Đi dọc đường Kim Long về phía tây Kinh thành, bên bờ bắc sông Hương, quý vị sẽ gặp một cổng vào kín đáo và phía sau là một khu vườn rộng, cây lâu năm che gần hết các dãy nhà. Không có tháp chuông cao, không có quảng trường đón khách. Nếu đi vào lúc giữa buổi, quý vị chỉ thấy vài thanh niên mặc áo chùng đen hay áo sơ mi trắng đi qua sân, sách kẹp dưới tay, rồi mất hút vào một dãy lớp học.
Đây là Đại chủng viện Huế, nơi các thanh niên được gọi là chủng sinh sống chung nhiều năm để học triết học, thần học và tập sống đời linh mục. Nơi này không phải một nhà thờ để giáo dân tới dự lễ, cũng không phải một tu viện nơi người ta ở trọn đời. Nó là một ngôi trường có nhà nguyện ở giữa, và điều nó sản sinh ra là những người sẽ về coi sóc các giáo xứ khắp Huế, Đà Nẵng và Kontum.
IĐại Chủng Viện Là Gì Và Khác Nhà Thờ Giáo Xứ Ở Đâu
Người ngoài đạo đi qua các cơ sở Công giáo thường gộp tất cả vào một chữ nhà thờ. Thực ra mỗi nơi giữ một việc riêng. Nhà thờ giáo xứ là nơi một cộng đoàn giáo dân ở một vùng tới dự lễ, rửa tội con cái, cưới hỏi và đưa tiễn người qua đời, dưới sự coi sóc của một linh mục chánh xứ. Nhà thờ chính tòa là nhà thờ đặt ngai của vị giám mục. Còn đại chủng viện là nơi đào tạo chính những linh mục sẽ về coi sóc các giáo xứ ấy.
Vì thế sinh hoạt ở đây không xoay quanh giáo dân mà xoay quanh việc học và việc tập. Nhà nguyện trong khuôn viên trước hết là nơi cầu nguyện của cộng đoàn chủng viện: các chủng sinh, các linh mục giáo sư và ban giám đốc. Một ngày của chủng sinh chia giữa giờ kinh chung, giờ lên lớp, giờ học riêng, giờ lao động và giờ sinh hoạt cộng đoàn, lặp lại suốt nhiều năm.
Theo giáo huấn của Giáo hội Công giáo, việc đào tạo linh mục phải được làm trong một cộng đoàn riêng, có thời gian đủ dài để người trẻ được thử thách và phân định ơn gọi. Mô hình đại chủng viện hình thành từ Công đồng Trentô ở thế kỷ 16, khi Giáo hội quy định mỗi giáo phận phải có nơi đào tạo giáo sĩ của mình.
Tư liệu của trường tóm việc đào tạo trong bốn chiều kích: nhân bản, trí thức, tâm linh và mục vụ. Nhân bản là tập làm người trưởng thành, biết sống chung. Trí thức là các năm triết học và thần học. Tâm linh là đời cầu nguyện. Mục vụ là tập làm việc giữa giáo dân. Năm cuối được gọi là Năm Thử, khi chủng sinh ra thực tập mục vụ ở giáo xứ trước khi trở về hoàn tất chương trình.
Về tổ chức, Đại chủng viện Huế là nhà đào tạo chung của Tổng giáo phận Huế và hai giáo phận Đà Nẵng, Kontum. Mỗi giáo phận gửi chủng sinh của mình về đây, và khi mãn khóa, mỗi người trở về giáo phận đã gửi mình đi để được giám mục của giáo phận ấy truyền chức.
Theo tư liệu của trường, năm học 2025 tới 2026 có tổng cộng 170 chủng sinh, gồm 148 người nội trú và 22 người đang ở Năm Thử. Theo trang của Hội đồng Giám mục Việt Nam, từ khi mở lại năm 1994 tới khoảng năm 2018, trường đã góp phần đào tạo gần 250 linh mục.
Nhiều người đọc chữ Xuân Bích rồi tưởng đó là tên một vị thánh, tên một làng, hay tên người lập trường. Không phải. Xuân Bích là tên Việt của Hội Linh mục Saint-Sulpice, một hội chuyên đào tạo linh mục do cha Jean-Jacques Olier lập ở Pháp cuối năm 1641. Tư liệu của hội giải thích chữ Sulpice được phiên âm thành Xuân Bích, gợi từ câu xuân thảo bích sắc, cỏ mùa xuân màu biếc.
Cũng cần nói rõ: các linh mục Xuân Bích không phải tu sĩ một dòng tu. Theo tư liệu của hội, đây là một hiệp hội các linh mục giáo phận sống đời chung nhưng không có lời khấn dòng. Vì thế tên chính thức của trường hiện nay là Đại chủng viện Huế, còn tên Xuân Bích Huế là tên gọi quen của một giai đoạn.
IITừ Thợ Đúc Tới Phú Xuân
Tư liệu của trường kể một mạch đào tạo đổi chỗ nhiều lần từ thế kỷ 18, qua Thợ Đúc, Hòa Ninh, Di Loan, An Ninh, Dương Sơn, Kẻ Sen rồi Kim Long, trước khi yên ở Phú Xuân. Chúng tôi chỉ ghi các mốc dựng, dời và mở, theo đúng phần việc của một nhà đào tạo.
- 1740Trường Thánh Carôlô ở Thợ ĐúcĐức cha Elzéar des Achards de la Baume cho xây Trường Thánh Carôlô tại Thợ Đúc, cơ sở đào tạo sớm nhất mà tư liệu của trường nhắc tới. Trang của Hội đồng Giám mục ghi khoảng năm 1739 tới 1741.
- 1802Chủng viện An NinhChủng viện mở tại An Ninh, Quảng Trị, trên mảnh đất mà tư liệu của trường chép là món quà của vua Gia Long, và ở đó tới năm 1828.
- 1862Cạnh Tòa Giám mục ở Kim LongĐức cha Sohier, tên Việt là Bình, lập chủng viện cạnh Tòa Giám mục, đưa việc đào tạo về gần trung tâm của giáo phận.
- 1880Hình thành đại chủng việnĐức cha Antoine Caspar tới Huế ngày 19 tháng 9 năm 1880. Bảng của thư viện và bản lược sử của Hội Xuân Bích lấy năm này làm mốc lập thành đại chủng viện theo nghĩa riêng, tách khỏi các lớp học chung trước đó.
- 1888Dời về Phú XuânNgày 20 tháng 10 năm 1888, theo quyết định của Đức cha Caspar, cơ sở được chuyển sang Phú Xuân, bờ bắc sông Hương. Tên Đại chủng viện Phú Xuân được dùng từ đây.
- 1899Nhà nguyệnCha Izarn xây một ngôi nhà nguyện mà tư liệu của trường gọi là thanh lịch. Năm 1904 ngài xây thêm một ngôi nhà có tầng cho các giáo sư. Cả hai công trình còn đứng tới nay.
- 1962Hội Xuân Bích điều hànhTừ niên khóa 1962 tới 1963, các linh mục Hội Xuân Bích nhận điều hành, và trường mang tên quen gọi Đại chủng viện Xuân Bích Huế.
- 1994Mở cửa trở lạiNgày 21 tháng 9 năm 1994, dưới thời Đức Tổng giám mục Têphanô Nguyễn Như Thể, trường chính thức mở cửa trở lại và các linh mục Xuân Bích tiếp tục điều hành.
Có một chỗ chúng tôi ghi thẳng ra. Bảng của thư viện chép năm 1880 là năm lập thành đại chủng viện, và bản lược sử của Hội Xuân Bích cũng coi đây là năm cơ cấu đại chủng viện được thiết lập. Nhưng bản lịch sử trên trang của Tổng giáo phận Huế chỉ ghi 1880 là năm Đức cha Caspar tới nhận giáo phận, còn việc lập một đại chủng viện riêng là việc diễn ra sau đó. Hai cách ghi không trái nhau hẳn, nhưng quý vị nên hiểu 1880 là mốc mở đầu một giai đoạn hơn là ngày của một nghi thức thành lập.
Năm 2024, trường mừng 30 năm hoạt động trở lại, gắn với lễ bổn mạng Đức Mẹ Dâng Mình ngày 21 tháng 11.
IIIKhu Vườn, Nhà Nguyện Và Các Dãy Nhà
Kiến trúc của một đại chủng viện không đặt ra để gây ấn tượng với khách mà để phục vụ một nếp sống. Ở Huế, cái gốc của nếp ấy là một khu vườn rộng. Tư liệu của trường chép rằng theo dòng chữ khắc ở cổng vào, khu vườn xưa thuộc về trưởng nữ của vua Minh Mạng, trước khi Đức cha Caspar mua đất để lập tòa giám mục và các cơ sở của giáo phận.
Trong khu vườn ấy, các công trình xếp theo nhu cầu của đời sống chủng viện: nhà nguyện ở vị trí trung tâm, nhà giáo sư, các dãy nhà ở và lớp học. Hai công trình cổ nhất là nhà nguyện năm 1899 và nhà giáo sư năm 1904, cả hai do cha Izarn cho xây và đều còn tới nay.
Trái tim của chủng viện, nơi cả cộng đoàn đọc kinh chung và dâng thánh lễ mỗi ngày. Khác với nhà thờ giáo xứ, nó được dựng cho một cộng đoàn cố định vài trăm người chứ không cho đám đông giáo dân.
Ngôi nhà có tầng dành cho các linh mục giáo sư. Việc thầy và trò sống cùng một khuôn viên là nét căn bản của lối đào tạo Xuân Bích: người đào tạo sống cạnh người được đào tạo.
Nơi chủng sinh học triết học, thần học và sống nội trú. Sức chứa của các dãy nhà quyết định số chủng sinh mỗi khóa mà ba giáo phận có thể gửi về.
Phần đất lớn nhất trong khuôn viên, cây cối lâu năm, giữ cho chủng viện tách khỏi nhịp phố dù chỉ cách Kinh thành một quãng ngắn. Lao động chân tay trong vườn cũng là một phần của nếp sống chủng sinh.
Quý vị muốn xem một công trình Công giáo lớn của Huế về mặt kiến trúc thì nơi ấy là nhà thờ chính tòa Phủ Cam, nơi đặt ngai của vị tổng giám mục và là nơi cử hành các nghi lễ trọng của tổng giáo phận. Đại chủng viện là nhà đào tạo, và giá trị của nó nằm ở mạch người đã qua đây hơn là ở hình khối các dãy nhà.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong tư liệu của đại chủng viện. Công giáo không dạy phong thủy. Nhà thờ và nhà nguyện Công giáo xưa thường quay theo hướng phụng vụ, tức hướng đặt bàn thờ theo quy tắc cử hành, còn khu đất của một chủng viện được chọn theo nhu cầu đào tạo: đủ rộng để ở chung, đủ gần tòa giám mục, đủ yên để học. Những dòng dưới đây chỉ là chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt.
Điều đọc trước tiên là dòng sông. Khu đất nằm trên dải bờ bắc sông Hương, phía tây Kinh thành, trên con đường Kim Long dẫn lên phía chùa Thiên Mụ. Trong phép xem đất, nước chảy chậm và uốn ở phía trước là thủy tụ, chủ về sự lắng đọng. Sông Hương ở quãng này chảy êm, rộng, không xiết, hợp với một nơi mà việc chính là học và cầu nguyện.
Thứ hai là khu vườn. Đất vườn cũ của hoàng tộc ở Kim Long vốn được chọn vì cao ráo, ít ngập, cây cối tốt. Con mắt cổ truyền gọi một khu đất đã nhiều đời được chọn cho việc ở và việc tĩnh dưỡng là đất đã thuần, tức đất người đã ở lâu mà vẫn yên. Chúng tôi ghi đúng như một cách đọc, và dừng ở đó.
Thứ ba là khoảng cách. Chủng viện đủ gần trung tâm giáo phận để các linh mục giáo sư đi lại, nhưng đủ tách khỏi phố để giữ được nếp sống riêng. Người xưa gọi thế ấy là cận thị nhi tĩnh, gần chợ mà vẫn yên. Chúng tôi không có tư liệu về hướng la bàn chính xác của nhà nguyện năm 1899, nên không đọc hướng cụ thể, chỉ đọc thế đất chung của cả khu.
VNăm Học Và Những Ngày Riêng
Nhịp năm của một đại chủng viện vừa theo lịch phụng vụ của Giáo hội vừa theo lịch của một năm học. Bảng dưới ghi những ngày cố định hoặc những dịp lặp lại hằng năm, không ghi giờ giấc.
| Thời điểm | Dịp | Nội dung |
|---|---|---|
| Đầu năm học, thường vào tháng 9 | Khai giảng | Chủng sinh các lớp trở về, chủng sinh mới được đón nhận. Ngày 21 tháng 9 cũng là ngày trường mở cửa trở lại năm 1994. |
| 21 tháng 11 | Lễ Đức Mẹ Dâng Mình vào Đền Thờ | Lễ bổn mạng của đại chủng viện và cũng là ngày truyền thống của Hội Xuân Bích, khi các cựu chủng sinh họp mặt. |
| Chúa Nhật thứ tư mùa Phục Sinh | Chúa Nhật Chúa Chiên Lành | Ngày Giáo hội hoàn vũ cầu nguyện cho ơn gọi linh mục và tu sĩ, ngày có ý nghĩa riêng với một nhà đào tạo. |
| Cuối năm học | Bế giảng và lãnh tác vụ | Chủng sinh các lớp nhận các tác vụ theo từng chặng. Việc truyền chức phó tế và linh mục do giám mục của từng giáo phận cử hành, thường tại nhà thờ chính tòa. |
Ngày trọng nhất với một chủng sinh không diễn ra ở chủng viện. Đó là ngày chịu chức, cử hành ở nhà thờ chính tòa hay ở một nhà thờ do giáo phận chọn, trước đông đảo giáo dân. Chủng viện là nơi chuẩn bị, còn giáo phận là nơi đón nhận. Hiểu điều ấy thì hiểu vì sao nơi này yên lặng hơn hẳn mọi nhà thờ khác quanh Huế.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 30 Kim Long, phường Kim Long (phường Kim Long cũ), thành phố Huế
- Đường tới
- Đại chủng viện ở số 30 Kim Long, phường Kim Long, thành phố Huế, trên con đường dọc bờ bắc sông Hương phía tây Kinh thành, trước khi tới chùa Thiên Mụ.
- Toạ độ
- 16.4599, 107.5668
Đại chủng viện là nhà đào tạo và là nơi ở nội trú, không mở cửa như một điểm tham quan. Lệ của nơi ấy là khách muốn vào phải xin phép ở cổng, chỉ đi trong phạm vi được chỉ dẫn, không vào khu nhà ở và lớp học, và giữ yên lặng vì chủng sinh đang học hay đang cầu nguyện. Chụp ảnh chủng sinh cần hỏi trước.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đại chủng viện Huế
Contribute photos, information or video for Hue Major SeminaryThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đại chủng viện Huế ở đâu
Đại chủng viện ở số 30 Kim Long, phường Kim Long, thành phố Huế, trên dải bờ bắc sông Hương phía tây Kinh thành. Trường đặt ở khu vực Phú Xuân từ ngày 20 tháng 10 năm 1888, khi Đức cha Antoine Caspar quyết định dời cơ sở về đây.
Đại chủng viện Xuân Bích Huế là gì
Là tên gọi quen của Đại chủng viện Huế trong giai đoạn từ niên khóa 1962, khi các linh mục Hội Xuân Bích nhận điều hành. Xuân Bích là tên Việt của Hội Linh mục Saint-Sulpice bên Pháp. Tên chính thức hiện nay là Đại chủng viện Huế.
Đại chủng viện khác nhà thờ giáo xứ thế nào
Nhà thờ giáo xứ là nơi giáo dân một vùng tới dự lễ và nhận các bí tích. Đại chủng viện là nơi đào tạo linh mục: chủng sinh sống nội trú nhiều năm, học triết học, thần học và tập mục vụ. Nhà nguyện trong chủng viện trước hết dành cho cộng đoàn chủng viện.
Đại chủng viện Huế đào tạo cho giáo phận nào
Trường đào tạo linh mục cho Tổng giáo phận Huế và hai giáo phận Đà Nẵng, Kontum. Năm học 2025 tới 2026 có 170 chủng sinh, gồm 148 người nội trú và 22 người đang ở Năm Thử, tức năm thực tập mục vụ tại giáo xứ.
Đại chủng viện Huế mở lại năm nào
Trường chính thức mở cửa trở lại ngày 21 tháng 9 năm 1994, dưới thời Đức Tổng giám mục Têphanô Nguyễn Như Thể, và các linh mục Hội Xuân Bích tiếp tục điều hành. Năm 2024 trường mừng 30 năm hoạt động trở lại.