Từ đường Vi Ba, con dốc men theo sườn núi Lớn đưa quý vị lên qua những tán thông và hàng cây cảnh cắt tỉa gọn. Tới cổng thiền viện, tiếng xe dưới phố đã lặng. Quay lưng lại, quý vị thấy mái nhà Vũng Tàu xếp lớp phía dưới và xa hơn là một dải biển xám bạc. Ở chỗ cao nhất của khuôn viên, một pho tượng Phật lớn phủ vàng ngồi nhìn ra phía biển ấy.
Người lần đầu đến thường nghĩ đây là một ngôi chùa đẹp trên núi. Nhưng với những người tu theo Thiền phái Trúc Lâm hiện đại, chỗ này có một vị trí không nơi nào khác thay được. Chính trên sườn núi này, năm 1966, Hòa thượng Thích Thanh Từ dựng cái thất nhỏ tên Pháp Lạc, ngồi thiền ở đó, và từ đó mở những khóa tu thiền đầu tiên. Mọi thiền viện Trúc Lâm có mặt hôm nay đều tính ngược về cái thất ấy.
INơi Khởi Đầu Của Một Thiền Phái
Trong một dòng tu, có nơi được gọi là tổ đình và có nơi được gọi là chỗ khởi đầu. Hai thứ ấy không phải lúc nào cũng là một. Với Thiền phái Trúc Lâm hiện đại, tổ đình là Thiền viện Thường Chiếu, lập năm 1974, nơi tăng chúng được tổ chức và đào tạo có quy mô. Phần tông chỉ của thiền phái và mối quan hệ với Trúc Lâm Tam Tổ thời Trần, quý vị đọc ở bài ấy. Bài này chỉ nói một việc: vì sao Chơn Không đứng trước Thường Chiếu trong câu chuyện của thiền phái.
Câu trả lời nằm ở ba mốc. Năm 1966 là năm vị tổ khai sơn dựng thất Pháp Lạc trên núi Tương Kỳ, tức núi Lớn. Năm 1968 là năm ngài ngộ lý Bát Nhã ngay trong thất ấy, theo tiểu sử đăng trên phatgiao.org.vn. Giai đoạn 1969 tới 1970 là lúc Tu viện Chơn Không được xây và mở khóa tu thiền đầu tiên. Ba việc ấy, một nơi ở, một lần ngộ, một lớp học trò, là ba thứ làm nên một thiền phái. Cả ba đều xảy ra ở đây trước khi Thường Chiếu có mặt.
Vị khai sơn là Hòa thượng Thích Thanh Từ, thế danh Trần Hữu Phước, sinh ngày 24 tháng 7 năm 1924 ở Cần Thơ, xuất gia năm 1949 tại chùa Phật Quang với Tổ Thiện Hoa, theo phatgiao.org.vn. Cũng theo nguồn ấy, ngày rằm tháng tư âm lịch năm 1968 ngài vào thất tu thiền với chí nguyện không ra khi chưa thấy đạo, và tới tháng 7 năm ấy thì ngộ lý Bát Nhã. Trang Phật Sự Online chép rằng sau đó ngài đem chỗ sở ngộ chỉ dạy đại chúng, mở đầu công cuộc khôi phục Thiền tông Việt Nam.
Về hai khóa thiền đầu tiên, Phật Sự Online ghi khóa thứ nhất giai đoạn 1969 tới 1970 gồm 10 vị tăng, khóa thứ hai năm 1974 gồm 20 vị tăng ni. Những con số nhỏ ấy đáng ghi lại chính vì chúng nhỏ. Một thiền phái mà về sau có hàng chục thiền viện trong và ngoài nước đã bắt đầu bằng mười người ngồi trong một tu viện trên sườn núi.
Tên Chơn Không có hai lớp nghĩa, và các nguồn nói cả hai. Lớp thứ nhất là một pháp hiệu. Phật Sự Online ghi Chơn Không là pháp hiệu của một thiền sư đời Lý, sống vào thời Lý Nhân Tông, nguồn ấy ghi năm sinh năm mất là 1045 tới 1110. Chốn Thiêng cũng ghi tên thiền viện gợi tới một thiền sư nổi tiếng đời Lý. Đặt tên như vậy là nối nơi tu mới với dòng thiền của người Việt từ trước thời Trần.
Lớp thứ hai là nghĩa giáo lý. Theo lời các sư ở đây mà VietNamNet dẫn lại, chữ Chơn Không chỉ thể tánh bất sinh bất diệt sẵn có nơi mỗi người. Trong kinh Bát Nhã, không là không có tự tánh riêng, chứ không phải là trống rỗng hư vô. Chữ chơn, tức chân, thêm vào để nói cái không ấy là thật, là chỗ gốc mà người tu cần nhận ra. Đặt cạnh mốc năm 1968, cái tên nói đúng điều đã xảy ra trong thất Pháp Lạc: một vị tăng ngộ lý Bát Nhã, và nơi ấy mang tên của chính cái lý mình ngộ.
Hai chỗ hay nhầm. Thứ nhất là tên. Biển chỉ đường và nhiều trang du lịch ghi Chân Không, còn nguồn của thiền phái, Phật Sự Online và bản đồ số ghi Chơn Không. Hai tên là một nơi, chơn là lối đọc Nam Bộ của chữ chân. Trước năm 1995 nơi này có tên Tu viện Chơn Không, và tên gốc của cái thất đầu tiên là thất Pháp Lạc.
Thứ hai là vai. Vì Chơn Không có trước, không ít người gọi đây là tổ đình của Thiền phái Trúc Lâm. Cách gọi của chính thiền phái là Thường Chiếu làm tổ đình, còn Chơn Không là nơi khởi đầu. Chơn Không cũng không phải thiền viện lớn nhất hay đông khách nhất, vai ấy thuộc về Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt.
Về bài kệ truyền thừa để đặt pháp danh theo đời, thư viện chưa tra được bài nào của thiền phái có nguồn rõ, nên không ghi. Điều thấy được là các thế hệ đầu tiên học thiền với vị khai sơn ở chính nơi này, trong hai khóa 1969 và 1974.
IITừ Thất Tre Lá Tới Thiền Viện
Lịch sử của Chơn Không chỉ gồm việc tu, việc học và việc xây. Theo Phật Sự Online, thất Pháp Lạc ban đầu dựng bằng tre lá để chuyên tu thiền. Qua mấy lần mở rộng, tới năm 1995 nơi này được kiến thiết theo quy mô hiện nay và mang tên thiền viện.
- 1966Dựng thất Pháp LạcHòa thượng Thích Thanh Từ dựng thất tre lá trên núi Tương Kỳ để chuyên tu thiền. Phatgiao.org.vn ghi tháng 4, Phật Sự Online ghi tháng 6 năm 1966.
- 1968Ngộ lý Bát NhãRằm tháng tư âm lịch ngài vào thất tu thiền, tới tháng 7 thì ngộ lý Bát Nhã, theo phatgiao.org.vn.
- 1969 tới 1970Khóa thiền đầu tiênTu Viện Chơn Không được xây, mở khóa thiền đầu tiên gồm 10 vị tăng, theo Phật Sự Online.
- 1974Khóa thiền thứ haiKhóa thứ hai gồm 20 vị tăng ni. Cùng năm ấy Thiền viện Thường Chiếu được lập ở Long Thành cũ.
- 1995Đổi tên thành thiền việnTháng 4 năm 1995 tu viện được trùng tu, đổi tên thành Thiền viện Chơn Không, chia hai khu chuyên tu riêng cho tăng và ni.
- 1998Đúc đại hồng chungQuả chuông đồng nặng gần một tấn được đúc cho tháp chuông, theo VietNamNet và Chốn Thiêng.
- 2021Khánh thành tượng Phật lớnPho tượng Phật phủ vàng ở chỗ cao nhất thiền viện được khánh thành, theo VietNamNet.
Mấy chỗ các nguồn không khớp, xin ghi thẳng. Tháng dựng thất: phatgiao.org.vn ghi tháng 4 năm 1966, Phật Sự Online ghi tháng 6. Diện tích: Phật Sự Online ghi khu đất rộng 27.000 mét vuông, tổng diện tích xây dựng 2.831,26 mét vuông, còn VietNamNet ghi thiền viện rộng khoảng 2.000 mét vuông. Có thể một bên tính cả khu đất trên sườn núi, một bên chỉ tính phần xây, nhưng không nguồn nào nói rõ.
Địa chỉ cũng có hai lối ghi. Bản đồ số ghi số 44 đường Vi Ba, Phật Sự Online và VietNamNet ghi số 36/11. Về phường cũ, Phật Sự Online ghi phường Thắng Nhì, Chốn Thiêng ghi phường 6. Từ năm 2025 nơi này thuộc phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, nên hai tên phường cũ chỉ còn giá trị tra cứu.
IIITháp Tổ, Chánh Điện Và Tượng Niêm Hoa
Chơn Không không dàn trên một mặt bằng phẳng mà trải theo sườn dốc. Các công trình đặt so le theo độ cao, nối nhau bằng bậc cấp và lối đi giữa vườn thông, cây cảnh. VietNamNet kể các hạng mục chính gồm tháp tổ, chánh điện, tháp chuông, thiền đường, viện ni và nhà khách. Từ năm 1995, khuôn viên chia hai khu chuyên tu riêng cho tăng và ni.
Theo Phật Sự Online, chánh điện thờ Đức Phật Thích Ca tay cầm hoa sen, hai bên là Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Phổ Hiền. Tượng Phật cầm hoa là lối tôn trí quen của các thiền viện Trúc Lâm.
Thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, người đưa Thiền tông sang Trung Hoa, cùng Phật hoàng Trần Nhân Tông, Nhị tổ Pháp Loa và Tam tổ Huyền Quang, theo Phật Sự Online.
Nằm giữa vườn cây trên sườn núi, là điểm tưởng niệm vị khai sơn của thiền viện và của cả thiền phái.
Treo đại hồng chung đúc năm 1998, nặng gần một tấn, theo VietNamNet.
Nơi tăng ni ngồi thiền chung theo thời khóa, là việc chính của thiền viện, dù ít được khách để ý.
Pho tượng Phật lớn phủ vàng ở chỗ cao nhất, mặt hướng ra biển, khánh thành năm 2021. Phật Sự Online ghi tượng cao 28 mét, VietNamNet không nêu chiều cao.
Tên tượng lớn, Niêm hoa vi tiếu, là tên một tích của Thiền tông: Đức Phật đưa cành hoa lên giữa hội chúng mà không nói, chỉ ngài Ca Diếp mỉm cười. Cả thiền phái nhận tích ấy làm gốc của lối truyền tâm không qua chữ nghĩa. Chánh điện Chơn Không tôn tượng Phật cầm hoa, rồi pho tượng lớn nhất khuôn viên cũng mang lại tích ấy, nên người đi từ dưới lên trên gặp cùng một câu chuyện hai lần, một lần trong điện, một lần ngoài trời.
Nhiều bài viết gọi đây là tượng Phật bằng vàng. Nguồn báo chí ghi tượng phủ vàng hoặc dát vàng, tức lớp vàng phủ ngoài bề mặt, không phải một khối vàng đặc. Chuyện ấy không đổi gì giá trị của pho tượng, chỉ là để quý vị đọc cho đúng.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bản của thiền viện. Tư liệu chúng tôi đọc được không nói vị khai sơn chọn đất theo phép nào, chỉ cho biết ngài cần một chỗ vắng để chuyên tu. Nhà thiền cũng không lấy phong thủy làm chỗ dựa để chọn đất. Đoạn dưới chỉ là chỗ đối chiếu cho quý vị quen lối nhìn đất của người Việt.
Các nguồn tả thiền viện ở độ cao khoảng 80 mét, lưng tựa núi, mặt hướng ra biển. Trong lối nhìn cổ truyền, đó gần với thế tựa sơn hướng thủy: núi sau lưng giữ khí, nước trước mặt mở tầm nhìn. Núi Lớn là khối núi cao nhất bán đảo Vũng Tàu, nên chỗ tựa ở đây vững, còn mặt biển phía trước là thứ minh đường rộng mà ít nơi tu có được.
Điều đáng đọc hơn là độ cao vừa phải. Tám mươi mét không phải đỉnh núi. Người xưa hay tránh đặt nơi ở lên đỉnh trơ, vì đỉnh hứng gió mạnh, khí tán, và xa nguồn sống. Một sườn núi lưng chừng vừa có chỗ dựa phía sau, vừa đủ cao để tách khỏi tiếng phố, vừa đủ gần để người tu xuống núi lo việc sinh hoạt hằng ngày. Với một cái thất tre lá năm 1966, sườn núi ấy là chỗ hợp nhất.
Về bố cục, các công trình đặt từ thấp lên cao, và điểm cao nhất dành cho tượng Phật nhìn ra biển. Người đi lên đi theo đúng thứ tự từ chỗ sinh hoạt tới chỗ thờ, từ chỗ gần phố tới chỗ gần trời. Đọc theo lối cổ truyền, đó là thế đi lên dần, khí gom về chỗ cao rồi tỏa ra phía trước.
Sau cùng là chuyện tên và đất. Một nơi mang tên Chơn Không đứng trước mặt biển. Biển là hình ảnh mà kinh sách nhà Phật hay dùng để nói tánh giác: sóng khởi rồi lặng, nước vẫn là nước. Chúng tôi không nói vị khai sơn chọn đất vì ý ấy, chỉ ghi rằng tên và cảnh ở đây nói cùng một điều.
VLễ Và Nếp Tu Học
Nhịp chính của Chơn Không là thời khóa hằng ngày của hai khu tăng và ni: ngồi thiền, học kinh, công tác. Các ngày lễ trong năm theo lịch chung của Phật Giáo Bắc Tông Việt Nam, thêm những ngày riêng mà các thiền viện Trúc Lâm cùng giữ.
| Ngày âm lịch | Lễ | Ghi chú |
|---|---|---|
| Rằm tháng Giêng | Thượng nguyên | Lễ rằm đầu năm theo nếp chung của chùa Việt. |
| Rằm tháng 4 | Phật Đản | Mừng ngày Đức Phật đản sinh. Cũng là ngày vị khai sơn vào thất tu thiền năm 1968, theo phatgiao.org.vn. |
| Rằm tháng 4 tới rằm tháng 7 | An cư kiết hạ | Ba tháng tăng ni ở yên một chỗ tu học theo luật nhà Phật. |
| Rằm tháng 7 | Vu Lan | Lễ báo hiếu cha mẹ, khép lại mùa an cư. |
| Mùng 1 tháng 11 | Tưởng niệm Sơ tổ Trúc Lâm | Ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn, các thiền viện Trúc Lâm cùng tưởng niệm. |
Ngày rằm tháng tư ở Chơn Không có một nghĩa mà nơi khác không có. Đó vừa là ngày Phật Đản, vừa là ngày năm 1968 vị khai sơn khép cửa thất Pháp Lạc để tu cho tới khi thấy đạo. Người trong thiền phái về đây vào dịp ấy là về đúng chỗ, đúng ngày mà câu chuyện của họ bắt đầu.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường Vi Ba trên núi Lớn (núi Tương Kỳ), Maps ghi số 44, Phật Sự Online và VietNamNet ghi số 36/11, phường Vũng Tàu (thành phố Vũng Tàu cũ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
- Đường tới
- Thiền viện nằm trên đường Vi Ba, sườn núi Lớn, phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc thành phố Vũng Tàu cũ. Từ trung tâm Vũng Tàu đi lên núi Lớn theo đường Vi Ba, dốc khá đứng ở đoạn cuối.
- Toạ độ
- 10.3578, 107.0718
Chơn Không là nơi tăng ni đang tu, không phải điểm ngắm cảnh. Lệ của thiền viện là ăn mặc kín đáo, đi nhẹ nói khẽ, nhất là khi đi ngang thiền đường và hai khu tăng, ni. Khu chuyên tu không mở cho khách, xin quý vị đi theo lối dành cho người thăm viếng. Khi lên chỗ tượng lớn, xin đứng lễ ở sân, không trèo lên bệ tượng, và không chụp ảnh chư tăng ni khi chưa được phép.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thiền viện Chơn Không
Contribute photos, information or video for Chon Khong Zen MonasteryThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Thiền viện Chơn Không Vũng Tàu do ai lập
Do Hòa thượng Thích Thanh Từ lập. Năm 1966 ngài dựng thất Pháp Lạc bằng tre lá trên núi Tương Kỳ, tức núi Lớn, để chuyên tu thiền. Giai đoạn 1969 tới 1970 nơi này thành Tu viện Chơn Không, năm 1995 đổi tên thành thiền viện và chia hai khu tăng, ni.
Thiền viện Chơn Không hay Chân Không mới đúng tên
Cả hai cùng chỉ một nơi. Nguồn của Thiền phái Trúc Lâm và bản đồ số dùng tên Chơn Không, chơn là lối đọc Nam Bộ của chữ chân. Tên cũ trước năm 1995 là Tu viện Chơn Không, còn cái thất đầu tiên có tên Pháp Lạc.
Thiền viện Chơn Không có phải tổ đình Trúc Lâm không
Không. Tổ đình của Thiền phái Trúc Lâm hiện đại là Thiền viện Thường Chiếu, lập năm 1974. Chơn Không là nơi khởi đầu, có từ năm 1966, là chỗ vị khai sơn ngộ lý Bát Nhã năm 1968 và mở hai khóa tu thiền đầu tiên năm 1969 và 1974.
Tên Chơn Không nghĩa là gì
Phật Sự Online ghi Chơn Không là pháp hiệu của một thiền sư đời Lý. Các sư ở đây giải thích chữ ấy chỉ thể tánh bất sinh bất diệt sẵn có nơi mỗi người, gần với lý Bát Nhã mà vị khai sơn đã ngộ tại chính nơi này năm 1968.
Tượng Phật vàng ở Thiền viện Chơn Không cao bao nhiêu
Tượng Niêm hoa vi tiếu phủ vàng đặt ở chỗ cao nhất thiền viện, mặt nhìn ra biển, khánh thành năm 2021. Phật Sự Online ghi tượng cao 28 mét, VietNamNet không nêu chiều cao. Tượng phủ vàng bên ngoài, không phải làm bằng vàng đặc.