VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Thiền viện Chơn Không

Thiền viện Chân Không, Tu viện Chơn Không, thất Pháp Lạc

Một cái thất tre lá trên sườn núi Lớn năm 1966 đã thành nơi khởi đầu của cả một thiền phái, trước tổ đình Thường Chiếu và mọi thiền viện Trúc Lâm về sau.

Thất Pháp Lạc
1966
tháng 4 hoặc tháng 6, trên vùng Hòn Chụp núi Lớn
Khóa thiền đầu
10 vị tăng
khai giảng giai đoạn 1969 tới 1971
Độ cao
khoảng 80 m
lưng tựa núi, mặt nhìn ra biển

Từ đường Vi Ba, con dốc men theo sườn núi Lớn đưa quý vị lên qua những tán thông và hàng cây cảnh cắt tỉa gọn. Tới cổng thiền viện, tiếng xe dưới phố đã lặng. Quay lưng lại, quý vị thấy mái nhà Vũng Tàu xếp lớp phía dưới và xa hơn là một dải biển xám bạc. Ở chỗ cao nhất của khuôn viên, một pho tượng Phật lớn phủ vàng ngồi nhìn ra phía biển ấy.

Người lần đầu đến thường nghĩ đây là một ngôi chùa đẹp trên núi. Nhưng với những người tu theo Thiền phái Trúc Lâm hiện đại, chỗ này có một vị trí không nơi nào khác thay được. Chính tại vùng đất Hòn Chụp, còn gọi là Hòn Sụp trên sườn núi Lớn này, năm 1966, Hòa thượng Thích Thanh Từ dựng cái thất nhỏ tên Pháp Lạc, ngồi thiền ở đó, và từ đó mở những khóa tu thiền đầu tiên. Mọi thiền viện Trúc Lâm có mặt hôm nay đều tính ngược về cái thất ấy.

Thiền viện Chơn Không
Thiền viện Chơn Không. Ảnh: trungydang, giấy phép CC BY 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

INơi khởi đầu của một thiền phái

Trong một dòng tu, có nơi được gọi là tổ đình và có nơi được gọi là chỗ khởi đầu. Hai thứ ấy không phải lúc nào cũng là một. Với Thiền phái Trúc Lâm hiện đại, tổ đình là Thiền viện Thường Chiếu, lập năm 1974, nơi tăng chúng được tổ chức và đào tạo có quy mô. Phần tông chỉ của thiền phái và mối quan hệ với Trúc Lâm Tam Tổ thời Trần, quý vị đọc ở bài ấy. Bài này chỉ nói về lý do Chơn Không đứng trước Thường Chiếu trong câu chuyện của thiền phái.

Câu trả lời nằm ở ba mốc. Năm 1966 là năm vị tổ khai sơn khai phá vùng Hòn Chụp trên núi Tương Kỳ, tức núi Lớn, để dựng thất Pháp Lạc. Năm 1968 là năm ngài ngộ lý Bát Nhã ngay trong thất ấy, rồi ra thất tuyên bố đem sở ngộ chỉ dạy đại chúng vào tháng Chạp năm Mậu Thân. Giai đoạn từ năm 1969 tới năm 1971 là lúc Tu viện Chơn Không được xây dựng và mở khóa tu thiền ba năm đầu tiên. Ba việc ấy, gồm một nơi ở, một lần ngộ và một lớp học trò, là ba thứ làm nên một thiền phái. Cả ba đều xảy ra ở đây trước khi Thường Chiếu có mặt.

Theo sử liệu

Vị khai sơn là Hòa thượng Thích Thanh Từ, thế danh Trần Hữu Phước, sinh ngày 24 tháng 7 năm 1924 ở Cần Thơ, xuất gia năm 1949 tại chùa Phật Quang với Tổ Thiện Hoa, theo phatgiao.org.vn. Cũng theo nguồn ấy và trang Tổ đình Thường Chiếu, ngày rằm tháng tư âm lịch năm 1968 ngài vào thất tu thiền với chí nguyện không ra khi chưa sáng đạo, tới tháng 7 năm ấy thì ngộ lý Bát Nhã (trang Tổ đình Thường Chiếu ghi ngày 20 tháng 7 năm 1968, còn Phật Sự Online ghi tháng 12 năm 1968). Tháng Chạp năm Mậu Thân, ngài mở cửa thất tuyên bố đem chỗ sở ngộ chỉ dạy đại chúng, mở đầu công cuộc khôi phục Thiền tông Việt Nam (trang Tổ đình Thường Chiếu ghi ngày mùng 3 tháng 12, còn phatgiao.org.vn ghi ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch).

Về hai khóa thiền đầu tiên, trang Tổ đình Thường Chiếu và phatgiao.org.vn chép rằng Tu viện Chơn Không được xây dựng trong hai năm 1969 và 1970, đến ngày mùng 8 tháng 4 năm Tân Hợi (1971) chính thức công bố thành lập tu viện và khai giảng khóa tu thiền ba năm lần thứ nhất (1971 - 1974). Trong khi đó, Phật Sự Online viết gộp giai đoạn 1969 tới 1970 xây dựng tu viện và mở khóa thiền đầu tiên gồm 10 vị tăng, trong đó có các thầy Đắc Pháp, Đắc Huyền, Nhật Quang và Thông Phương. Khóa thứ hai mở vào ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Dần (1974) gồm 20 vị tăng ni (có 10 vị ni tu ở khu ngoại viện). Những con số nhỏ ấy đáng ghi lại chính vì chúng nhỏ. Một thiền phái mà về sau có hàng chục thiền viện trong và ngoài nước đã bắt đầu bằng mười người ngồi trong một tu viện trên sườn núi.

Theo giáo nghĩa

Tên Chơn Không có hai lớp nghĩa, và các nguồn nói cả hai. Lớp thứ nhất là một pháp hiệu. Trang Tổ đình Thường Chiếu, Phật Sự Online và Chốn Thiêng ghi Chơn Không là đạo hiệu của Thiền sư Vương Hải Thiềm đời Lý (sinh năm 1045 hoặc 1046, viên tịch năm 1100 hoặc 1110 tùy nguồn), quê làng Phù Đổng, sống vào thời vua Lý Nhân Tông. Đặt tên như vậy là nối nơi tu mới với dòng thiền của người Việt từ trước thời Trần.

Lớp thứ hai là nghĩa giáo lý. Theo lời các sư ở đây mà VietNamNet dẫn lại, chữ Chơn Không chỉ thể tánh bất sinh bất diệt sẵn có nơi mỗi người. Trong kinh Bát Nhã, không là không có tự tánh riêng, chứ không phải là trống rỗng hư vô. Chữ chơn, tức chân, thêm vào để nói cái không ấy là thật, là chỗ gốc mà người tu cần nhận ra. Đặt cạnh mốc năm 1968, cái tên nói đúng điều đã xảy ra trong thất Pháp Lạc khi một vị tăng ngộ lý Sắc Không của Bát Nhã, và nơi ấy mang tên của chính cái lý mình ngộ.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay nhầm. Thứ nhất là tên. Biển chỉ đường và nhiều trang du lịch ghi Chân Không, còn nguồn của thiền phái, Phật Sự Online và bản đồ số ghi Chơn Không. Hai tên là một nơi, chơn là lối đọc Nam Bộ của chữ chân. Trước năm 1995 nơi này có tên Tu viện Chơn Không, và tên gốc của cái thất đầu tiên trên vùng Hòn Chụp là thất Pháp Lạc.

Thứ hai là vai. Vì Chơn Không có trước, không ít người gọi đây là tổ đình của Thiền phái Trúc Lâm. Cách gọi của chính thiền phái là Thường Chiếu làm tổ đình, còn Chơn Không là nơi khởi đầu. Chơn Không cũng không phải thiền viện lớn nhất hay đông khách nhất, vai ấy thuộc về Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt.

Về bài kệ truyền thừa để đặt pháp danh theo đời, thư viện chưa tra được bài nào của thiền phái có nguồn rõ, nên không ghi. Điều thấy được là các thế hệ đầu tiên học thiền với vị khai sơn ở chính nơi này, trong hai khóa khai giảng năm 1971 (hoặc giai đoạn 1969 tới 1970 theo Phật Sự Online) và năm 1974.

IITừ thất tre lá tới thiền viện

Lịch sử của Chơn Không chỉ gồm việc tu, việc học và việc xây. Theo trang Tổ đình Thường Chiếu và Phật Sự Online, thất Pháp Lạc ban đầu dựng bằng tre lá trên vùng Hòn Chụp để chuyên tu thiền. Năm 1986, Hòa thượng Thích Thanh Từ dời trọng tâm hoằng hóa về Thường Chiếu để mở rộng quy mô đào tạo tăng ni. Tới năm 1995, cơ sở trên núi Lớn được kiến thiết lại theo quy mô hiện nay, đổi tên thành thiền viện và tới Tết Quý Mùi năm 2003 thì giao cho Ban Lãnh đạo quản lý hai viện Tăng và Ni.

  • 1966Dựng thất Pháp Lạc
    Hòa thượng Thích Thanh Từ khai phá vùng Hòn Chụp (Hòn Sụp) trên núi Tương Kỳ dựng thất tre lá để chuyên tu thiền. Phatgiao.org.vn ghi tháng 4, Phật Sự Online ghi tháng 6 năm 1966.
  • 1968Ngộ lý Bát Nhã
    Rằm tháng tư âm lịch ngài vào thất tu thiền, tới tháng 7 ngộ lý Bát Nhã (Phật Sự Online ghi tháng 12), tháng Chạp mở cửa thất tuyên bố ra hoằng hóa.
  • 1969 tới 1971Tu viện và khóa thiền đầu tiên
    Xây dựng Tu viện Chơn Không giai đoạn 1969 tới 1970. Ngày mùng 8 tháng 4 năm Tân Hợi (1971) công bố thành lập tu viện và mở khóa thiền ba năm đầu tiên gồm 10 vị tăng, theo Tổ đình Thường Chiếu và Phật Sự Online.
  • 1974Khóa thiền thứ hai
    Ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Dần mở khóa thứ hai gồm 20 vị tăng ni. Cùng năm ấy Thiền viện Thường Chiếu được lập ở Long Thành cũ.
  • 1995Đổi tên thành thiền viện
    Ngày mùng 8 tháng 4 năm Ất Hợi (1995), tu viện được tái thiết, đổi tên thành Thiền viện Chơn Không, chia hai khu chuyên tu riêng cho tăng và ni.
  • 1998Đúc đại hồng chung
    Quả chuông đồng nặng gần một tấn được đúc cho tháp chuông, theo VietNamNet và Chốn Thiêng.
  • 2021Khánh thành tượng Phật lớn
    Pho tượng Phật phủ vàng ở chỗ cao nhất thiền viện được khánh thành, theo VietNamNet và Phật Sự Online.
Theo sử liệu

Mấy chỗ các nguồn không khớp, xin ghi thẳng. Tháng dựng thất được phatgiao.org.vn ghi là tháng 4 năm 1966, còn Phật Sự Online ghi tháng 6. Mốc mở khóa thiền đầu tiên được trang Tổ đình Thường Chiếu và phatgiao.org.vn ghi rõ là xây dựng tu viện năm 1969 tới 1970 rồi khai giảng khóa I vào ngày mùng 8 tháng 4 năm 1971, trong khi Phật Sự Online viết gộp vào giai đoạn 1969 tới 1970. Diện tích theo Phật Sự Online là khu đất rộng 27.000 mét vuông với tổng diện tích xây dựng 2.831,26 mét vuông, còn VietNamNet ghi thiền viện rộng khoảng 2.000 mét vuông. Có thể một bên tính cả khu đất trên sườn núi, một bên chỉ tính phần xây dựng chính.

Địa chỉ cũng có hai lối ghi. Bản đồ số ghi số 44 đường Vi Ba, còn trang Tổ đình Thường Chiếu, Phật Sự Online và VietNamNet ghi số 36/11. Về phường cũ, Chốn Thiêng ghi phường 6 (tên trước năm 2014), Phật Sự Online ghi phường Thắng Nhì. Từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, phường Thắng Nhì hợp nhất với các phường lân cận thành phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, nên hai tên phường cũ chỉ còn giá trị tra cứu.

IIITháp tổ, chánh điện và tượng Niêm Hoa

Chơn Không không dàn trên một mặt bằng phẳng mà trải theo sườn dốc. Các công trình đặt so le theo độ cao, nối nhau bằng bậc cấp và lối đi giữa vườn thông, cây cảnh. VietNamNet kể các hạng mục chính gồm tháp tổ, chánh điện, tháp chuông, thiền đường, viện ni và nhà khách. Từ năm 1995, khuôn viên chia hai khu chuyên tu riêng cho tăng và ni. Theo trang Tổ đình Thường Chiếu, từ Tết Quý Mùi năm 2003, Thượng tọa Thích Thông Nhẫn làm trụ trì bên Tăng và Ni trưởng Thích Nữ Thuần Nhất làm trụ trì bên Ni.

Chánh điện

Theo Phật Sự Online, chánh điện thờ Đức Phật Thích Ca tay cầm hoa sen, hai bên là Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Phổ Hiền. Tượng Phật cầm hoa là lối tôn trí quen của các thiền viện Trúc Lâm.

Hậu tổ

Thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, người đưa Thiền tông sang Trung Hoa, cùng Phật hoàng Trần Nhân Tông, Nhị tổ Pháp Loa và Tam tổ Huyền Quang, theo Phật Sự Online.

Tháp tổ

Nằm giữa vườn cây trên sườn núi, là điểm tưởng niệm vị khai sơn của thiền viện và của cả thiền phái.

Tháp chuông

Treo đại hồng chung đúc năm 1998, nặng gần một tấn. Chốn Thiêng ghi tháp chuông ở bên trái chánh điện, còn VietNamNet ghi ở phía bên phải ngay lối vào, tùy hướng nhìn từ trong điện ra hay từ ngoài vào.

Thiền đường

Nơi tăng ni ngồi thiền chung theo thời khóa, là việc chính của thiền viện, dù ít được khách để ý.

Tượng Niêm hoa vi tiếu

Pho tượng Phật lớn phủ vàng ở chỗ cao nhất, mặt hướng ra biển, khánh thành năm 2021. Phật Sự Online ghi tượng cao 28 mét, VietNamNet không nêu chiều cao.

Tên tượng lớn, Niêm hoa vi tiếu, là tên một tích của Thiền tông khi Đức Phật đưa cành hoa lên giữa hội chúng mà không nói, chỉ ngài Ca Diếp mỉm cười. Cả thiền phái nhận tích ấy làm gốc của lối truyền tâm không qua chữ nghĩa. Chánh điện Chơn Không tôn tượng Phật cầm hoa, rồi pho tượng lớn nhất khuôn viên cũng mang lại tích ấy, nên người đi từ dưới lên trên gặp cùng một câu chuyện hai lần, một lần trong điện, một lần ngoài trời.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều bài viết gọi đây là tượng Phật bằng vàng. Nguồn báo chí ghi tượng phủ vàng hoặc dát vàng, tức lớp vàng phủ ngoài bề mặt, không phải một khối vàng đặc. Chuyện ấy không đổi gì giá trị của pho tượng, chỉ là để quý vị đọc cho đúng.

IVThế đất và hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bản của thiền viện. Tư liệu thư viện đọc được không nói vị khai sơn chọn đất theo phép nào, chỉ cho biết ngài cần một chỗ vắng để chuyên tu. Nhà thiền cũng không lấy phong thủy làm chỗ dựa để chọn đất. Đoạn dưới chỉ là chỗ đối chiếu cho quý vị quen lối nhìn đất của người Việt.

Thế đất và hướng

Các nguồn tả thiền viện ở độ cao khoảng 80 mét, lưng tựa núi, mặt hướng ra biển. Trong lối nhìn cổ truyền, đó gần với thế tựa sơn hướng thủy khi núi sau lưng giữ khí, nước trước mặt mở tầm nhìn. Núi Lớn là khối núi cao nhất bán đảo Vũng Tàu, nên chỗ tựa ở đây vững, còn mặt biển phía trước là thứ minh đường rộng mà ít nơi tu có được.

Điều đáng đọc hơn là độ cao vừa phải. Tám mươi mét không phải đỉnh núi. Người xưa hay tránh đặt nơi ở lên đỉnh trơ, vì đỉnh hứng gió mạnh, khí tán, và xa nguồn sống. Một sườn núi lưng chừng vừa có chỗ dựa phía sau, vừa đủ cao để tách khỏi tiếng phố, vừa đủ gần để người tu xuống núi lo việc sinh hoạt hằng ngày. Với một cái thất tre lá năm 1966, sườn núi ấy là chỗ hợp nhất.

Về bố cục, các công trình đặt từ thấp lên cao, và điểm cao nhất dành cho tượng Phật nhìn ra biển. Người đi lên đi theo đúng thứ tự từ chỗ sinh hoạt tới chỗ thờ, từ chỗ gần phố tới chỗ gần trời. Đọc theo lối cổ truyền, đó là thế đi lên dần, khí gom về chỗ cao rồi tỏa ra phía trước.

Sau cùng là chuyện tên và đất. Một nơi mang tên Chơn Không đứng trước mặt biển. Biển là hình ảnh mà kinh sách nhà Phật hay dùng để nói tánh giác, sóng khởi rồi lặng, nước vẫn là nước. Thư viện không nói vị khai sơn chọn đất vì ý ấy, chỉ ghi rằng tên và cảnh ở đây nói cùng một điều.

VLễ và nếp tu học

Nhịp chính của Chơn Không là thời khóa hằng ngày của hai khu tăng và ni, gồm ngồi thiền, học kinh và lao tác. Các ngày lễ trong năm theo lịch chung của Phật Giáo Bắc Tông Việt Nam, thêm những ngày kỷ niệm riêng gắn với lịch sử khai sáng của thiền viện.

Các ngày lễ chính trong năm. Nguồn: Lịch chung của Phật Giáo Bắc Tông và các thiền viện Trúc Lâm, các mốc năm 1968, 1971, 1974 và 1995 theo trang Tổ đình Thường Chiếu và phatgiao.org.vn..
Ngày âm lịchLễGhi chú
Rằm tháng GiêngThượng nguyênLễ rằm đầu năm theo nếp chung của chùa Việt.
Mùng 8 tháng 4Kỷ niệm lập tu viện và Phật Đản Bắc TôngNgày lễ Phật Đản truyền thống Bắc Tông, đồng thời là ngày công bố lập Tu viện và mở khóa thiền I năm 1971, mở khóa II năm 1974 và tái thiết thành Thiền viện năm 1995, theo Tổ đình Thường Chiếu.
Rằm tháng 4Phật ĐảnMừng ngày Đức Phật đản sinh. Cũng là ngày vị khai sơn vào thất tu thiền năm 1968, theo phatgiao.org.vn và Tổ đình Thường Chiếu.
Rằm tháng 4 tới rằm tháng 7An cư kiết hạBa tháng tăng ni ở yên một chỗ tu học theo luật nhà Phật.
Rằm tháng 7Vu LanLễ báo hiếu cha mẹ, khép lại mùa an cư.
Mùng 1 tháng 11Tưởng niệm Sơ tổ Trúc LâmNgày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn, các thiền viện Trúc Lâm cùng tưởng niệm.

Tháng tư âm lịch ở Chơn Không có hai ngày mang nghĩa riêng mà nơi khác không có. Ngày mùng 8 tháng 4 là ngày khai mở các khóa thiền đầu tiên và tái thiết thiền viện, còn ngày rằm tháng 4 vừa là lễ Phật Đản, vừa là ngày năm 1968 vị khai sơn khép cửa thất Pháp Lạc để tu cho tới khi thấy đạo. Người trong thiền phái về đây vào dịp ấy là về đúng chỗ, đúng ngày mà câu chuyện của họ bắt đầu.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đường Vi Ba trên núi Lớn (núi Tương Kỳ), Maps ghi số 44, Phật Sự Online và VietNamNet ghi số 36/11, phường Vũng Tàu (thành phố Vũng Tàu cũ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
Đường tới
Thiền viện nằm trên đường Vi Ba (bản đồ số ghi số 44, nguồn thiền phái và báo chí ghi số 36/11), sườn núi Lớn, phường Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc phường 6 rồi phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cũ). Từ trung tâm Vũng Tàu đi lên núi Lớn theo đường Vi Ba, dốc khá đứng ở đoạn cuối.
Toạ độ
10.3578, 107.0718
Khi tới nơi

Chơn Không là nơi tăng ni đang tu, không phải điểm ngắm cảnh. Lệ của thiền viện là ăn mặc kín đáo, đi nhẹ nói khẽ, nhất là khi đi ngang thiền đường và hai khu tăng, ni. Khu chuyên tu không mở cho khách, xin quý vị đi theo lối dành cho người thăm viếng. Khi lên chỗ tượng lớn, xin đứng lễ ở sân, không trèo lên bệ tượng, và không chụp ảnh chư tăng ni khi chưa được phép.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thiền viện Chơn Không

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Thiền viện Chơn Không Vũng Tàu do ai lập

Do Hòa thượng Thích Thanh Từ lập. Năm 1966 ngài dựng thất Pháp Lạc bằng tre lá trên vùng Hòn Chụp, núi Tương Kỳ (núi Lớn) để chuyên tu thiền. Giai đoạn 1969 tới 1971 nơi này thành Tu viện Chơn Không, năm 1995 đổi tên thành thiền viện và chia hai khu tăng, ni.

Thiền viện Chơn Không hay Chân Không mới đúng tên

Cả hai cùng chỉ một nơi. Nguồn của Thiền phái Trúc Lâm và bản đồ số dùng tên Chơn Không, chơn là lối đọc Nam Bộ của chữ chân. Tên cũ trước năm 1995 là Tu viện Chơn Không, còn cái thất đầu tiên có tên Pháp Lạc.

Thiền viện Chơn Không có phải tổ đình Trúc Lâm không

Không. Tổ đình của Thiền phái Trúc Lâm hiện đại là Thiền viện Thường Chiếu, lập năm 1974. Chơn Không là nơi khởi đầu, có từ năm 1966, là chỗ vị khai sơn ngộ lý Bát Nhã năm 1968 và mở hai khóa tu thiền đầu tiên vào giai đoạn 1969 tới 1971 và năm 1974.

Tên Chơn Không nghĩa là gì

Trang Tổ đình Thường Chiếu và Phật Sự Online ghi Chơn Không là đạo hiệu của Thiền sư Vương Hải Thiềm đời Lý. Các sư ở đây giải thích chữ ấy chỉ thể tánh bất sinh bất diệt sẵn có nơi mỗi người, gần với lý Bát Nhã mà vị khai sơn đã ngộ tại chính nơi này năm 1968.

Tượng Phật vàng ở Thiền viện Chơn Không cao bao nhiêu

Tượng Niêm hoa vi tiếu phủ vàng đặt ở chỗ cao nhất thiền viện, mặt nhìn ra biển, khánh thành năm 2021. Phật Sự Online ghi tượng cao 28 mét, VietNamNet không nêu chiều cao. Tượng phủ vàng bên ngoài, không phải làm bằng vàng đặc.

›Đọc Tiếp