VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Phước Hậu

Tổ đình Phước Hậu, Phước Hậu tự

Ngôi chùa làng bên dòng Ba Sắc đã thành chốn tu học của các vị hòa thượng từ Quảng Ngãi vào, nay giữ một vườn kinh khắc trên đá hiếm thấy ở chùa Việt.

Dựng chùa
1894
do ông Hương cả làng Đông Hậu vận động
Chánh điện
1962
bố cục chữ sơn, nhìn ra sông Hậu
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Quyết định 152-QĐ/BT ngày 25 tháng 1 năm 1994

Từ bến sông nhìn lên, quý vị sẽ thấy một ngôi chánh điện mái cong kiểu Á Đông mà mặt tiền lại có nét Tây, đứng giữa một khu vườn nhiều cây cổ thụ, mặt quay ra dòng sông rộng mà người vùng này gọi là sông Ba Sắc. Đi vòng qua chánh điện là một vườn khác lạ: hàng trăm phiến đá xám dựng thành hàng, xếp tỏa ra như những chiếc lá, trên mỗi phiến khắc những câu kinh bằng chữ quốc ngữ.

Đây là chùa Phước Hậu, ngôi chùa làng Đông Hậu dựng năm 1894, về sau thành chốn tu học của các vị hòa thượng từ Quảng Ngãi vào miền Tây. Bài này kể dòng truyền thừa mà người ta gắn cho chùa, kể chỗ nguồn còn thiếu, rồi kể về ngôi chánh điện, ngọn tháp và vườn kinh đá.

IDòng Truyền Thừa Và Chỗ Nguồn Còn Thiếu

Phước Hậu khởi là một chùa làng, không phải một chùa do một vị thiền sư khai sơn. Trước năm 1894 nơi đây chỉ có một am tranh. Năm 1894, ông Hương cả làng Đông Hậu là Lê Văn Gồng cùng con gái là bà Lê Thị Huỳnh vận động dân làng dựng một ngôi chùa khung gỗ lợp ngói, ban đầu gọi theo tên làng là chùa Đông Hậu. Tên người dựng cũng có chỗ vênh: báo Giác Ngộ ghi Lê Văn Gồng, bài của phatgiao.org.vn ghi Lê Ngọc Đán, tục gọi là Cả Gồng. Hai cách ghi có lẽ là tên thật và tên gọi của cùng một người.

Năm 1910, con gái ông cùng bổn đạo mời Hòa thượng Hoằng Chỉnh từ chùa Thiên Ấn ở Quảng Ngãi vào trụ trì. Chính ngài đổi tên chùa thành Phước Hậu. Từ đó chùa làng có một dòng tăng trụ trì nối đời, và bắt đầu thành chốn tổ.

Theo sử liệu

Về tông phái, chúng tôi phải nói rõ: việc xếp Phước Hậu vào dòng Lâm Tế Chúc Thánh chỉ dựa vào một mạch tư liệu. Đó là đoạn lược sử của chùa, được trang Chốn Thiêng, báo Giác Ngộ và đài Phát thanh Truyền hình Vĩnh Long chép lại gần như cùng một lời, rằng dòng pháp của chùa đi từ Hội An ra Quảng Ngãi rồi vào Trà Ôn. Thư viện chưa đối chiếu được điều ấy bằng pháp danh đầy đủ của các vị trụ trì hay bằng văn bia trong chùa. Một bài khác trên phatgiao.org.vn lại ghi chùa theo Phật Giáo Nam truyền, điều này trái với cả kiến trúc lẫn lối thờ của chùa, nhiều phần là ghi nhầm.

Lý do mạch tư liệu ấy đáng tin ở mức nhất định là nơi các vị trụ trì đến. Các vị trụ trì đầu tiên của Phước Hậu đều từ Quảng Ngãi vào, mà Quảng Ngãi là vùng dòng Chúc Thánh thịnh. Một vị hòa thượng từ Thiên Ấn vào trụ trì thì dòng pháp của chùa theo dòng của ngài là điều hợp lẽ. Nhưng hợp lẽ vẫn chưa phải là đã chứng, nên chúng tôi ghi đúng mức ấy.

Theo giáo nghĩa

Dòng Chúc Thánh là một chi của Thiền phái Lâm Tế, khai ở chùa Chúc Thánh, Hội An, rồi lan ra khắp miền Trung và vào Nam. Dòng có bài kệ truyền thừa riêng, mở đầu bằng Minh thật pháp toàn chương, dùng để đặt pháp danh theo đời: mỗi đời lấy một chữ trong kệ làm chữ đầu pháp danh. Nguyên văn và lịch sử của dòng quý vị đọc ở bài Tổ đình Chúc Thánh. Vì chưa tra được pháp danh đầy đủ của các vị trụ trì Phước Hậu, chúng tôi không nêu các vị ở đời thứ mấy.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều bài du lịch gọi Phước Hậu là chùa có từ năm 1894 do một vị thiền sư khai sơn. Không hẳn. Năm 1894 là năm dân làng dựng chùa, người đứng ra là một vị Hương cả chứ không phải một vị tăng. Vị tăng đầu tiên được ghi tên là Hòa thượng Hoằng Chỉnh, về năm 1910. Chùa thành tổ đình là nhờ các đời trụ trì về sau, không phải nhờ buổi khai sơn.

IITừ Chùa Làng Tới Chốn Tu Học

Đầu thế kỷ 20, miền Tây thiếu chốn tu học có nề nếp. Các vị hòa thượng từ Quảng Ngãi vào đã đem theo nếp tu của các tổ đình miền Trung, và Phước Hậu trở thành một trong những nơi đào tạo tăng tài của vùng sông Hậu. Hòa thượng Thiện Hoa, theo bài tiểu sử trên báo Giác Ngộ, vào chùa Phước Hậu từ năm bảy tuổi, rồi theo học Hòa thượng Khánh Anh trước khi đi học tiếp ở các trường Phật học lớn.

  • 1894Dân làng dựng chùa
    Ông Hương cả Lê Văn Gồng vận động dân làng Đông Hậu dựng chùa khung gỗ lợp ngói, gọi là chùa Đông Hậu.
  • 1910Hòa thượng Hoằng Chỉnh về trụ trì
    Từ chùa Thiên Ấn, Quảng Ngãi vào, đổi tên chùa thành Phước Hậu. Ngài trụ trì tới năm 1939.
  • 1942Hòa thượng Khánh Anh về trụ trì
    Từ chùa Long An ở Đồng Đế, Trà Ôn về trụ trì Phước Hậu, tới năm 1961.
  • 1961Đời Hòa thượng Thiện Hoa
    Hòa thượng Thiện Hoa nhận trụ trì. Hòa thượng Hoàn Phú đứng ra xây dựng các công trình mới.
  • 1962Chánh điện mới
    Chánh điện xây lại bằng vật liệu mới, kết hợp lối Đông và lối Tây, bố cục chữ sơn.
  • 1966Tháp Đa Bảo
    Dựng tháp Đa Bảo ba tầng, thờ xá lợi Đức Phật Thích Ca.
  • 1994Di tích quốc gia
    Xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định 152-QĐ/BT ngày 25 tháng 1 năm 1994.
  • 2014Khởi công vườn kinh đá
    Báo An Giang ghi vườn kinh Pháp Cú khởi công ngày 25 tháng 3 năm 2014. Bài của phatgiao.org.vn ghi năm 2012.
Theo sử liệu

Chúng tôi chỉ ghi tên các vị trụ trì, không ghi chức vị. Về sau thầy trụ trì Thích Phước Cẩn là người đứng ra làm vườn kinh đá, công trình khiến chùa được biết tới rộng rãi trong những năm gần đây.

IIIChánh Điện Chữ Sơn, Tháp Đa Bảo Và Vườn Kinh Đá

Khuôn viên gồm chánh điện, trung điện, hậu tổ, tàng kinh các, hệ thống bảo tháp và vườn kinh đá, giữa nhiều cây cổ thụ. Chánh điện xây năm 1962 bằng bê tông, gạch, ngói và gỗ, theo lối kết hợp Đông Tây mà các chùa miền Tây thời ấy hay chọn. Mặt bằng các khối nhà ghép lại thành hình chữ sơn, ba nét dọc nối nhau bằng một nét ngang, mặt quay ra sông.

Bên trong, chùa còn giữ nhiều tượng gỗ và tượng gốm có từ ngôi chùa năm 1894, cùng hệ thống câu đối ca ngợi Phật và Bồ Tát. Chữ Hán ở đầu trang này là lối viết tên chùa do thư viện ghi theo nghĩa phước dày, chúng tôi chưa thấy tận mắt tấm hoành phi nên không khẳng định chữ Hậu trên biển chùa viết đúng như vậy.

Tháp Đa Bảo

Tháp ba tầng dựng năm 1966 dưới đời Hòa thượng Hoàn Phú, thờ xá lợi Đức Phật Thích Ca và các vị tổ.

Vườn kinh Pháp Cú

Các phiến đá khắc kinh Pháp Cú bằng chữ quốc ngữ, dịch từ tiếng Pali, xếp tỏa theo tám hướng như chiếc lá bồ đề, tượng trưng Bát Chánh Đạo.

Vườn kinh A Di Đà

31 phiến đá đặt dọc một dãy hồ nhỏ trồng sen hình chữ S, gợi hình đất Việt, kèm những hòn non bộ gợi núi Yên Tử, Thất Sơn.

Vườn Bắc truyền trích diễm

15 khối đá và cột đá lớn khắc chữ to những câu kinh Bắc truyền, làm năm 2016.

Hang đá

Hang đá thờ tượng Đức Phật thời tu khổ hạnh, cùng các bức chạm về lịch sử chùa và về Hòa thượng Thiện Hoa.

Vườn kinh đá và chỗ nguồn vênh

Vườn kinh đá do thầy trụ trì Thích Phước Cẩn làm sau một chuyến đi Myanmar, nơi thầy thấy các ngôi chùa khắc kinh lên đá. Khắc kinh lên đá là nếp có lâu đời ở nhiều xứ Phật Giáo nhưng hiếm ở chùa Việt, nên vườn kinh này là nét riêng của Phước Hậu.

Số liệu thì các nguồn không khớp. Báo An Giang ghi vườn Pháp Cú gồm 213 phiến khắc 423 câu, khởi công năm 2014. Bài của phatgiao.org.vn ghi 237 phiến khắc 473 bài, khởi công năm 2012, mỗi phiến 40 nhân 60 phân, phiến kinh Bắc truyền lớn hơn, 90 nhân 120 phân. Kinh Pháp Cú theo tạng Pali có 423 câu kệ, nên con số 423 của báo An Giang khớp với bản kinh. Chúng tôi ghi cả hai phía về số phiến và năm khởi công.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều chép trong văn bản hay văn bia của chùa. Nguồn chỉ ghi chánh điện dựng theo bố cục chữ sơn và nhìn ra sông Ba Sắc, không ghi việc chọn đất hay chọn hướng theo phép phong thủy. Chúng tôi ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Điều lớn nhất ở Phước Hậu là dòng sông. Sông Hậu đoạn qua Trà Ôn rộng và đầy, người xưa gọi là sông Ba Sắc hay Ba Thắc. Trong phép xem đất, nước trước mặt là thứ quan trọng nhất ở đồng bằng, gọi là thủy triều đường, nước chầu về chỗ ngồi. Một ngôi chùa quay mặt ra một con sông lớn như vậy là được cái thế hướng thủy đầy đủ nhất mà miền Tây có thể cho.

Phía sau không có núi. Bù lại, bố cục chữ sơn của các khối nhà tự tạo ra một hình núi bằng kiến trúc. Chữ sơn nghĩa là núi, ba nét dọc như ba ngọn, nét giữa cao nhất. Đặt các khối nhà theo hình ấy ở đồng bằng là lấy hình núi thay cho núi thật, một lối xử lý thế tựa mà thư viện gặp ở nhiều chùa Nam Bộ. Tháp Đa Bảo và hàng cây cổ thụ phía sau giữ thêm phần lưng.

Cuối cùng là vườn kinh đá. Đá là thứ hiếm ở đồng bằng phù sa. Đem đá về dựng thành vườn, xếp theo hình lá bồ đề tám hướng, theo lối cổ truyền là đặt thêm những điểm trấn nặng và bền vào một nền đất mềm. Còn theo ý người làm vườn, đá là để kinh ở lại lâu, lâu hơn giấy và gỗ. Hai cách đọc không trái nhau, cùng nói về một mong muốn giữ cho bền.

VLễ Trong Năm

Phước Hậu giữ lịch lễ của một tổ đình Bắc Tông miền Tây, tính theo âm lịch. Các nguồn chúng tôi đọc không ghi ngày giỗ tổ cụ thể của các vị trụ trì, nên bảng dưới chỉ nêu những lễ chắc chắn và dòng giỗ tổ được ghi chung.

Các lễ chính theo nếp tổ đình Bắc Tông miền Tây. Nguồn: Nếp lễ chung của chùa Bắc Tông, ngày giỗ tổ cụ thể chưa có nguồn công bố.
Ngày âm lịchLễNội dung
Rằm tháng GiêngThượng nguyênLễ cầu an đầu năm, bà con quanh vùng sông Hậu về chùa đông
Rằm tháng TưPhật ĐảnLễ mừng ngày Đức Phật đản sinh
Rằm tháng BảyVu LanLễ báo hiếu và cầu siêu, chư tăng mãn mùa an cư
Ngày giỗ các vị tổGiỗ tổTưởng niệm các đời trụ trì từ Hòa thượng Hoằng Chỉnh

Ngoài ngày lễ, nhiều người về Phước Hậu để đi dạo vườn kinh đá và đọc kinh Pháp Cú trên đá. Đọc chậm từng phiến là một cách tụng kinh riêng của nơi này.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Ấp Đông Hậu, bên sông Hậu đối diện Trà Ôn, xã Ngãi Tứ (xã Ngãi Tứ cũ, huyện Tam Bình cũ), tỉnh Vĩnh Long
Đường tới
Chùa ở ấp Đông Hậu, xã Ngãi Tứ, trên đất huyện Tam Bình cũ, tỉnh Vĩnh Long, bên bờ sông Hậu đối diện thị trấn Trà Ôn cũ. Từ Trà Ôn qua sông hoặc đi đường bộ theo hướng Tam Bình cũ là tới.
Toạ độ
9.9701, 105.9137
Khi tới nơi

Phước Hậu là tổ đình đang có chư tăng tu học, nên lệ của chùa là lệ phải theo. Ăn mặc kín đáo, đi nhẹ nói khẽ trong chánh điện. Vườn kinh đá là kinh điển chứ không phải đồ trang trí, xin quý vị không ngồi lên phiến đá, không trèo lên các cột đá, không viết hay dán gì lên mặt kinh. Hỏi người trong chùa trước khi chụp ảnh bên trong chánh điện.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Phước Hậu

Contribute photos, information or video for Phuoc Hau Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

chùa phước hậu thuộc dòng nào

Theo đoạn lược sử của chùa, Phước Hậu thuộc Thiền phái Lâm Tế, dòng Chúc Thánh, truyền từ Hội An ra Quảng Ngãi rồi vào Trà Ôn. Đây là một mạch tư liệu duy nhất, được nhiều báo chép lại, thư viện chưa đối chiếu được bằng pháp danh các vị trụ trì hay văn bia.

ai lập chùa phước hậu

Năm 1894 ông Hương cả làng Đông Hậu là Lê Văn Gồng cùng con gái vận động dân làng dựng chùa, ban đầu gọi là chùa Đông Hậu. Một nguồn ghi tên ông là Lê Ngọc Đán, tục gọi Cả Gồng. Năm 1910 Hòa thượng Hoằng Chỉnh từ chùa Thiên Ấn về trụ trì và đổi tên thành Phước Hậu.

vườn kinh đá chùa phước hậu có gì

Có vườn kinh Pháp Cú khắc chữ quốc ngữ trên hơn hai trăm phiến đá xếp theo hình lá bồ đề tám hướng, vườn kinh A Di Đà 31 phiến bên hồ sen hình chữ S, và vườn Bắc truyền trích diễm 15 khối đá làm năm 2016. Số phiến Pháp Cú mỗi nguồn ghi một khác, 213 hoặc 237.

chùa phước hậu ở đâu

Ở ấp Đông Hậu, xã Ngãi Tứ, tỉnh Vĩnh Long, trên đất huyện Tam Bình cũ, bên bờ sông Hậu đối diện Trà Ôn. Người trong vùng quen gọi là chùa Phước Hậu Trà Ôn vì chùa nhìn sang thị trấn ấy qua dòng sông.

chùa phước hậu có phải di tích quốc gia không

Có. Chùa được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định 152-QĐ/BT ngày 25 tháng 1 năm 1994. Ngoài giá trị di tích, chùa còn được biết tới với tháp Đa Bảo năm 1966 và vườn kinh khắc đá do thầy trụ trì Thích Phước Cẩn thực hiện.

Đọc Tiếp