VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tòa Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan

Tòa Thánh của Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan, trên bản đồ số ghi Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan

Tòa Thánh của một Hội thánh Cao Đài riêng ở miền Trung mang tên thánh thất đầu tiên tại Sài Gòn, khởi nguồn từ những bậc tiền bối đưa đạo về Tam Quan năm 1927.

Khai đạo miền Trung
1938 hoặc 1937
rằm tháng Hai năm Mậu Dần, xem phần lịch sử
Tòa Thánh
1956 tới 1959
khánh thành năm 1960, trùng tu xong năm 2007
Thánh sở
33 hoặc 29
hai nguồn đếm khác nhau, Bình Định cũ chiếm phần lớn

Đi qua vùng Tam Quan ở cực bắc đất Bình Định cũ, nay thuộc tỉnh Gia Lai, quý vị sẽ thấy một khối công trình dài nhiều lớp mái đứng giữa khu dân cư. Người đã từng tới Tây Ninh sẽ nhận ra ngay đây là một ngôi thờ Cao Đài, qua bộ khung ba lớp xếp trên một trục mà mọi Tòa Thánh của đạo đều theo. Nhưng tấm biển ghi một cái tên nghe lạ ở miền Trung là Cầu Kho.

Cầu Kho là tên một khu phố ở Sài Gòn, cách đây gần một nghìn cây số. Cái tên ấy là sợi dây nối nơi này về thánh thất đầu tiên của đạo Cao Đài, nơi những người miền Trung đi làm ăn xa đã nhập môn rồi mang đạo về quê. Đây là Tòa Thánh của Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan, một Hội thánh riêng, không phải một thánh thất của Tây Ninh.

Tòa Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan
Tòa Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan. Ảnh: Christophe95, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IHai Chữ Cầu Kho Và Hai Chữ Tam Quan

Tên của Hội thánh ghép hai địa danh cách nhau cả nghìn cây số. Cầu Kho là tên thánh thất đầu tiên của đạo Cao Đài ở Sài Gòn. Theo tài liệu giới thiệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, thánh thất ấy nguyên là nhà của Đốc học Đoàn Văn Bản, gần trường tiểu học Cầu Kho. Tam Quan là nơi đạo bén rễ ở miền Trung và nơi đặt Tòa Thánh. Ghép hai tên lại là kể gọn một chuyến đi từ lúc nhập môn ở Cầu Kho tới khi dựng đạo ở Tam Quan.

Cần phân biệt tên tổ chức với tên công trình. Tổ chức là Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan, danh xưng chính thức dùng từ năm 2000 (trước đó từ năm 1960 gọi là Hội Thánh Cao Đài Trung Ương Trung Việt Tam Quan). Công trình là Tòa Thánh, tức trung ương hành đạo của Hội thánh ấy. Trên bản đồ số, nơi này thường hiện dưới tên Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan.

Theo giáo nghĩa

Về phần thờ, Cầu Kho Tam Quan theo hệ giáo lý chung của đạo Cao Đài. Tên đầy đủ của đạo là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức lần phổ độ thứ ba của Đấng Tối Cao. Đấng được thờ là Đức Chí Tôn, không tạc tượng mà biểu thị bằng Thiên Nhãn, con mắt trái đặt ở ngôi cao nhất cùng biểu tượng nhật, nguyệt, tinh. Chủ trương chung là tam giáo quy nguyên, ngũ chi phục nhất, các nền giáo lý lớn cùng về một gốc. Bên cạnh ngôi Cha còn có lễ dâng lên Đức Diêu Trì Kim Mẫu, ngôi Mẹ trong hệ thờ tự của đạo.

Chữ Hán ở đầu trang là danh xưng chung của đạo, thư viện đặt vào cho bạn đọc quen mặt chữ, không chép từ một tấm biển riêng tại Tòa Thánh này.

Theo sử liệu

Về quan hệ với Tòa Thánh Tây Ninh, xin nói cho rõ bằng giọng sử liệu. Hai bên cùng thờ Đức Chí Tôn trong nền đạo khai năm 1926, cùng một hệ giáo lý. Nhưng Cầu Kho Tam Quan là một Hội thánh riêng, có hiến chương riêng, bộ máy chức sắc riêng, trung ương riêng, và không trực thuộc Tây Ninh. Đạo Cao Đài hiện có nhiều Hội thánh như vậy, mỗi Hội thánh tự điều hành theo đường hướng của mình. Thư viện có bài riêng về Tòa Thánh Tây Ninh để quý vị đối chiếu.

Chỗ hay hiểu lầm

Hai chỗ hay lẫn. Thứ nhất, nhiều người thấy chữ Tòa Thánh và bộ khung ba đài thì cho rằng đây là một chi nhánh của Tây Ninh. Không phải. Tây Ninh là Tòa Thánh của một Hội thánh, Tam Quan là Tòa Thánh của một Hội thánh khác. Hai Hội thánh ngang nhau về tư cách, không bên nào là cấp dưới của bên nào.

Thứ hai, chữ Cầu Kho không có nghĩa là Tòa Thánh này từng ở Sài Gòn. Tòa Thánh chưa bao giờ nằm ở Cầu Kho. Cái tên được giữ để ghi nhớ nơi những người khai đạo miền Trung đã nhập môn.

IITừ Chùa Ông Bái Lịnh Tới Tòa Thánh

Đạo về Tam Quan theo chân người đi làm ăn. Các mốc dưới đây ghi theo việc truyền đạo, dựng nơi thờ và đổi tên gọi.

  • 1926Khai đạo Cao Đài
    Nền đạo Cao Đài ra đời ở Nam Kỳ. Thánh thất Cầu Kho, nguyên là nhà Đốc học Đoàn Văn Bản, là cơ sở đầu tiên của đạo ở Sài Gòn.
  • Cuối thập niên 1920Người miền Trung nhập môn tại Cầu Kho
    Một số người miền Trung vào Sài Gòn làm ăn đã nhập môn đạo Cao Đài tại Thánh thất Cầu Kho.
  • 1927Mang đạo về Bình Định
    Đầu năm, các ông Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Hữu Phương về Bình Định truyền đạo. Tại nhà ông Phan Bồi ở Tam Quan có một ngôi chùa, dân gọi là chùa ông Bái Lịnh, thành chỗ nhóm đạo buổi đầu.
  • 1938 (hoặc 1937)Lễ Hoát Khai ở miền Trung
    Ngày rằm tháng Hai năm Mậu Dần (Hiến chương Hội thánh ghi năm 1938, bài giới thiệu của Ban Tôn giáo Chính phủ ghi 1937), nhân ngày kỷ niệm Đức Thái Thượng Lão Quân, các nhóm đạo ở Tam Quan làm lễ Hoát Khai công khai Thánh thất Trung ương Trung Việt tại chùa ông Phan Bồi.
  • 1956Khởi công Tòa Thánh
    Chức sắc và tín đồ quyên góp mua đất tại Tam Quan và khởi công xây Tòa Thánh, hoàn thành năm 1959.
  • 1960Đại lễ Đại hội An Thiên
    Tòa Thánh khánh thành trong Đại lễ Đại hội An Thiên, kéo dài từ ngày 12 tới ngày 18 tháng 3 năm Canh Tý, mang danh xưng Hội Thánh Cao Đài Trung Ương Trung Việt Tam Quan.
  • 2000Hiến chương và tên gọi mới
    Ngày 3 tháng 3, Đại hội Đại biểu Nhơn sanh toàn phái lần thứ nhất thông qua hiến chương, và từ tháng 4 năm 2000 chính thức dùng danh xưng Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan.
  • 2007Trùng tu Tòa Thánh
    Tòa Thánh được trùng tu lớn và hoàn tất trong năm này.
Theo sử liệu

Có ba chỗ nguồn vênh nhau, thư viện ghi thẳng.

Năm và can chi của lễ khai đạo ở Tam Quan. Lời nói đầu bản Hiến chương Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan (nhiệm kỳ 2020 tới 2025) và Tạp chí Liên giao Cao Đài đều ghi lễ Hoát Khai công khai Thánh thất Trung ương tổ chức vào ngày rằm tháng Hai năm Mậu Dần (1938). Trong khi đó, bài giới thiệu trên trang Ban Tôn giáo Chính phủ lại ghi ngày 15 tháng 2 năm 1937 (Mậu Dần). Vì năm 1937 âm lịch là năm Đinh Sửu còn năm Mậu Dần chính là năm 1938, con số 1937 trong bài giới thiệu nhiều khả năng là lỗi gõ nhầm từ năm Mậu Dần 1938, nhưng thư viện vẫn ghi rõ cả hai để quý vị tiện đối chiếu khi đọc các tài liệu khác nhau.

Năm lập Hội thánh. Một bản khảo về các Tòa Thánh Cao Đài ghi Hội thánh Cầu Kho Tam Quan lập năm 1954. Tài liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ và Hiến chương lấy mốc khai đạo tại chùa ông Phan Bồi (1937 hoặc 1938) làm mốc lập Thánh thất Trung ương Trung Việt, rồi năm 1960 khánh thành Tòa Thánh. Hai nguồn lấy hai mốc khác nhau làm ngày lập.

Số thánh sở. Bản khảo về các Tòa Thánh ghi Hội thánh có 33 thánh sở, đứng thứ bảy trong các Hội thánh Cao Đài, riêng Bình Định cũ có 20 thánh thất. Tài liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ ghi 29 cơ sở thờ tự, gồm 26 thánh thất đang hoạt động và 3 thánh thất không hoạt động. Hai con số đếm ở hai thời điểm khác nhau. Về lần sửa năm 2007, bảng dữ liệu của thư viện ghi là trùng tu hoàn tất, còn bản khảo kia dùng chữ tái thiết.

IIIBa Đài Và Cách Bài Trí Theo Hiến Chương

Tòa Thánh dựng theo bộ khung chung của đạo Cao Đài với ba đài trên một trục, đi từ ngoài vào là Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài và Bát Quái Đài, kèm một Tịnh đường dành cho hàng tu sĩ tu tâm truyền thượng thừa. Dù chưa có bản vẽ đo đạc kích thước chi tiết của công trình, Điều 9 và Điều 21 trong Hiến chương của Hội thánh ghi rất rõ quy cách thờ tự và bài trí bên trong.

Hiệp Thiên Đài và bàn thờ chữ Khí

Phần đầu, nơi bước vào. Theo giáo lý chung, đây là phần lo việc giao tiếp giữa hữu hình và vô hình và giữ luật đạo. Theo Điều 9 Hiến chương, đối diện với Bát Quái Đài có thờ chữ Khí tượng trưng ngôi Khí, kề dưới có bàn thờ cúng Tam Bửu và hai cây đèn hai bên.

Cửu Trùng Đài

Gian giữa, nơi chức sắc và tín đồ hành lễ, đứng theo phẩm vị, nam một bên nữ một bên.

Bát Quái Đài và Thiên bàn ba cấp

Phần trong cùng và thiêng nhất. Nơi Bát Quái Đài thờ quả Càn Khôn có Thiên Nhãn (mắt trái cùng nhật, nguyệt, tinh), các đấng thiêng liêng được thờ chung nơi Bát Quái Đài và không dùng cốt tượng, cũng không đặt bảy chiếc ngai như ở Tây Ninh. Kế trước Bát Quái Đài là Thiên bàn ba cấp đặt đèn Thái Cực, bình bông, cổ quả, ba ly rượu, nước tịnh thủy, nước trà, lư hương và cặp đèn.

Công trình của tín đồ và Tịnh đường

Tòa Thánh dựng bằng tiền quyên góp của chức sắc và tín đồ từ năm 1956 tới 1959. Tại Tòa Thánh còn có một Tịnh đường (Điều 21 Hiến chương) dành cho hàng tu sĩ tu tâm truyền thượng thừa.

Lần trùng tu 2007

Công trình được sửa lớn, xong năm 2007. Ngôi quý vị thấy hôm nay là bản sau lần sửa ấy.

Chỗ khác về bài trí trong Bát Quái Đài đáng dừng lại. Ở Tòa Thánh Tây Ninh, quả Càn Khôn đi cùng một bộ bảy chiếc ngai dành cho các phẩm chức sắc cao nhất theo hàng phẩm của Hội thánh ấy. Ở Tam Quan, Điều 9 Hiến chương quy định thờ quả Càn Khôn với Thiên Nhãn, các đấng thiêng liêng thờ chung nơi Bát Quái Đài, không dùng cốt tượng để thờ và không đặt bảy ngai. Chi tiết ấy nói lên một điều lớn là các Hội thánh Cao Đài chung giáo lý nhưng mỗi Hội thánh có hàng phẩm và cách bài trí của mình, và nhìn vào bài trí là thấy được tổ chức.

Chỗ hay hiểu lầm

Có người cho rằng một Tòa Thánh thiếu bảy ngai là làm chưa đủ phép. Không phải vậy. Bảy chiếc ngai gắn với hàng phẩm riêng của Hội thánh Tây Ninh. Một Hội thánh có hàng phẩm khác thì bài trí khác, và việc không đặt ngai cũng như không dùng cốt tượng là quy định chính thức trong Hiến chương của Hội thánh Cầu Kho Tam Quan. Thư viện chỉ ghi chỗ khác nhau, không xếp bên nào đúng hơn bên nào.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong tư liệu của Hội thánh. Người dựng Tòa Thánh làm theo quy cách ba đài của đạo mình, không theo sách địa lý. Những dòng dưới đây chỉ là chỗ đối chiếu cho quý vị quen lối cổ truyền.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên là thế vùng. Tam Quan nằm trên dải đất hẹp của duyên hải miền Trung, lưng là các dãy đồi núi chạy về phía tây, mặt là biển ở phía đông, giữa là đồng bằng và bãi cát. Theo phép cũ, một dải đất như vậy có sẵn cái thế tựa sơn hướng thủy ở tầm lớn, với núi làm chỗ dựa xa và biển làm chỗ tụ nước xa. Người xem đất gọi đó là thế của cả vùng, và mọi công trình trong vùng cùng hưởng.

Thứ hai là trục ba đài. Ba đài xếp thẳng hàng, nền nâng dần từ ngoài vào trong. Đọc theo phong thủy hình thể, đây là thế tiến khí thăng cấp, khi khí đi vào theo một đường duy nhất, qua mỗi lớp lại được nâng thêm một bậc rồi dừng ở Bát Quái Đài, chỗ cao nhất và kín nhất. Một công trình tụ về một điểm như thế là công trình giữ khí, không để khí tản ra bốn phía.

Thứ ba là vai trò trung ương. Hội thánh có phần lớn thánh sở ở Bình Định cũ, và Tòa Thánh đứng ở mép bắc của vùng ấy. Con mắt cũ đọc một nơi đứng đầu một mạng lưới là chỗ tổ, tức nơi mạch khởi ra rồi tỏa đi. Cái mạch thật ở đây là mạch người, khi đạo đi từ Cầu Kho về Tam Quan rồi từ Tam Quan tỏa ra các thánh thất trong vùng.

Cuối cùng, thư viện chưa tra được tài liệu ghi chính xác hướng mặt chính của Tòa Thánh, nên không đọc hướng ở đây, để khỏi dựng kiến giải trên phỏng đoán. Nếu quý vị tới nơi, hướng là điều nên hỏi người trông coi Tòa Thánh.

VCác Kỳ Lễ Lớn Và Đạo Phục Toàn Trắng

Theo Điều 10 Hiến chương của Hội thánh và tài liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, các kỳ đại lễ và lễ kỷ niệm hằng năm đều tính theo âm lịch, gồm bốn kỳ đại lễ thường được nhắc tới cùng hai ngày kỷ niệm bậc tiền nhân khai đạo.

Các kỳ lễ chính theo Điều 10 Hiến chương Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan và tài liệu Ban Tôn giáo Chính phủ. Thời khắc từng buổi cúng do Hội thánh định. Nguồn: Hiến chương Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan và Sơ lược quá trình hình thành, phát triển Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan (Ban Tôn giáo Chính phủ)..
Ngày âm lịchLễNội dung
Mùng 9 tháng GiêngĐại lễ Đức Ngọc Hoàng Thượng ĐếKỳ đại lễ đầu năm, trọng nhất của đạo Cao Đài. Tín đồ các thánh thất trực thuộc về Tòa Thánh hành lễ.
Rằm tháng BaKỷ niệm Đại hội An ThiênLễ riêng của Hội thánh, nhớ ngày khánh thành Tòa Thánh năm Canh Tý 1960 (cùng dịp có lễ kỷ niệm ngài Ngô Minh Chiêu vào ngày 13 tháng Ba).
Rằm tháng TámĐại lễ Đức Diêu Trì Kim MẫuLễ dâng lên ngôi Mẹ trong hệ thờ tự của đạo (trước đó vào mùng 1 tháng Tám có lễ kỷ niệm Thánh tông đồ tiền vãng, tiền bối).
23 tháng TámKỷ niệm ngày Khai Tịch ĐạoLễ nhớ ngày mở đạo Cao Đài theo quy định trong Hiến chương của Hội thánh.
Hằng ngàyCúng tứ thờiNếp cúng thường nhật của đạo Cao Đài vào bốn thời tý, ngọ, mẹo, dậu.

Kỳ An Thiên rằm tháng Ba đáng nói riêng, vì đó là lễ của chính ngôi Tòa Thánh. Đại lễ khánh thành năm Canh Tý 1960 kéo dài từ ngày 12 tới ngày 18 tháng Ba âm lịch, và rằm tháng Ba nằm đúng giữa quãng ấy. Một nét riêng rất đáng chú ý trong các kỳ lễ ở đây là đạo phục. Theo Điều 15 Hiến chương của Hội thánh, khác với nhiều Hội thánh dùng lễ phục ba màu vàng, xanh, đỏ, đạo phục của Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan toàn màu trắng cho cả chức sắc lẫn tín đồ, không phân biệt nam nữ, chỉ phân biệt Đại phục, Trung phục và Tiểu phục qua số lớp khăn đóng (mười hai, chín hoặc bảy lớp) và số nút áo (mười hai, chín hoặc bảy nút).

Hội thánh cũng có một cơ cấu tín đồ đáng kể. Tài liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ ghi 8.545 tín đồ, 405 chức sắc và 263 chức việc, sinh hoạt ở tám tỉnh thành miền Trung và Tây Nguyên. Con số này là con số tại thời điểm tài liệu được soạn.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Khu phố 2, phường Tam Quan (thị xã Hoài Nhơn cũ, tỉnh Bình Định cũ), tỉnh Gia Lai
Đường tới
Tòa Thánh nằm ở khu phố 2, phường Tam Quan (thuộc thị xã Hoài Nhơn cũ, tỉnh Bình Định cũ), tỉnh Gia Lai. Tới trung tâm Tam Quan rồi hỏi đường tới Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan.
Toạ độ
14.5512, 109.045
Khi tới nơi

Đây là nơi hành đạo đang hoạt động, nên lệ của Tòa Thánh là lệ phải theo. Ăn mặc kín đáo, bỏ giày dép trước khi vào lòng ngôi thờ, đi cửa dành cho nam hoặc cho nữ theo chỉ dẫn tại chỗ, không nói chuyện trong lúc đang cúng. Người ngoài đạo vào xem thì đứng ở chỗ dành cho khách, không đứng lẫn vào hàng người hành lễ, và không bước vào Bát Quái Đài.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tòa Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tòa Thánh Cầu Kho Tam Quan có thuộc Tây Ninh không

Không. Đây là Tòa Thánh của Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan, một Hội thánh riêng có hiến chương và bộ máy riêng. Hai bên cùng thờ Đức Chí Tôn trong nền đạo khai năm 1926, cùng một hệ giáo lý, nhưng Cầu Kho Tam Quan không trực thuộc Tòa Thánh Tây Ninh.

Vì sao gọi là Cầu Kho Tam Quan

Cầu Kho là tên thánh thất đầu tiên của đạo Cao Đài ở Sài Gòn, nguyên là nhà Đốc học Đoàn Văn Bản gần trường tiểu học Cầu Kho. Người miền Trung nhập môn ở đó rồi mang đạo về Tam Quan từ năm 1927. Tên Hội thánh ghép hai nơi ấy, chính thức dùng từ năm 2000.

Tòa Thánh Cao Đài Tam Quan xây năm nào

Khởi công năm 1956, hoàn thành năm 1959, khánh thành trong Đại lễ Đại hội An Thiên từ ngày 12 tới ngày 18 tháng 3 năm Canh Tý (1960). Công trình được trùng tu lớn và hoàn tất năm 2007.

Cao Đài Tam Quan khai đạo năm nào

Lời nói đầu Hiến chương của Hội thánh và Tạp chí Liên giao Cao Đài ghi lễ Hoát Khai công khai Thánh thất Trung ương tại Tam Quan tổ chức vào ngày rằm tháng Hai năm Mậu Dần (1938), nhân ngày kỷ niệm Đức Thái Thượng Lão Quân, trong khi bài giới thiệu của Ban Tôn giáo Chính phủ ghi ngày 15 tháng 2 năm 1937 (Mậu Dần). Thư viện ghi rõ cả hai con số năm để bạn đọc tiện đối chiếu.

Tòa Thánh Cầu Kho Tam Quan có lễ lớn ngày nào

Theo Điều 10 Hiến chương, các ngày đại lễ và kỷ niệm hằng năm theo âm lịch gồm mùng 9 tháng Giêng Đại lễ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, 13 tháng Ba kỷ niệm ngài Ngô Minh Chiêu, rằm tháng Ba kỷ niệm Đại hội An Thiên, mùng 1 tháng Tám kỷ niệm Thánh tông đồ tiền vãng, rằm tháng Tám Đại lễ Đức Diêu Trì Kim Mẫu và 23 tháng Tám kỷ niệm Khai Tịch Đạo. Hằng ngày có cúng tứ thời.

›Đọc Tiếp