basilica. Tước vị có hai bậc. Bậc trên là đại vương cung thánh đường, chỉ dành cho bốn ngôi ở Rôma. Bậc dưới là tiểu vương cung thánh đường, tiếng Latinh là basilica minor, ban cho những nhà thờ có tầm quan trọng riêng về lịch sử, về nghệ thuật hoặc về lòng sùng kính của giáo dân.
Ban tước vị ấy đi kèm mấy hệ quả cụ thể trong giáo luật. Ngôi nhà thờ được nhận một số đặc quyền phụng vụ, được phép mang hai dấu hiệu riêng là chiếc lọng nửa đỏ nửa vàng và chiếc chuông nhỏ gắn trên cán, và giữ một mối dây liên kết đặc biệt với Tòa Thánh. Đổi lại, ngôi nhà thờ ấy có bổn phận giữ phụng vụ cho trọng thể và làm nơi quy tụ cho cả một vùng.
Điều cần phân biệt: tước vị này nói về chỗ đứng của ngôi nhà thờ trong Giáo hội, không nói về kích thước, và cũng khác hẳn chữ chính tòa. Chính tòa là nơi đặt ngai tòa của giám mục giáo phận, một chức năng trong tổ chức. Vương cung thánh đường là một tước vị được ban. Một ngôi nhà thờ có thể mang cả hai, hoặc chỉ một, hoặc không mang cái nào. Sở Kiện mang tước vị vương cung thánh đường nhưng không phải nhà thờ chính tòa.
Sở Kiện được Tòa Thánh nâng lên hàng tiểu vương cung thánh đường năm 2010, với tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Có nguồn ghi mốc cụ thể là ngày 24 tháng 6 năm 2010. Đây là một trong số ít ngôi nhà thờ ở Việt Nam mang tước vị này.
Về mặt tổ chức, Sở Kiện thuộc Tổng giáo phận Hà Nội. Gốc của tổng giáo phận là địa phận Đàng Ngoài lập ngày 9 tháng 9 năm 1659, được nâng lên hàng tổng giáo phận ngày 24 tháng 11 năm 1960, nay coi sóc 174 giáo xứ với khoảng 330.000 giáo dân. Riêng giáo xứ Sở Kiện có chừng năm nghìn giáo dân trong tám giáo họ.
Nơi kính nhớ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam
Phần này thuộc về thờ tự, và thư viện viết đúng ở mức ấy: ai được tôn kính tại đây, được phong hiển thánh năm nào, hài cốt và di vật giữ ở đâu, giáo dân kính nhớ thế nào. Chúng tôi không kể lại chuyện đã xảy ra với các vị, vì đó không phải việc của một trang viết về nơi thờ tự.
Ngày 19 tháng 6 năm 1988, Tòa Thánh phong hiển thánh cho 117 vị tử đạo tại Việt Nam, gồm các giám mục, linh mục, thầy giảng và giáo dân thuộc nhiều nơi trong cả nước. Lễ chung kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam được mừng vào ngày 24 tháng 11 hằng năm, và đây là một trong những lễ trọng của lịch phụng vụ tại Việt Nam.
Sở Kiện là nơi lưu giữ nhiều nhất hài cốt và di vật của các vị ấy. Trong số những vị được tôn kính tại đây có thánh Anrê Dũng Lạc, vị được lấy tên đặt cho cả nhóm 117 vị, và thánh Phêrô Trương Văn Thi, một linh mục quê ở chính vùng đất này. Cùng quê Sở Kiện còn có thánh Phêrô Trương Văn Đường, một thầy giảng. Việc hai vị thánh xuất thân từ đúng giáo xứ này là lý do khiến lòng kính nhớ ở đây mang tính chất của việc nhớ người nhà, chứ không chỉ là lòng sùng kính chung.
Một chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu. Nhiều người nghe chữ vương cung thánh đường thì cho rằng đó là ngôi nhà thờ lớn nhất hoặc quan trọng nhất của một giáo phận. Không phải vậy. Tước vị ấy do Tòa Thánh ban cho từng ngôi nhà thờ riêng lẻ, dựa trên lịch sử, nghệ thuật hoặc lòng sùng kính, và nó không xếp ngôi nhà thờ ấy vào một bậc nào trong tổ chức hành chính của giáo phận. Nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Hà Nội là một ngôi khác, ở Hà Nội. Sở Kiện mang tước vị vương cung thánh đường mà vẫn là nhà thờ của một giáo xứ.
IISáu Năm Dựng Và Ba Lần Được Nâng Vai Trò
Lịch sử nơi này gồm một công trình dựng liền mạch trong sáu năm cuối thế kỷ 19, rồi ba lần được nâng vai trò trong khoảng hai chục năm gần đây. Các mốc dưới đây chỉ thuộc việc lập giáo phận, xây dựng và các quyết định của Giáo hội về ngôi nhà thờ.
- 1659Lập địa phận Đàng NgoàiNgày 9 tháng 9, Tòa Thánh lập địa phận Đàng Ngoài. Đây là gốc xa của Tổng giáo phận Hà Nội mà Sở Kiện thuộc về.
- 1877Khởi công nhà thờNgày 25 tháng 10, công trình khởi công dưới sự chủ trì của giám mục Puginier Phước, trên một vùng đất trũng nên phải đóng cọc gỗ lim làm móng.
- 1883Cung hiếnTháng 1 năm này, ngôi nhà thờ được cung hiến, tức dâng hẳn công trình cho việc thờ phượng, với tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.
- 1913Dựng nhà nguyện Thánh TâmMột nhà nguyện nhỏ trong khuôn viên, ban đầu là phòng nguyện riêng của giám mục. Về sau đây thành nơi đặt các thánh tích để giáo dân kính viếng.
- 1960Nâng lên tổng giáo phậnNgày 24 tháng 11, địa phận Hà Nội được nâng lên hàng tổng giáo phận, cùng đợt với việc thiết lập hàng giáo phẩm trong cả nước.
- 2008Trung tâm hành hương của tổng giáo phậnSở Kiện được chọn làm trung tâm hành hương kính Các Thánh Tử Đạo của Tổng giáo phận Hà Nội.
- 2010Tiểu vương cung thánh đườngTòa Thánh nâng ngôi nhà thờ lên hàng tiểu vương cung thánh đường với tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Có nguồn ghi mốc cụ thể là ngày 24 tháng 6.
- 2024Trung tâm hành hương toàn quốcNgày 17 tháng 4, Hội đồng Giám mục Việt Nam biểu quyết nâng Sở Kiện thành Trung tâm Hành hương toàn quốc kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, với lý do nêu ra là nơi đây lưu giữ nhiều nhất hài cốt và thánh tích của các vị.
Ba mốc 2008, 2010 và 2024 rất hay bị gộp lại, nên xin tách bạch cho rõ, vì mỗi mốc là một việc khác nhau và do một bên khác nhau quyết định.
Mốc 2008 là việc của Tổng giáo phận Hà Nội: chọn Sở Kiện làm nơi hành hương kính các thánh tử đạo trong phạm vi tổng giáo phận. Mốc 2010 là việc của Tòa Thánh: ban tước vị tiểu vương cung thánh đường cho ngôi nhà thờ. Mốc 2024 là việc của Hội đồng Giám mục Việt Nam: nâng nơi này thành trung tâm hành hương của cả nước. Một mốc nói về phạm vi một tổng giáo phận, một mốc nói về tước vị của ngôi nhà thờ, một mốc nói về phạm vi cả nước.
Một chỗ nhỏ cần ghi thêm: tư liệu của Tổng giáo phận Hà Nội có nêu một mốc cung hiến năm 2002 bên cạnh mốc cung hiến năm 1883. Hai mốc này nhiều khả năng ứng với hai việc khác nhau, một là lễ cung hiến ban đầu và một là lễ sau một đợt tu sửa lớn, nhưng chúng tôi chưa tra được tư liệu nói dứt điểm nên xin ghi cả hai và không chốt.
IIINăm Lòng Chín Gian, Bốn Quả Chuông Và Cung Thánh Sơn Son
Lối tạo hình ở đây là Gothic, ngôn ngữ kiến trúc châu Âu lấy chiều cao và vòm nhọn làm phương tiện chính. Thân nhà thờ dài 67,2 mét, rộng 31,2 mét, cao 23,2 mét, chia thành năm lòng và chín gian bởi bốn hàng cột, trần bắc thành vòm cao vút. Sức chứa được các tư liệu ghi là bốn tới năm nghìn người cùng lúc, một con số rất lớn so với nhà thờ cùng thời ở miền Bắc.
Nhưng chỗ đáng viết nhất của công trình không nằm ở lối Gothic. Nó nằm ở chỗ hai nền nghề gặp nhau: tường ngoài gạch đỏ và cửa sổ kính màu vẽ tích thánh thì thuần châu Âu, còn khu cung thánh và bàn thờ lại là gỗ chạm trổ, sơn son thếp vàng theo đúng lối thợ Việt. Phần trang nghiêm nhất của ngôi nhà thờ được làm bằng nghề của làng nghề Bắc Bộ.
Đất vùng này trũng và lầy, không đỡ nổi một khối nhà thờ lớn, nên người dựng phải đóng cọc và lát phiến gỗ lim làm móng. Đây là giải pháp cùng loại với cách làm móng nhà ở vùng đầm lầy thời chưa có bê tông cốt thép.
Bốn hàng cột chia lòng nhà thờ thành năm lòng chạy dọc và chín gian chạy ngang. Cách chia này cho phép một công trình rộng hơn ba mươi mét mà vẫn đỡ được trần vòm cao.
Hai khối tháp gạch ở mặt tiền, định hình bóng dáng công trình khi nhìn từ xa trên nền đất bằng của châu thổ.
Bộ bốn quả chuông mang bốn cung khác nhau. Quả nặng nhất được ghi là 2.461 ki lô gam. Bộ chuông đủ cung như vậy cho phép đổ chuông thành giai điệu chứ không chỉ thành tiếng.
Khu cung thánh và bàn thờ làm bằng gỗ chạm trổ, sơn son thếp vàng theo lối truyền thống Việt Nam. Đây là chỗ giao giữa hai nền nghề đáng chú ý nhất của công trình.
Các ô cửa kính màu trên tường vẽ chân dung các thánh và các cảnh trong Thánh Kinh, giữ đúng nếp lấy sáng của nhà thờ Gothic.
Ngôi nhà nguyện nhỏ dựng năm 1913 trong khuôn viên, ban đầu là phòng nguyện riêng của giám mục. Đây là nơi đặt các thánh tích để giáo dân kính viếng.
Khuôn viên của cả khu rộng chừng mười một hecta, chia thành các khu riêng: khu nhà thờ, khu nhà lưu giữ hài cốt và di vật, nhà nguyện Thánh Tâm, và phần mộ của các vị giám mục an táng tại đây. Diện tích ấy không phải chuyện thừa thãi: nó là điều kiện cần cho một nơi mà vào những dịp lớn, số người về đông hơn nhiều so với sức chứa của lòng nhà thờ.
Một điều nên ghi về móng cọc gỗ lim. Cách làm ấy giữ được công trình đứng vững hơn một trăm bốn mươi năm trên nền đất trũng, nhưng theo các bản mô tả thì nhà thờ vẫn lún dần theo thời gian, như mọi công trình nặng đặt trên đất bồi. Đây là một đặc điểm kỹ thuật của nơi này, và nó giải thích vì sao các đợt tu sửa ở đây phải chú ý tới phần nền nhiều hơn so với nhà thờ dựng trên đất chắc.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này cần rào trước cho rõ. Công giáo không dạy phong thủy, và hướng của một ngôi nhà thờ theo truyền thống là hướng phụng vụ, tức hướng đặt bàn thờ và cung thánh theo quy tắc của việc cử hành. Lối cổ của Giáo hội là quay cung thánh về hướng đông, phía mặt trời mọc, vì mặt trời mọc được hiểu như hình ảnh của Chúa Phục Sinh. Đó là quy tắc của đạo chứ không phải một lựa chọn theo la bàn của thầy địa lý. Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc thế đất theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối ấy, không phải điều chép trong tư liệu của Giáo hội.
Một, đất trũng và việc bồi đắp. Đây là chỗ đáng đọc nhất. Khu đất này trũng và lầy, thuộc loại mà sách xưa gọi là đất yếu: nước đọng, hơi đất ẩm, không đỡ nổi vật nặng. Trong phép xem đất, gặp thế ấy thì có hai đường, một là bỏ đi tìm chỗ khác, hai là tài bồi, tức bồi thêm cho đủ thế. Người dựng ở đây chọn đường thứ hai theo cách của nghề mộc: đóng cọc và lát phiến gỗ lim xuống dưới, biến một nền đất mềm thành một nền chịu lực. Xin nói rõ rằng lý do của họ là lý do kết cấu chứ không phải phong thủy, nhưng kết quả thì trùng đúng với cái mà lối cũ gọi là bồi thế.
Hai, không có núi thì dựng tháp. Vùng này là châu thổ, đất bằng, không có ngọn núi nào để làm hậu chẩm tức gối tựa sau lưng. Đây là điều kiện chung của cả vùng, và nó giải thích vì sao nhà thờ ở châu thổ bao giờ cũng dựng tháp cao: chiều cao là thứ duy nhất tạo được thế nổi trên một mặt đất không có gì nổi. Hai ngọn tháp cao hai mươi bảy mét ở đây làm đúng việc ấy.
Ba, khuôn viên rộng đọc theo phép cũ. Mười một hecta là một khoảnh đất rất rộng cho một ngôi nhà thờ. Theo lối đọc cổ truyền, khoảng trống trước mặt công trình gọi là minh đường, và sách xưa đòi minh đường phải rộng, bằng và sáng. Ở đây điều kiện ấy có trọn vẹn. Nhưng có một chỗ khác biệt đáng nói: ở phần lớn nơi thờ tự, minh đường chỉ là chỗ dẫn vào, còn ở một nơi hành hương thì chính khoảng trống ngoài trời mới là nơi diễn ra việc chính, vì số người về đông hơn sức chứa của lòng nhà thờ.
Bốn, đất giữ mộ và đất giữ di vật. Trong cách nghĩ của người Việt xưa, mảnh đất đã đặt mộ thì không dời, và nơi giữ di vật của người đã khuất thì con cháu tụ về. Ở đây khuôn viên vừa có phần mộ các vị giám mục vừa có nhà lưu giữ hài cốt và di vật của các thánh tử đạo, nên theo lối đọc ấy, khu đất mang tính chất của một nơi tụ lâu dài: nó không thể chuyển chỗ, và mỗi lần người ta về đây là một lần trở lại đúng chỗ cũ. Xin nói rõ rằng trong Công giáo, việc giữ hài cốt và di vật của các thánh có lý do riêng của đạo, và sự trùng khớp ở đây là trùng khớp về kết quả. Chúng tôi ghi lối đọc này như một cách đối chiếu, và dừng ở đó.
VHành Hương, Lễ Trong Năm Và Cách Giáo Dân Kính Nhớ
Nhịp của Sở Kiện gồm hai lớp. Lớp thứ nhất là lịch phụng vụ chung của Giáo hội Công giáo, tính theo dương lịch, như mọi ngôi nhà thờ khác. Lớp thứ hai là nhịp của một nơi hành hương: các đoàn từ những giáo phận xa về kính viếng, không dồn vào một ngày cố định mà rải quanh năm, đông nhất là quanh dịp lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Bài chỉ ghi những ngày cố định, không ghi giờ cử hành.
| Thời điểm | Lễ hoặc nếp đạo | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 24 tháng 11 | Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam | Lễ chung kính các vị được phong hiển thánh năm 1988. Đây là dịp lớn nhất trong năm của nơi này, với các đoàn hành hương từ nhiều giáo phận về. |
| Ngày 8 tháng 12 | Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội | Lễ bổn mạng theo đúng tước hiệu của ngôi vương cung thánh đường. |
| Quanh năm | Hành hương kính viếng thánh tích | Các đoàn về kính viếng nơi lưu giữ hài cốt và di vật, thường kèm một thánh lễ và một giờ cầu nguyện chung tại nhà nguyện Thánh Tâm. |
| Tuần Thánh và lễ Phục Sinh | Tam Nhật Vượt Qua | Chuỗi cử hành trọng thể nhất của năm phụng vụ, ngày thay đổi theo lịch Phục Sinh hằng năm. |
| Mùa Vọng và ngày 25 tháng 12 | Mùa Vọng và lễ Giáng Sinh | Mùa chuẩn bị rồi tới lễ mừng Chúa giáng sinh, một trong hai đỉnh của năm phụng vụ. |
| Ngày 2 tháng 11 và cả tháng Mười Một | Cầu cho các tín hữu đã qua đời | Mang ý nghĩa riêng tại đây, vì trong khuôn viên có phần mộ của các vị giám mục an táng tại chỗ. |
Về cách giáo dân kính nhớ, xin ghi đúng những gì quan sát được. Trong khuôn viên có một nhà lưu giữ nơi đặt gần bảy trăm hũ đựng tro cốt và di tích của các vị tử đạo, cả những vị đã được phong hiển thánh lẫn những vị được tôn phong ở bậc chân phước. Trong nhà nguyện Thánh Tâm có một khung đặt thánh tích của sáu mươi bảy vị đã được phong hiển thánh, và đây là chỗ các đoàn hành hương dừng lại lâu nhất. Nếp thường thấy là đoàn tới thì vào kính viếng nơi lưu giữ trước, rồi sang nhà nguyện cầu nguyện, sau cùng mới dự thánh lễ trong lòng nhà thờ lớn.
Một điểm riêng của Sở Kiện đáng ghi: hai trong số các vị được tôn kính ở đây là người quê chính vùng đất này. Vì vậy với giáo dân trong xứ, việc kính nhớ mang thêm tính chất của việc nhớ người cùng làng, và điều đó giữ cho lòng sùng kính ở đây rất cụ thể chứ không chỉ là một việc đạo đức chung.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm cũ, tỉnh Ninh Bình
- Đường tới
- Nơi này ở thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm cũ, tỉnh Ninh Bình, trong vùng châu thổ phía nam Hà Nội. Hai ngọn tháp gạch là mốc nhận ra công trình từ xa trên nền đất bằng.
- Toạ độ
- 20.4999, 105.8964
Đây là nơi cử hành phụng vụ và là nơi lưu giữ hài cốt cùng di vật của các thánh, không phải điểm tham quan, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, giữ im lặng. Khi đang có thánh lễ, xin quý vị không đi lại giữa các hàng ghế và không chụp ảnh. Riêng ở khu lưu giữ thánh tích và nhà nguyện Thánh Tâm thì xin giữ thật yên, vì đó là chỗ người ta về để cầu nguyện chứ không phải để xem. Khu cung thánh, nơi có bàn thờ, dành cho người có phận sự.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Vương cung thánh đường Sở Kiện
Contribute photos, information or video for So Kien BasilicaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vương cung thánh đường nghĩa là gì
Là một tước vị do Tòa Thánh ban cho một ngôi nhà thờ, tiếng Latinh gọi là basilica, không phải cách nói về kích thước. Tước vị có hai bậc: đại vương cung thánh đường chỉ dành cho bốn ngôi ở Rôma, và tiểu vương cung thánh đường ban cho những nhà thờ có tầm quan trọng riêng về lịch sử, nghệ thuật hoặc lòng sùng kính, kèm một số đặc quyền phụng vụ và hai dấu hiệu riêng là chiếc lọng và chiếc chuông nhỏ gắn trên cán.
Sở Kiện được nâng lên vương cung thánh đường năm nào
Năm 2010, với tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Có nguồn ghi mốc cụ thể là ngày 24 tháng 6 năm 2010. Xin phân biệt mốc này với hai mốc khác hay bị gộp vào: năm 2008 Sở Kiện được chọn làm trung tâm hành hương của Tổng giáo phận Hà Nội, còn ngày 17 tháng 4 năm 2024 thì Hội đồng Giám mục Việt Nam nâng nơi đây thành trung tâm hành hương toàn quốc.
Sở Kiện lưu giữ hài cốt các thánh tử đạo nào
Đây là nơi lưu giữ nhiều nhất hài cốt và di vật của các thánh tử đạo tại Việt Nam. Trong số các vị được tôn kính tại đây có thánh Anrê Dũng Lạc và thánh Phêrô Trương Văn Thi, cùng thánh Phêrô Trương Văn Đường vốn quê ngay vùng đất này. Cả 117 vị tử đạo tại Việt Nam được Tòa Thánh phong hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988, và lễ chung kính các ngài mừng ngày 24 tháng 11.
Nhà thờ Sở Kiện xây năm nào và lớn cỡ nào
Công trình khởi công ngày 25 tháng 10 năm 1877 và được cung hiến vào tháng 1 năm 1883, dựng theo lối Gothic. Thân nhà thờ dài 67,2 mét, rộng 31,2 mét, cao 23,2 mét, chia năm lòng chín gian bởi bốn hàng cột, chứa được bốn tới năm nghìn người. Vì đất vùng này trũng, móng nhà thờ phải đóng cọc và lát phiến gỗ lim.
Vì sao gọi Sở Kiện là nhà thờ Kẻ Sở
Kẻ Sở là tên nôm của vùng đất này theo lối gọi cũ của người Việt, trong đó chữ kẻ đứng trước tên làng, còn Sở Kiện là tên ghép từ hai địa danh trong vùng. Cả hai tên cùng chỉ một nơi. Người lớn tuổi và các tư liệu cũ thường dùng tên nhà thờ Kẻ Sở, còn các văn kiện của Giáo hội ngày nay dùng tên Sở Kiện.