Nằm cách trung tâm thành phố Sparta hiện đại chỉ khoảng 6 kilômét về phía tây bắc thuộc tỉnh Laconia trên bán đảo Peloponnesos, một ngọn đồi đá vôi hình nón dựng đứng cao 620 mét tách ra từ chân dãy núi hùng vĩ Taygetos (cao 2.407 mét) để vươn ra canh giữ thung lũng sông Eurotas trù phú. Bám chặt vào những triền đá dốc đứng của ngọn đồi mang tên Mystras (còn gọi là Myzithras) ấy là một thành phố trung đại kỳ vĩ dường như ngưng đọng trong thời gian: trên đỉnh cao nhất là pháo đài đá thời Thập tự chinh, lưng chừng đồi là Cung điện đồ sộ của các Chuyên chế vương Đông La Mã, và điểm xuyết khắp các bậc thềm sườn núi giữa rừng bách xanh thẫm là những mái vòm ngói đỏ cong vút, những tháp chuông đa tầng và những bức tường gạch nung ghép hoa văn của hàng chục tu viện và nhà thờ Chính Thống giáo cổ kính.
Nếu như Núi thiêng Athos là cộng hòa đan tu biệt lập trên biển Bắc Aegea và Tu viện Meteora là những tổ đại bàng trên cột đá vùng Thessaly, thì Các tu viện Byzantine tại thành cổ Mystras chính là trái tim trí tuệ, nghệ thuật và thần học của kỷ nguyên Phục hưng Palaiologos (thế kỷ 13 tới thế kỷ 15), giai đoạn tỏa sáng rực rỡ cuối cùng trước khi Đế quốc Đông La Mã khép lại lịch sử ngàn năm. Chính trên phiến đá đại bàng hai đầu giữa lòng Nhà thờ chính tòa Thánh Demetrios tại Mystras vào ngày 6 tháng 1 năm 1449, vị Hoàng đế cuối cùng của Đông La Mã là Konstantinos XI Palaiologos đã nhận lời chúc phúc lên ngôi trước khi tiến về bảo vệ kinh đô Constantinopolis. Được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới năm 1989 (mã số 511), Mystras bảo tồn một bảo tàng sống động ngoài trời của kiến trúc nhà thờ hỗn hợp và những bộ bích họa kiệt xuất bậc nhất lịch sử Kitô giáo phương Đông.

IChúa Kitô Đấng Ban Sự Sống, Đức Mẹ Pantanassa Và Thánh Tử Đạo Demetrios Bảo Hộ Kinh Đô Morea
Khác với những đan viện đơn lẻ chỉ thờ một vị thánh bổn mạng duy nhất, quần thể tu viện và thánh đường tại thành cổ Mystras là một đô thị thánh mẫu và thánh tử đạo quy tụ nhiều danh hiệu thiêng liêng cốt lõi của thần học Chính Thống giáo Đông phương thời hậu kỳ Đông La Mã. Ở khu phố dưới (Kato Chora), ngôi Nhà thờ chính tòa cổ kính nhất của thành phố được dâng kính Thánh Đại Tử đạo Demetrios (Agios Demetrios, vị thánh chiến binh bảo hộ thành Thessaloniki và toàn quân đội Đông La Mã), biểu trưng cho sức mạnh bảo vệ thành trì Chính Thống giáo trước các thế lực phương Tây và Ottoman. Trong khi đó, tại khu phố trên (Ano Chora) ngay sát Cung điện Hoàng gia, ngôi nhà thờ tu viện của triều đình được cung hiến cho Chúa Kitô Đấng Ban Sự Sống (Christos Zoodotes) và Sự Khôn Ngoan Của Thiên Chúa (Agia Sophia), trực tiếp tái hiện danh hiệu thánh đường Hagia Sophia của đế đô Constantinopolis ngay trên sườn núi xứ Peloponnesos.
Đặc biệt hơn cả, người dân và giới quý tộc Mystras dành trọn lòng sùng kính sâu sắc nhất cho Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa (Panagia Theotokos) qua ba đại đan viện mang ba tước hiệu thần học tuyệt đẹp của Đức Mẹ: thứ nhất là Đức Mẹ Chỉ Đường (Panagia Hodegetria, còn gọi là nhà thờ Aphendiko thuộc đại tu viện Brontochion ở phía bắc), tước hiệu linh ảnh tối cao bảo hộ kinh thành Constantinopolis; thứ hai là Đức Mẹ Đấng Ai Ai Cũng Chiêm Ngưỡng (Panagia Peribleptos, ngôi đan viện đục sâu vào vách đá ở góc đông nam thành cổ); và thứ ba là Đức Mẹ Nữ Vương Vũ Trụ (Panagia Pantanassa, đan viện nằm trên sườn đồi phía đông nhìn bao quát toàn bộ thung lũng Sparta, nơi hiện nay các nữ tu Chính Thống giáo vẫn ngày đêm tụng kinh cầu nguyện).
Đời sống tâm linh và nghệ thuật bích họa tại các tu viện của Mystras vào thế kỷ 14 và đầu thế kỷ 15 gắn liền mật thiết với hai trào lưu tư tưởng lớn nhất của thời kỳ Phục hưng Palaiologos: một bên là thần học Tịch tĩnh và Ánh sáng vô tạo (Hesychasm) do Thánh Gregorios Palamas bảo vệ và được các vị Thượng phụ xuất thân từ dòng tu như Isidoros Boucheiras, Kallistos I và Philotheos Kokkinos truyền bá mạnh mẽ tới các đan viện ở Mystras (thể hiện qua những bức bích họa Chúa Biến Hình trên núi Tabor tỏa các tia sáng trắng hình học chói lọi tại tu viện Peribleptos và Pantanassa); bên kia là chủ nghĩa nhân văn cổ điển Hy Lạp được nuôi dưỡng tại triều đình của các Chuyên chế vương dòng họ Kantakouzenos và Palaiologos.
Sự giao thoa kỳ diệu ấy đã biến Mystras thành nơi gặp gỡ độc nhất vô nhị giữa các học giả thần học Chính Thống giáo (như Tổng giám mục Bessarion vùng Nicaea và Gennadios Scholarios, vị Thượng phụ đầu tiên của Constantinopolis sau năm 1453) với nhà triết học tân Platon lừng danh Georgios Gemistos Plethon (khoảng 1355 tới 1452), người đã mở trường giảng dạy triết học cổ đại ngay tại Mystras và truyền cảm hứng trực tiếp cho việc thành lập Hàn lâm viện Platon tại Firenze nước Ý trong thời kỳ Phục hưng phương Tây.
Biên niên sử Đông La Mã của nhà sử học Georgios Sphrantzes (người bạn đồng hành và đại thần thân tín của hoàng gia Palaiologos) đã ghi lại khoảnh khắc lịch sử thiêng liêng nhất diễn ra tại Mystras vào đầu năm 1449. Sau khi Hoàng đế Ioannis VIII Palaiologos băng hà tại Constantinopolis mà không có con nối dõi, người em trai của ngài đang giữ chức Chuyên chế vương (Despotes) cai quản vùng Morea tại cung điện Mystras là Konstantinos Palaiologos được chọn kế vị ngai vàng. Để tránh những cuộc xung đột phe phái quanh nghi lễ tại kinh đô đang bị bao vây, vào ngày 6 tháng 1 năm 1449 (nhằm đúng Đại lễ Chúa Hiển Linh Theophany), vị Tổng giám mục (Metropolitan) của Lacedaemonia đã cử hành nghi thức đăng quang cho Hoàng đế Konstantinos XI Palaiologos ngay bên trong Nhà thờ chính tòa Thánh Demetrios (Mitropoli) tại Mystras. Hôm nay, du khách bước vào chính điện Nhà thờ Thánh Demetrios vẫn được tận mắt nhìn thấy phiến đá cẩm thạch chạm nổi hình đại bàng hai đầu của vương triều Palaiologos lát ngay trên sàn trước cửa cung thánh, đánh dấu chính xác vị trí vị Hoàng đế cuối cùng của Đế quốc La Mã phương Đông đã đứng nhận vương quyền trước khi ra đi hy sinh anh dũng trên tường thành Constantinopolis ngày 29 tháng 5 năm 1453.
Một sự nhầm lẫn thường gặp ở du khách khi tới thăm vùng Laconia là đồng nhất thành cổ Mystras với thành bang Sparta cổ đại thời vua Leonidas. Thực tế, thành phố Sparta cổ đại (và cả thành phố Sparta hiện đại được vua Otto quy hoạch lại năm 1834) nằm ở dưới vùng đồng bằng bằng phẳng bên bờ sông Eurotas; còn thành phố Mystras trên sườn núi Taygetos chỉ mới được khởi lập vào năm 1249 dưới thời Trung cổ. Khi quân Đông La Mã thu phục lại vùng này vào năm 1262, cư dân Chính Thống giáo từ vùng đồng bằng Lacedaemonia (Sparta cũ) đã di cư hàng loạt lên sườn núi dốc đứng quanh pháo đài Mystras để tìm kiếm sự an toàn trước các cuộc giao tranh, từ đó biến ngọn đồi đá này thành thủ phủ mới của toàn bán đảo Peloponnesos suốt hơn hai thế kỷ.
IITừ Pháo Đài Thập Tự Chinh Năm 1249 Tới Kinh Đô Chuyên Chế Quốc Morea Và Di Sản Thế Giới
Lịch sử của thành cổ Mystras mở màn vào năm 1249, bốn mươi lăm năm sau khi cuộc Thập tự chinh thứ tư chia cắt Đế quốc Đông La Mã. Vị Thân vương người Pháp cai trị Thân vương quốc Achaea trên bán đảo Peloponnesos là Guillaume II de Villehardouin đã cho xây dựng một tòa pháo đài kiên cố trên đỉnh ngọn đồi đá hình nón mang tên Myzithras (tương truyền gọi theo hình dáng ngọn đồi giống như một khối phô mai mizithra địa phương, hoặc theo tên một chủ đất cũ) nhằm khống chế hẻm núi Taygetos và đồng bằng Sparta. Tuy nhiên, người Pháp chỉ giữ được tòa thành này đúng mười năm: vào mùa thu năm 1259, trong trận chiến lịch sử tại Pelagonia (Tây Macedonia), quân đội Đông La Mã của Hoàng đế Mikhael VIII Palaiologos đã đánh bại liên quân phương Tây và bắt sống chính Thân vương Guillaume II de Villehardouin.
Để đổi lấy tự do cho bản thân vào cuối năm 1261 (ngay sau khi Mikhael VIII vừa khôi phục lại kinh đô Constantinopolis), Guillaume II đã phải ký hiệp ước trao trả cho Đế quốc Đông La Mã ba pháo đài trọng yếu nhất ở đông nam Peloponnesos là Monemvasia, Grand Magne và Mystras vào năm 1262. Từ cột mốc ấy, Mystras trở thành trụ sở của vị Tổng đốc Đông La Mã và đến năm 1349 được nâng lên thành kinh đô của Chuyên chế quốc Morea (Despotate of the Morea), một tiểu vương quốc tự trị thịnh vượng được cai trị trực tiếp bởi các hoàng tử con trai và em trai của Hoàng đế Đông La Mã thuộc hai đại gia tộc Kantakouzenos (1349 tới 1383) và Palaiologos (1383 tới 1460).
- Năm 1249 tới 1262Guillaume II de Villehardouin xây pháo đài và trao trả Mystras cho Đông La MãNăm 1249, Thân vương Guillaume II de Villehardouin xây pháo đài trên đỉnh đồi Myzithras; sau khi bị bắt tại trận Pelagonia năm 1259, ông trao trả Mystras cho Hoàng đế Đông La Mã Mikhael VIII Palaiologos vào năm 1262.
- Khoảng năm 1291 tới 1322Tổng giám mục Nikephoros Moschopoulos xây Nhà thờ Thánh Demetrios và Viện trưởng Pachomios lập Tu viện BrontochionTổng giám mục Nikephoros Moschopoulos dựng Nhà thờ chính tòa Thánh Demetrios (Mitropoli, hoàn thành năm 1291/1292); cùng thời gian đó Viện trưởng Pachomios xây dựng nhà thờ Agioi Theodoroi (trước 1296) và nhà thờ Panagia Hodegetria (Aphendiko, khoảng 1310) thuộc đại tu viện Brontochion.
- Năm 1349 tới 1380Chuyên chế vương Manouel Kantakouzenos mở rộng Cung điện và xây Tu viện Agia Sophia cùng PeribleptosVị Chuyên chế vương đầu tiên của Morea là Manouel Kantakouzenos định đô lâu dài tại Mystras, xây dựng Tu viện Hoàng gia Agia Sophia ở khu phố trên và bảo trợ việc kiến tạo Tu viện Đức Mẹ Peribleptos với bộ bích họa kiệt tác giữa thế kỷ 14.
- Tháng 9 năm 1428Đại thần Ioannis Phrangopoulos xây dựng và thánh hiến Tu viện Đức Mẹ PantanassaVị tể tướng của Chuyên chế quốc Morea là Ioannis Phrangopoulos hoàn thành ngôi thánh đường và Tu viện Pantanassa vào tháng 9 năm 1428, công trình kiến trúc và hội họa lớn cuối cùng của nghệ thuật Đông La Mã.
- Ngày 6 tháng 1 năm 1449 và năm 1460Hoàng đế Konstantinos XI Palaiologos đăng quang tại Mystras và sự kết thúc của Chuyên chế quốc MoreaNgày 6 tháng 1 năm 1449, Konstantinos XI lên ngôi Hoàng đế Đông La Mã tại Nhà thờ Thánh Demetrios ở Mystras; bảy năm sau khi Constantinopolis thất thủ, vào tháng 5 năm 1460, Sultan Mehmed II tiến quân vào tiếp quản Mystras mà không qua giao tranh.
- Năm 1687 tới 1715 và 1821 tới 1834Thời kỳ Venice hưng thịnh, Chiến tranh Độc lập Hy Lạp và sự ra đời của Sparta mớiDưới thời Cộng hòa Venice (1687 tới 1715), Mystras phát triển nghề tơ lụa với hơn 40.000 dân; bị tàn phá nặng nề bởi quân của Ibrahim Pasha năm 1825 trong Chiến tranh Độc lập; năm 1834 vua Otto lập thành phố Sparta mới dưới đồng bằng khiến cư dân rời bỏ dần thành cổ.
- Năm 1953 và 1989Hoàn tất di dời dân cư để bảo tồn khảo cổ và ghi danh Di sản Thế giới UNESCOTừ cuối thế kỷ 19, Gabriel Millet và Anastasios Orlandos tiến hành trùng tu các tu viện; năm 1953 toàn bộ khu đồi trở thành khu bảo tồn khảo cổ học (trừ các nữ tu tại Pantanassa) và năm 1989 được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới.
Các bản Sắc chỉ vàng khắc thẳng lên tường bích họa tại Tu viện Brontochion (Aphendiko). Một trong những tư liệu lịch sử quý giá và độc đáo nhất của Đế quốc Đông La Mã còn lưu giữ tại Mystras nằm ở một căn phòng nguyện nhỏ phía nam tiền sảnh của Nhà thờ Đức Mẹ Hodegetria (Aphendiko) thuộc đại tu viện Brontochion. Vào đầu thế kỷ 14, vị Viện trưởng tài năng và giàu ảnh hưởng chính trị là Tổng giáo trưởng Pachomios đã nhiều lần đi sứ tới kinh đô Constantinopolis và xin được bốn bản Sắc chỉ vàng (Chrysobulls, ban hành vào các năm 1312/1313, 1319, 1320 và 1322) từ hai đồng Hoàng đế Andronikos II Palaiologos và Mikhael IX Palaiologos.
Thay vì chỉ cất giữ các cuộn giấy da đóng ấn vàng trong hòm khóa, Viện trưởng Pachomios đã cho các họa sĩ chép nguyên văn toàn bộ nội dung bốn bản sắc chỉ vàng của Hoàng đế lên bốn bức tường vữa tươi của căn phòng nguyện, phía trên vẽ bức bích họa Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng đang trao sắc chỉ cho chính Viện trưởng Pachomios. Các văn bản trên tường ghi lại chi tiết danh mục hàng chục ngôi làng, các vườn ô liu, cối xay nước và ruộng đất khắp bán đảo Peloponnesos thuộc quyền sở hữu miễn thuế của Tu viện Brontochion, tạo nên một bộ hồ sơ địa chính và pháp lý bằng bích họa có một không hai trong thế giới trung đại.
Nhiều người khi đọc thấy tên Mystras trong tác phẩm kịch thơ bất hủ Faust (Phần II, Hồi 3) của đại văn hào Đức Johann Wolfgang von Goethe (xuất bản năm 1832) thường nghĩ rằng Goethe chỉ hư cấu một bối cảnh thần thoại. Thực tế, Goethe đã nghiên cứu rất kỹ các bản vẽ địa lý về pháo đài và các tu viện trên đồi Mystras do các lữ khách châu Âu thế kỷ 18 ghi chép, rồi chọn chính tòa thành cổ Mystras bên trên thung lũng Sparta làm nơi nhân vật Faust (đại diện cho tinh thần hiệp sĩ Trung cổ và hiện đại châu Âu) kết duyên cùng nàng Helen thành Troy (đại diện cho vẻ đẹp cổ điển Hy Lạp), từ đó sinh ra Euphorion: một ẩn dụ văn học tuyệt đẹp tôn vinh Mystras như điểm giao hội giữa thời Cổ đại Hy Lạp và thời Trung đại Kitô giáo.
IIIKiến Trúc Thánh Đường Hỗn Hợp Kiểu Mystras Và Bích Họa Kiệt Tác Tại Pantanassa, Peribleptos Và Hodegetria
Khu khảo cổ và các tu viện tại Mystras được chia thành ba tầng không gian rõ rệt từ đỉnh xuống chân đồi: Pháo đài (Kastro) trên đỉnh cao 620 mét, Khu phố trên (Ano Chora) bao quanh quảng trường Cung điện các Chuyên chế vương, và Khu phố dưới (Kato Chora) được ngăn cách bởi bức tường thành nội và cổng Monemvasia, nơi tập trung các đại đan viện lớn nhất. Về mặt lịch sử kiến trúc, Mystras là nơi sáng tạo ra một kiểu hình thánh đường hoàn toàn mới lạ mang tên Kiểu hỗn hợp Mystras (Mixed Mystras type, khởi đầu từ nhà thờ Aphendiko năm 1310 rồi lặp lại tại Mitropoli và Pantanassa).
Trong kiểu kiến trúc hỗn hợp này, một ngôi nhà thờ duy nhất lại kết hợp hai sơ đồ mặt bằng khác nhau ở hai tầng: ở tầng trệt, lòng nhà thờ được xây theo sơ đồ Vương cung thánh đường ba nhịp gian (three-aisled basilica) chia bằng hai hàng cột đá cẩm thạch có hành lang phụng vụ rộng rãi; nhưng khi nâng lên tầng lầu (tầng vòm) có hành lang gác lửng (gynaikeion), cấu trúc lại chuyển thành Nhà thờ chữ thập nội tiếp năm mái vòm (five-domed cross-in-square, một mái vòm lớn ở trung tâm và bốn mái vòm nhỏ ở bốn góc). Đồng thời, do sự giao lưu với kiến trúc Gothic phương Tây của vương triều Frankish và Venice, các tu viện như Pantanassa và Agia Sophia còn sở hữu những tháp chuông cao bốn tầng có cửa sổ vòm nhọn ba nhịp và những hàng hiên vòm cuốn mở rộng nhìn ra thung lũng Sparta.
Ngôi nhà thờ cổ nhất ở góc đông bắc Khu phố dưới do Tổng giám mục Nikephoros Moschopoulos xây năm 1291 và Tổng giám mục Matthaios nâng thêm tầng lầu năm mái vòm thế kỷ 15; lưu giữ phiến đá đại bàng hai đầu nơi Hoàng đế Konstantinos XI đăng quang năm 1449, bích họa Ngai Phán Xét (Hetoimasia) và Bảo tàng Khảo cổ Mystras ở sân bên.
Trung tâm đan tu và học thuật lớn nhất Mystras do Viện trưởng Pachomios lập đầu thế kỷ 14: gồm nhà thờ Agioi Theodoroi (trước 1296) có mái vòm bát giác lớn nhất Mystras, và nhà thờ Hodegetria (Aphendiko, khoảng 1310) mở đầu kiểu kiến trúc hỗn hợp hai tầng cùng căn phòng khắc nguyên văn 4 Sắc chỉ vàng của Hoàng đế lên tường.
Được đại thần Ioannis Phrangopoulos thánh hiến tháng 9 năm 1428 trên sườn đồi phía đông, nổi bật với tháp chuông bốn tầng pha nét Gothic - Đông La Mã, hàng hiên cột vòm nhìn xuống Sparta và bộ bích họa năm 1430 rực rỡ sắc màu gồm cảnh Chúa làm cho Lazarô sống lại, Chúa vào thành Giêrusalem và Chúa Thăng Thiên.
Ngôi đan viện một phần đục thẳng vào vách núi đá ở góc đông nam thành cổ, bảo tồn nguyên vẹn chu kỳ bích họa từ khoảng năm 1350 tới 1370 được giới sử học nghệ thuật đánh giá là đỉnh cao tinh tế nhất của hội họa Phục hưng Palaiologos, đặc biệt là cảnh Phụng vụ Thánh của các Thiên thần, Lễ Chúa Biến Hình và Đức Mẹ An Giấc.
Nằm tại Khu phố trên gần cổng Nafplion, nhà thờ Agia Sophia do Chuyên chế vương Manouel Kantakouzenos dựng giữa thế kỷ 14 làm tu viện triều đình và nơi an táng hoàng hậu Theodora Tocco cùng Cleofe Malatesta; ngay bên dưới là quần thể Cung điện các Chuyên chế vương hình chữ L với phòng đại sảnh ngai vàng.
Nhà thờ Evangelistria (cuối thế kỷ 14 tới đầu thế kỷ 15) là nhà thờ nghĩa trang hai cột có những bức chạm khắc đá cẩm thạch tinh xảo bậc nhất Mystras; cùng nhiều nhà nguyện gia tộc quý tộc như Agios Nikolaos và Agios Georgios rải rác khắp các con phố lát đá cuội.
| Tu viện / Thánh đường | Niên đại và Người sáng lập | Kiểu kiến trúc và Di sản bích họa tiêu biểu |
|---|---|---|
| Nhà thờ chính tòa Thánh Demetrios (Mitropoli) | 1291/1292 (Nikephoros Moschopoulos); tầng trên thêm thế kỷ 15 (Matthaios) | Kiểu hỗn hợp Mystras (tầng dưới vương cung thánh đường 3 gian, tầng trên 5 vòm); bích họa cuối thế kỷ 13 và đầu thế kỷ 14; sàn đá khắc đại bàng hai đầu |
| Nhà thờ Agioi Theodoroi (Tu viện Brontochion) | Khoảng 1290 tới 1296 (Đan sĩ Daniel và Viện trưởng Pachomios) | Kiểu vòm bát giác trên vòm góc (cross-in-octagon) lớn nhất tại Mystras, kế thừa truyền thống thế kỷ 11 của Hosios Loukas và Daphni |
| Nhà thờ Panagia Hodegetria / Aphendiko (Brontochion) | Khoảng 1310 tới 1322 (Viện trưởng Pachomios) | Nguyên mẫu đầu tiên của kiểu hỗn hợp hai tầng Mystras; bích họa đầu thế kỷ 14 tuyệt đẹp và phòng lưu giữ 4 Sắc chỉ vàng viết trên tường vữa |
| Tu viện Đức Mẹ Peribleptos | Giữa thế kỷ 14 (khoảng 1350 tới 1370, bảo trợ bởi Manouel Kantakouzenos) | Kiểu chữ thập nội tiếp hai cột xây tựa vào hang đá tự nhiên; bảo tồn bộ bích họa Phục hưng Palaiologos hoàn chỉnh và thanh thoát bậc nhất |
| Tu viện Hoàng gia Agia Sophia | Khoảng 1350 tới 1365 (Chuyên chế vương Manouel Kantakouzenos) | Kiểu chữ thập nội tiếp hai cột có tháp chuông cao và hành lang hiên, sàn đá khảm đa sắc Opus sectile và bích họa Chúa Kitô Đấng Ban Sự Sống (Zoodotes) |
| Tu viện Đức Mẹ Pantanassa | Thánh hiến tháng 9 năm 1428 (Đại thần Ioannis Phrangopoulos) | Kiểu hỗn hợp hai tầng 5 mái vòm kèm tháp chuông Gothic và hiên vòm mở; bích họa năm 1430 rực rỡ ở tầng lầu; đan viện nữ duy nhất còn hoạt động |
Sự lột xác của hội họa Đông La Mã trong các bức bích họa tại Peribleptos và Pantanassa. Khác với nghệ thuật tranh khảm vàng thế kỷ 11 có bố cục tĩnh tại trên nền phẳng, khi bước vào lòng Tu viện Peribleptos (giữa thế kỷ 14) và tầng lầu của Tu viện Pantanassa (khoảng năm 1430), người xem bắt gặp một cuộc cách mạng thẩm mỹ của hội họa Phục hưng Palaiologos. Thay vì dùng những viên đá khảm đắt đỏ khi ngân khố đế quốc đã thu hẹp, các họa sĩ bậc thầy từ Constantinopolis tụ hội về Mystras đã dùng cọ vẽ trên vữa ướt (fresco) với bảng màu phong phú gồm hồng đào, xanh ngọc bích, tím hoa cà, vàng đất và xanh lam sâu thẳm.
Tại vòm cung thánh của Peribleptos, bức bích họa Phụng vụ Thánh trên Thiên quốc (Divine Liturgy) khắc họa các thiên thần mặc phẩm phục phó tế và linh mục đang rước lễ vật quanh bàn thờ Thiên Chúa với những tà áo lụa bay phấp phới như có gió thổi thật và những gương mặt nghiêng tràn đầy vẻ dịu dàng trầm tư. Còn trên các vòm cuốn tầng lầu của Pantanassa, bức tranh Chúa làm cho Lazarô sống lại (Raising of Lazarus) và Chúa tiến vào thành Giêrusalem (Entry into Jerusalem) lại ngập tràn sinh khí đời thường với những tòa kiến trúc nhiều tầng, những rặng cây, những đứa trẻ đang trèo lên cây cọ bẻ cành lá trải xuống đường dưới ánh sáng lung linh, mở ra một hướng đi nhân văn sâu sắc ngay trước thềm thời kỳ Phục hưng châu Âu.
IVThế Đất Và Hướng
Về mặt lịch sử quy hoạch và luật phụng vụ của Chính Thống giáo Đông phương, vị trí của thành cổ Mystras được chọn lựa vào thế kỷ 13 hoàn toàn dựa trên địa thế phòng thủ quân sự tự nhiên của ngọn đồi đá vôi dốc đứng, trong khi toàn bộ bảy ngôi đại thánh đường và các nhà nguyện trong thành đều tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc định hướng về phương Đông (Ad orientem): dù sườn đồi dốc tới mức người ta phải khoét núi hoặc đắp tường kè đá cao hàng chục mét, trục chính của mọi nhà thờ từ Mitropoli, Aphendiko, Peribleptos cho tới Pantanassa đều xoay phần hậu cung tam giác hoặc bán nguyệt về phía mặt trời mọc trên thung lũng Sparta. Phần dưới đây đối chiếu địa cục sơn thủy đặc biệt của Mystras qua lăng kính hình thế cổ truyền phương Đông.
Xét trên đại địa hình vùng Laconia (nam bán đảo Peloponnesos) tại tọa độ 37,0747 độ vĩ bắc, 22,3686 độ kinh đông, thành cổ Mystras tọa lạc trên một ngọn đồi đá vôi hình chóp nón cao 620 mét tách ra từ sườn phía đông của đại sơn mạch Taygetos (ngọn núi cao nhất Peloponnesos với đỉnh Profitis Ilias vươn tới 2.407 mét quanh năm phủ tuyết trắng từ mùa đông sang mùa xuân). Trong phép xem long mạch cổ truyền, dãy núi Taygetos chạy dọc từ Bắc xuống Nam với những đỉnh đá hình kim tự tháp nối tiếp nhau chính là một dải Thái Tổ sơn và Thiếu Tổ sơn hùng vĩ bậc nhất miền nam Hy Lạp; từ bức tường đá khổng lồ ấy, một mạch núi phụ lao vọt xuống rồi đột ngột đứt đoạn qua một hẻm núi sâu để nhô lên thành ngọn đồi độc lập Mystras, tạo thành thế Thái Tổ thoát mạch, Kim tinh kết huyệt (ngọn đồi hình chuông úp đứng tách biệt trước chân núi mẹ).
Xét về minh đường, tiền án và thủy pháp, toàn bộ các tu viện, cung điện và phố phường của Mystras đều được bố trí bám theo sườn phía Đông và Đông Bắc của ngọn đồi: phía sau lưng ở phương Tây là vách núi đá dựng đứng của đồi Kastro và dãy Taygetos cao vút che chắn hoàn toàn gió tây và bảo vệ hậu phương; trong khi mặt tiền của các tu viện (đặc biệt là hành lang hiên mở của Tu viện Pantanassa và sân Cung điện) đều tọa Tây hướng Đông, đón trọn ánh bình minh và phóng tầm mắt bao quát cả một vùng Đại Minh Đường rộng hàng trăm cây số vuông là thung lũng đồng bằng Lacedaemonia (Sparta) xanh ngắt những rừng ô liu và cam quýt. Chảy dọc giữa lòng minh đường ấy từ Bắc xuống Nam để đổ ra vịnh Laconia là dòng sông Eurotas cổ đại uốn lượn như một dải ngọc đái thu thủy, và ở phía bên kia bờ đông của thung lũng là dãy núi Parnon (cao 1.935 mét) chạy song song làm bức Triều Sơn xa tắp ngang tầm mắt. Thế đất hậu chẩm vạn nhận, minh đường thiên lý, nhị sơn giáp nhất giang (lưng tựa núi cao vạn trượng, trước mở đồng bằng ngàn dặm, hai dãy núi lớn kẹp dòng sông ở giữa) giải thích vì sao ngọn đồi Mystras lại trở thành kinh đô hội tụ vương khí và văn chương rực rỡ suốt hai thế kỷ cuối cùng của Đế quốc Đông La Mã.
VĐại Lễ Thánh Demetrios, Lễ Kính Đức Mẹ Pantanassa Và Tưởng Niệm Hoàng Đế Konstantinos XI
Mặc dù phần lớn khu thành cổ Mystras ngày nay được quản lý như một Khu bảo tồn Khảo cổ học Quốc gia và Di sản Thế giới UNESCO, đời sống phụng vụ Chính Thống giáo tại đây chưa bao giờ tắt. Tại Tu viện Đức Mẹ Pantanassa trên sườn đồi phía đông, cộng đoàn các nữ tu thuộc Giáo phận Monemvasia và Sparta vẫn cư ngụ thường trực, chăm sóc những chậu hoa rực rỡ quanh hiên đá và cử hành giờ kinh Phụng vụ hằng ngày. Vào các ngày lễ bổn mạng lớn theo lịch Chính Thống giáo Hy Lạp (dương lịch), các ngôi thánh đường cổ khác trong thành cũng được mở cửa cử hành Thánh lễ trọng thể.
| Thời gian | Hệ lịch | Tên lễ tiết và sự kiện | Ý nghĩa phụng vụ và hoạt động tưởng niệm tại thành cổ Mystras, Sparta |
|---|---|---|---|
| Ngày 26 tháng 10 hằng năm | Lịch Chính Thống giáo Hy Lạp (Dương lịch) | Đại lễ Thánh Đại Tử đạo Demetrios Đấng Tuôn Dầu Thơm (Lễ bổn mạng Nhà thờ Mitropoli) | Kỳ đại lễ trọng thể tại ngôi Nhà thờ chính tòa cổ nhất của Mystras (Agios Demetrios), nơi Đức Tổng giám mục Monemvasia và Sparta cùng hàng giáo phẩm cử hành Thánh lễ dưới mái vòm bích họa thế kỷ 13. |
| Ngày 15 tháng 8 và ngày 24 tháng 9 hằng năm | Lịch Chính Thống giáo Hy Lạp (Dương lịch) | Đại lễ Đức Mẹ An Giấc và Lễ Kính Đức Mẹ Pantanassa (Nữ Vương Vũ Trụ) | Lễ hội hành hương tại Tu viện Pantanassa (đan viện nữ đang hoạt động duy nhất trong thành cổ) và các nhà thờ Đức Mẹ Hodegetria, Peribleptos; các nữ tu cử hành kinh cầu Paraklesis và đón tiếp khách hành hương khắp vùng Laconia. |
| Chủ nhật cuối tháng 5 hằng năm (gần ngày 29 tháng 5) | Lịch tưởng niệm lịch sử và Phụng vụ | Lễ hội Tưởng niệm Hoàng đế Konstantinos XI Palaiologos (Paleologia) | Sự kiện văn hóa và tôn giáo trọng đại nhất trong năm tại Mystras và Sparta kỷ niệm ngày hy sinh của vị Hoàng đế Đông La Mã cuối cùng (29 tháng 5 năm 1453): cử hành lễ tưởng niệm trang nghiêm ngay tại Nhà thờ Thánh Demetrios (nơi ngài đăng quang ngày 6 tháng 1 năm 1449) và nghi lễ trước tượng đài Konstantinos XI tại quảng trường thị trấn Mystras mới. |
| Ngày 25 tháng 3 hằng năm | Lịch Chính Thống giáo Hy Lạp (Dương lịch) | Đại lễ Truyền Tin của Đức Mẹ (Evangelismos tis Theotokou) và Quốc khánh Hy Lạp | Lễ bổn mạng của Nhà thờ Evangelistria tại Khu phố dưới của Mystras, đồng thời kỷ niệm ngày mở đầu cuộc khởi nghĩa giành độc lập của Hy Lạp năm 1821 tại vùng bán đảo Peloponnesos. |
| Tháng 4 hoặc tháng 5 hằng năm | Lịch Phục Sinh Chính Thống giáo (Paschalion) | Tuần Thánh và Đại lễ Phục Sinh tại Tu viện Pantanassa | Cử hành nghi thức rước kiệu Mộ Chúa (Epitaphios) đêm Thứ Sáu Tuần Thánh trên những bậc đá cổ kính nhìn xuống thung lũng Sparta và đón ánh nến Phục Sinh dưới các vòm bích họa thế kỷ 15. |
Góc hiên hoa nở và lòng hiếu khách của các nữ tu tại Tu viện Pantanassa. Giữa những tàn tích cung điện và tường thành bằng đá vôi trầm mặc của một kinh đô đã lùi vào quá khứ hơn năm trăm năm, khi người lữ khách leo theo con đường đá dốc lên tới Tu viện Pantanassa, khung cảnh bỗng bừng sáng sự sống bởi những giàn hoa giấy tím hồng, những chậu húng quế xanh mướt và tiếng chuông ngân trong trẻo từ tháp chuông bốn tầng. Các nữ tu Chính Thống giáo trong y phục đen truyền thống vẫn ngồi thêu tay bên hiên vòm cuốn và niềm nở mời khách hành hương một ly nước mát cùng viên kẹo truyền thống Hy Lạp (loukoumi), giữ cho ngọn đèn đức tin của thời kỳ Phục hưng Đông La Mã vẫn cháy sáng giữa sườn núi Taygetos.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Sườn núi Taygetos, Đô thị Mystras, 231 00 Sparta, Tỉnh Laconia, Vùng Peloponnesos, Hy Lạp
- Đường tới
- Thành cổ Mystras nằm tại tỉnh Laconia ở phía nam bán đảo Peloponnesos, chỉ cách trung tâm thành phố Sparta khoảng 6 kilômét về phía tây và cách thủ đô Athens khoảng 220 kilômét về phía tây nam. Từ Athens, quý vị có thể đi xe buýt liên tỉnh KTEL Laconia khởi hành hằng ngày từ bến xe Kifissos đi theo đường cao tốc qua Corinth và Tripoli đến thẳng bến xe thành phố Sparta trong khoảng 3 tới 3,5 giờ. Từ trung tâm Sparta, quý vị chỉ mất khoảng 10 phút đi taxi hoặc đi xe buýt địa phương qua thị trấn Neos Mystras dưới chân đồi để lên tới Cổng dưới (Lower Entrance, nằm ngay gần Nhà thờ Thánh Demetrios) hoặc Cổng trên (Upper Entrance, nằm gần Pháo đài và Cung điện) của Khu khảo cổ Mystras.
- Toạ độ
- 37.0747, 22.3686
Khu thành cổ và các tu viện tại Mystras nằm trải dài trên một sườn đồi rất dốc có độ chênh cao hơn 300 mét với đường đi lát đá cuội trơn bóng qua nhiều thế kỷ, vì vậy quý vị bắt buộc phải đi giày thể thao hoặc giày leo núi có đế bám tốt, mang theo mũ che nắng và đủ nước uống. Cách tham quan tiết kiệm sức lực nhất (nếu đi bằng ô tô hoặc taxi) là lên cổng trên (Upper Entrance / Kastro) trước để thăm Pháo đài, Cung điện và nhà thờ Agia Sophia, sau đó đi bộ xuôi dốc xuống thăm Tu viện Pantanassa, Peribleptos, Brontochion và Nhà thờ Thánh Demetrios ở cổng dưới (Lower Entrance). Khi bước vào Tu viện Pantanassa (nơi các nữ tu đang sinh sống), quý vị cần ăn mặc kín đáo che vai và đầu gối, không dùng đèn flash chụp ảnh bích họa cổ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Các tu viện Byzantine tại thành cổ Mystras, Sparta
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Thành cổ Mystras có mối liên hệ như thế nào với thành phố Sparta cổ đại?
Thành phố Sparta cổ đại (và cả thành phố Sparta hiện đại ngày nay) nằm dưới đồng bằng bên bờ sông Eurotas, trong khi Mystras là một đô thị pháo đài thời Trung cổ nằm cách đó 6 kilômét trên sườn núi dốc của dãy Taygetos. Được xây dựng năm 1249 bởi người Pháp rồi chuyển về tay Đế quốc Đông La Mã năm 1262, Mystras đã thu hút cư dân từ vùng đồng bằng Sparta cũ di cư lên sườn núi để sinh sống an toàn, trở thành kinh đô của Chuyên chế quốc Morea suốt hai thế kỷ trước khi người dân chuyển ngược xuống thành phố Sparta mới sau năm 1834.
Sự kiện lịch sử trọng đại nào đã diễn ra tại Nhà thờ chính tòa Thánh Demetrios (Mitropoli) ở Mystras vào năm 1449?
Vào ngày 6 tháng 1 năm 1449 (ngày lễ Chúa Hiển Linh), tại chính điện của Nhà thờ chính tòa Thánh Demetrios ở Mystras, vị Chuyên chế vương của Morea là Konstantinos Palaiologos đã được cử hành nghi thức đăng quang lên ngôi Hoàng đế Konstantinos XI Palaiologos, vị Hoàng đế cuối cùng của Đế quốc Đông La Mã; ngày nay trên sàn đá trước cung thánh nhà thờ vẫn còn bảo tồn nguyên vẹn phiến đá cẩm thạch chạm hình đại bàng hai đầu đánh dấu vị trí ngài đứng trong lễ đăng quang.
Kiểu kiến trúc nhà thờ hỗn hợp Mystras (Mixed Mystras type) có cấu trúc đặc biệt như thế nào?
Đó là một sáng tạo kiến trúc độc đáo ra đời tại Mystras vào đầu thế kỷ 14 (mở đầu ở nhà thờ Hodegetria / Aphendiko rồi áp dụng cho Mitropoli và Pantanassa), kết hợp hai kiểu nhà thờ trong cùng một tòa nhà hai tầng: ở tầng trệt, công trình có mặt bằng vương cung thánh đường ba nhịp gian chia bởi hai hàng cột đá; nhưng ở tầng lầu có hành lang gác lửng, công trình lại chuyển thành cấu trúc chữ thập nội tiếp nâng đỡ năm mái vòm vươn cao.
Hiện nay trong khu thành cổ Mystras còn có tu viện nào có các tu sĩ sinh sống không?
Trong số toàn bộ các đan viện và nhà thờ tại Mystras, Tu viện Đức Mẹ Pantanassa (được đại thần Ioannis Phrangopoulos xây dựng và thánh hiến vào tháng 9 năm 1428 trên sườn đồi phía đông) là đan viện duy nhất vẫn còn một cộng đoàn các nữ tu Chính Thống giáo cư ngụ thường trực, chăm sóc khuôn viên tu viện và cử hành các giờ kinh phụng vụ hằng ngày.
Vì sao Mystras được gọi là trung tâm của thời kỳ Phục hưng Palaiologos cuối thời Đông La Mã?
Từ cuối thế kỷ 13 tới năm 1460, dưới sự bảo trợ của các Chuyên chế vương dòng họ Kantakouzenos và Palaiologos, Mystras đã quy tụ những kiến trúc sư, họa sĩ bích họa (tác giả các bộ tranh kiệt xuất tại Peribleptos, Aphendiko và Pantanassa), các nhà thần học Hesychasm và các triết gia nhân văn hàng đầu như Georgios Gemistos Plethon và Hồng y Bessarion, những người đã gìn giữ và truyền trao kho tàng văn chương, triết học cổ điển Hy Lạp sang nước Ý ngay trước khi Đế quốc Đông La Mã sụp đổ.