Rẽ khỏi đường làng Liễu Cốc Thượng, đi qua mấy mảnh vườn và một vạt đất trũng mà người trong làng gọi là Bàu Tháp, quý vị sẽ gặp hai khối gạch đỏ sẫm đứng sát nhau, cả hai đều đã mất phần mái, thân tường sứt mẻ, rễ cây bám vào từng mạch gạch. Quanh chân tháp là những hố khai quật đã lấp lại, còn thấy dấu ranh đất mới đất cũ. Không có bàn thờ, không có người trông lễ, chỉ có gió từ cánh đồng thổi qua hai lòng tháp trống.
Đây là tháp Liễu Cốc, người trong vùng quen gọi là tháp đôi Liễu Cốc, một phế tích đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm trên đất bắc Champa cũ. Điều khiến giới khảo cổ chú ý là cả hai khối đều là tháp thờ chính, dựng cạnh nhau trong cùng một khu đền. Đợt khai quật năm 2024 còn đưa niên đại công trình lùi về khoảng cuối thế kỷ 9, sớm hơn cách ước đoán trước đó chừng một thế kỷ.
INgôi Đền Chưa Rõ Thần Chủ
Câu người ta hỏi đầu tiên khi tới một tháp Chăm là tháp thờ ai. Với Liễu Cốc, câu trả lời trung thực là chưa định được. Các nguồn chúng tôi đã tra, gồm các bản tin về hai đợt khai quật và hồ sơ giới thiệu di tích, không ghi việc tìm thấy linga, bệ yoni hay một pho tượng thần nằm đúng vị trí thờ gốc trong lòng tháp. Không có bia khởi dựng. Vì vậy thư viện không ghi tháp này thờ Shiva, dù phần lớn đền tháp Chăm được biết tới là đền thờ Shiva.
Những gì chắc chắn thì ít nhưng rõ. Đây là một khu đền của người Chăm, dựng theo lối kalan, tức mỗi tháp là một ngôi đền kín có lòng hẹp để đặt vật thờ. Tới nay nơi này là phế tích không còn thờ: không có cộng đồng Chăm nào hành lễ tại chỗ, và cũng không có lớp thờ tự của người Việt đè lên như ở một số tháp Chăm khác.
Theo giáo nghĩa Ấn Độ Giáo mà người Chăm tiếp nhận, ngôi đền là nơi thần hiện diện qua vật thờ, và tháp là hình ảnh thu nhỏ của núi thiêng trung tâm vũ trụ. Một khu đền thường có một tháp thờ chính, chung quanh là tháp cổng, nhà giữ lễ vật và các công trình phụ. Hai tháp thờ chính đứng cạnh nhau là điều ít gặp, và chính chỗ ít gặp ấy làm giới nghiên cứu phải dè dặt: hai tháp có thể thờ hai vị khác nhau, hoặc một vị dưới hai dạng, hoặc dựng ở hai thời điểm. Khi chưa có vật thờ và văn khắc thì mọi cách đọc đều còn ở dạng giả thiết.
Đợt khai quật từ cuối tháng 4 tới tháng 6 năm 2024, do Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế cũ phối hợp với Bảo tàng Lịch sử quốc gia thực hiện, thu được hơn 4.800 tiêu bản, gồm vật liệu kiến trúc, phù điêu đá, đồ gốm và một đồng tiền kim loại thế kỷ 13. Chi tiết được nhắc nhiều nhất là một đầu phù điêu Phật bằng đá phiến xám tím, được xếp vào khoảng thế kỷ 11 tới 12.
Niên đại của đầu tượng muộn hơn niên đại dựng tháp chừng hai thế kỷ. Cách đọc thận trọng nhất là coi đó như dấu vết Phật Giáo từng có mặt ở khu đền về sau, chứ không coi đó là bằng chứng rằng tháp được dựng để thờ Phật. Người Chăm trong lịch sử có cả Ấn Độ Giáo lẫn Phật Giáo Đại Thừa, và việc hai dòng ấy cùng để lại dấu vết trên một khu đất thờ không phải chuyện lạ, nhưng ở Liễu Cốc thì các nguồn chưa giải thích thêm.
Chỗ hay hiểu lầm thứ nhất: thấy tin tìm được đầu tượng Phật, nhiều người suy ra tháp Liễu Cốc là tháp Phật Giáo. Các nguồn không nói như vậy. Đầu tượng là một hiện vật giữa hàng nghìn tiêu bản, có niên đại muộn hơn công trình, và không nằm ở vị trí thờ chính.
Chỗ thứ hai: tên tháp đôi dễ làm người ta nghĩ tới tháp Đôi ở Quy Nhơn. Hai nơi khác nhau hoàn toàn về vùng đất, niên đại và kiểu thức. Chữ đôi ở đây chỉ nói số lượng tháp thờ chính trong khu đền.
IITừ Bàu Tháp Tới Hai Đợt Khai Quật
Liễu Cốc không có bia khởi dựng, nên mọi con số niên đại ở đây đều đến từ khảo cổ và so sánh kiến trúc. Và ở chỗ này nguồn vênh nhau, chúng tôi ghi đủ. Theo kết quả khai quật năm 2024 do TS Phan Thanh Hải công bố trên báo Tiền Phong, tháp có niên đại khoảng cuối thế kỷ 9, sớm hơn niên đại ước đoán trước đó chừng một thế kỷ. Báo Dân trí lại ghi khả năng cuối thế kỷ 8 hoặc đầu thế kỷ 9. Hai con số không trùng nhau, và cả hai đều là khoảng ước định chứ không phải một năm cụ thể.
Về vùng đất, Liễu Cốc thuộc phần bắc Champa. Các nguồn đã tra không ghi khu đền thuộc tiểu quốc nào, nên thư viện không gán tên tiểu quốc cho nơi này.
- Cuối thế kỷ 9Dựng khu đềnNiên đại theo kết quả khai quật năm 2024. Một nguồn khác ghi khả năng cuối thế kỷ 8 hoặc đầu thế kỷ 9.
- Thế kỷ 11 tới 12Dấu vết Phật GiáoNiên đại của đầu phù điêu Phật bằng đá phiến xám tím tìm được trong lòng đất khu đền, muộn hơn niên đại dựng tháp.
- Thế kỷ 13Đồng tiền kim loạiMột đồng tiền kim loại thế kỷ 13 nằm trong số hiện vật khai quật, cho thấy khu đất còn có người qua lại ở thời kỳ này.
- 1994Di tích quốc giaĐược xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
- 2024Khai quật lần thứ nhấtTừ cuối tháng 4 tới tháng 6, thu hơn 4.800 tiêu bản, xác định rõ mặt bằng tháp Bắc.
- 2025Khai quật lần thứ haiTừ giữa tháng 5 tới cuối tháng 6, nhằm làm rõ quy mô móng tháp Bắc, tháp Nam và giới hạn tường bao. Báo Pháp Luật TP HCM ghi đợt này thu thêm hơn 9.000 tiêu bản và mảnh hiện vật.
Về tình trạng công trình, cả hai tháp đều bị hư hại nặng, mất mái và nhiều mảng tường. Dù vậy, báo Pháp Luật TP HCM ghi đây vẫn là cụm di tích Chăm được đánh giá còn giữ tốt nhất trong các di tích Chăm quanh Huế. Hai nhận định ấy không mâu thuẫn: các di tích Chăm khác trong vùng phần lớn chỉ còn nền móng hoặc gò gạch vụn, nên hai khối tường còn đứng ở Liễu Cốc đã là nhiều.
Về địa danh, di tích trước thuộc phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, nay đều là đơn vị cũ. Theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15, Hương Xuân được gộp cùng Hương Chữ và Hương Toàn thành phường Kim Trà, thành phố Huế.
IIIHai Tháp Thờ Chính Trong Một Khu Đền
Điều làm Liễu Cốc khác các khu đền Chăm khác không nằm ở chạm khắc, vì phần trang trí gần như đã mất, mà nằm ở mặt bằng. Các nhà khảo cổ cho rằng đây có thể là di tích duy nhất trong hệ thống đền tháp Champa có hai tháp thờ chính đứng cạnh nhau. Chữ có thể là của chính nguồn tin, và chúng tôi giữ nguyên, vì hệ thống đền tháp Champa còn nhiều nơi chưa khai quật hết.
Báo Dân trí gọi kỹ thuật dựng tháp ở đây là thuộc giai đoạn chuyển tiếp trong kỹ thuật dựng đền tháp. Các nguồn đã tra không gắn khu đền với một tên phong cách cụ thể trong hệ phân loại nghệ thuật Chăm, nên thư viện không tự đặt tên phong cách cho nó.
Đợt khai quật năm 2024 xác định rõ mặt bằng của tháp này. Thân tháp còn đứng, mất mái, tường nhiều chỗ sứt vỡ.
Đứng cạnh tháp Bắc, cùng là tháp thờ chính. Quy mô móng là một trong những mục tiêu của đợt khai quật thứ hai năm 2025.
Dấu vết tường bao khu đền được khảo sát trong đợt khai quật năm 2025 để tìm giới hạn của khu thờ tự.
Các mảnh phù điêu đá và vật liệu kiến trúc thu trong lòng đất cho biết khu đền từng có trang trí bằng đá, nay không còn gắn trên thân tháp.
Muốn nhìn ra dấu vết thời đại khi đứng trước hai khối tháp đã mất trang trí, quý vị có thể để ý ba chỗ. Thứ nhất là viên gạch: gạch Chăm xếp khít, mạch gần như không thấy vữa, và ở những mảng tường còn nguyên thì vẫn đọc được lối xây ấy. Thứ hai là độ dày tường so với lòng tháp: tường dày, lòng hẹp, đúng lối kalan dành chỗ cho vật thờ chứ không cho đám đông. Thứ ba là khoảng cách giữa hai tháp: hai khối đặt gần, ngang hàng, không có tháp nào lấn tháp nào, cho thấy người dựng coi hai ngôi ngang vai nhau.
Để thấy một khu đền Chăm còn đủ nếp và còn trang trí, quý vị nên đối chiếu với thánh địa Mỹ Sơn. Liễu Cốc đáng xem ở chỗ khác: nó cho thấy một khu đền trơ ra phần xương, nơi khảo cổ đang từng mùa ghép lại hình hài ban đầu.
IVThế Đất Và Hướng
Người Chăm dựng đền theo lệ của Ấn Độ Giáo chứ không theo phong thủy. Lệ ấy khá nhất quán: cửa chính của tháp thường quay về hướng Đông, nơi mặt trời mọc, tháp đặt trên chỗ đất cao như gò hay đồi, và khu đền gắn với ý niệm núi thiêng cùng nguồn nước. Riêng ở Liễu Cốc, các nguồn chúng tôi đã tra không ghi hướng cửa của từng tháp, nên thư viện không khẳng định. Đoạn dưới là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền của người Việt, đặt cạnh lệ Ấn Độ Giáo để quý vị so, không phải điều chép trong văn bản nào về khu đền, và hai hệ ấy khác nhau từ gốc.
Điều đầu tiên người quen xem đất sẽ để ý là cái tên Bàu Tháp. Bàu là chỗ đất trũng đọng nước. Theo lối cổ truyền, nước đọng trước nơi thờ là nước tụ, giữ khí lại chứ không cho tán đi. Người Chăm có lẽ không nghĩ theo lối ấy, nhưng việc đền của họ gắn với nguồn nước lại gặp đúng chỗ phong thủy Á Đông coi trọng. Hai lý khác nhau cùng dẫn tới một mảnh đất có nước.
Thứ hai là vị trí giữa đồng bằng sông Hương và vùng gò phía bắc. Liễu Cốc nằm cách trung tâm Huế chừng 11 cây số về phía bắc, trên phần đất chuyển từ đồng thấp lên vùng gò đồi. Theo mắt phong thủy, chỗ chuyển thế ấy là chỗ đất bắt đầu có lưng, phía sau cao, phía trước thấp dần về đồng. Đọc như vậy thì khu đền ngồi đúng ở mép một thế tựa, dù không có ngọn núi lớn nào kề sát.
Thứ ba là hai tháp ngang vai. Phong thủy người Việt quen đọc công trình theo trục giữa, một chính hai phụ. Hai khối ngang nhau không có khối giữa là bố cục lạ với con mắt ấy, và nó nhắc quý vị rằng người dựng tháp theo một phép khác: mỗi tháp là một ngôi đền trọn vẹn, không phải một cánh của ngôi nhà chung.
Cuối cùng là quan hệ với Huế về sau. Chùa Thiên Mụ trên đồi Hà Khê cách đây chừng 6,8 cây số. Người Việt khi chọn đồi dựng chùa đã nhìn đất bằng phép của mình, người Chăm nhiều thế kỷ trước chọn gò dựng đền bằng phép của họ. Hai lớp chọn đất nằm gần nhau trên cùng một vùng, và điều đáng ghi là cả hai đều tìm tới chỗ đất cao bên nguồn nước.
VDấu Vết Thờ Tự Dưới Lòng Đất
Liễu Cốc không còn lễ Chăm. Không có cộng đồng Chăm Bàlamôn nào về đây hành lễ, và các nguồn đã tra không ghi một lễ hội nào gắn với tháp. Vì vậy phần này không kể lịch lễ mà ghi những dấu vết thờ tự đã được khai quật, và điều mỗi dấu vết cho biết về đời sống của khu đền qua các thế kỷ.
| Hiện vật | Niên đại | Điều nó cho biết |
|---|---|---|
| Vật liệu kiến trúc và gạch tháp | Cuối thế kỷ 9, theo kết quả khai quật | Lớp dựng đền gốc, kỹ thuật được xếp vào giai đoạn chuyển tiếp của lối dựng đền tháp. |
| Phù điêu đá | Cùng lớp với khu đền, nguồn không ghi cụ thể | Khu đền từng có trang trí bằng đá, nay tách khỏi thân tháp và vùi trong đất. |
| Đồ gốm | Nhiều lớp, nguồn không ghi cụ thể | Dấu vết sinh hoạt và dâng cúng quanh khu đền. |
| Đầu phù điêu Phật bằng đá phiến xám tím | Thế kỷ 11 tới 12 | Dấu vết Phật Giáo có mặt ở khu đền về sau, muộn hơn lớp dựng tháp. |
| Đồng tiền kim loại | Thế kỷ 13 | Khu đất còn có người qua lại ở thời kỳ muộn. |
Muốn thấy một đền tháp Chăm còn lễ, còn người hành lễ, quý vị có thể đọc bài tháp Po Klong Garai, nơi người Chăm Bàlamôn vẫn mở cửa tháp làm lễ Katê mỗi năm. Liễu Cốc thuộc lớp khác: một khu đền đã ngừng thờ từ lâu, mà câu chuyện của nó giờ do các lớp đất kể lại.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Khu Bàu Tháp, làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà (phường Hương Xuân cũ, thị xã Hương Trà cũ), thành phố Huế. Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15 gộp Hương Xuân, Hương Chữ, Hương Toàn thành phường Kim Trà. Cách trung tâm Huế chừng 11 km về phía bắc
- Đường tới
- Khu Bàu Tháp, làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, thành phố Huế, cách trung tâm Huế chừng 11 cây số về phía bắc.
- Toạ độ
- 16.5081, 107.5165
Đây là phế tích khảo cổ, không phải nơi hành lễ, lệ của nơi này là lệ giữ đất và giữ gạch. Không trèo lên thân tháp, không bước xuống các hố khai quật hay lấy mảnh gạch, mảnh gốm làm kỷ niệm. Khi khu vực đang khai quật thì đứng ngoài ranh giới đã căng dây. Nếu có lệ thắp hương thì chỉ thắp ở chỗ người trông coi bố trí, không cắm vào khe gạch.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tháp Liễu Cốc
Contribute photos, information or video for Lieu Coc Twin Cham TowersThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tháp Liễu Cốc thờ ai
Chưa định được. Các nguồn đã tra không ghi việc tìm thấy linga, yoni hay tượng thần ở vị trí thờ gốc, cũng không có bia khởi dựng. Tháp là đền của người Chăm theo lối Ấn Độ Giáo, nhưng thư viện không khẳng định thần chủ là Shiva khi chưa có bằng chứng tại chỗ.
Tháp đôi Liễu Cốc có niên đại bao nhiêu năm
Theo kết quả khai quật năm 2024 do TS Phan Thanh Hải công bố, tháp có niên đại khoảng cuối thế kỷ 9. Báo Dân trí ghi khả năng cuối thế kỷ 8 hoặc đầu thế kỷ 9. Hai nguồn vênh nhau, và cả hai đều là khoảng ước định chứ không có bia ghi năm dựng.
Tháp Liễu Cốc có phải tháp Phật Giáo không
Không có căn cứ để nói vậy. Đầu phù điêu Phật tìm được trong đợt khai quật năm 2024 có niên đại thế kỷ 11 tới 12, muộn hơn tháp chừng hai thế kỷ, nên được hiểu là dấu vết Phật Giáo có mặt ở khu đền về sau chứ không cho biết tháp dựng để thờ Phật.
Tháp Liễu Cốc ở đâu
Tháp ở khu Bàu Tháp, làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, thành phố Huế, cách trung tâm Huế chừng 11 cây số về phía bắc. Trước đây nơi này thuộc phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, nay đều là đơn vị cũ.
Vì sao gọi là tháp đôi
Vì khu đền có hai tháp thờ chính đứng cạnh nhau, không phải một tháp chính với tháp phụ. Các nhà khảo cổ cho rằng đây có thể là di tích duy nhất trong hệ thống đền tháp Champa có bố cục như vậy. Tên này không liên quan tới tháp Đôi ở Quy Nhơn.