Rẽ khỏi đường làng Liễu Cốc Thượng, đi qua mấy mảnh vườn và một vạt đất trũng mà người trong làng gọi là Bàu Tháp, quý vị sẽ gặp hai khối gạch đỏ sẫm đứng sát nhau, cả hai đều đã mất phần mái, thân tường sứt mẻ, rễ cây bám vào từng mạch gạch. Quanh chân tháp là những hố khai quật đã lấp lại, còn thấy dấu ranh đất mới đất cũ. Không có bàn thờ, không có người trông lễ, chỉ có gió từ cánh đồng thổi qua hai lòng tháp trống.
Đây là tháp Liễu Cốc, người trong vùng quen gọi là tháp đôi Liễu Cốc, một phế tích đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm trên đất bắc Champa cũ. Điều khiến giới khảo cổ chú ý là cả hai khối đều là tháp thờ chính, dựng cạnh nhau trong cùng một khu đền. Đợt khai quật năm 2024 còn đưa niên đại công trình lùi về khoảng cuối thế kỷ 9, sớm hơn cách ước đoán trước đó chừng một thế kỷ.

INgôi Đền Chưa Rõ Thần Chủ
Câu người ta hỏi đầu tiên khi tới một tháp Chăm là tháp thờ ai. Với Liễu Cốc, câu trả lời trung thực là chưa định được. Các nguồn thư viện đã tra, gồm các bản tin về hai đợt khai quật và hồ sơ giới thiệu di tích, cho biết chưa tìm thấy một bộ linga, bệ yoni hay pho tượng thần nguyên vẹn nằm đúng vị trí thờ gốc trong lòng tháp. Đợt khai quật thứ hai năm 2025 có thu được hai mảnh đá nghi thuộc bệ yoni và một mảnh nghi thuộc linga trong tầng đất khảo cổ, nhưng các mảnh rời này chưa đủ để khẳng định vật thờ chính và khu đền cũng không còn bia khởi dựng nguyên vẹn. Vì vậy thư viện không ghi khẳng định tháp này thờ Shiva, dù phần lớn đền tháp Chăm được biết tới là đền thờ Shiva và có nhiều mảnh đá tạc đầu bò thần Nandin quanh tháp.
Những gì chắc chắn thì ít nhưng rõ. Đây là một khu đền của người Chăm, dựng theo lối kalan, tức mỗi tháp là một ngôi đền kín có lòng hẹp để đặt vật thờ. Tới nay nơi này là phế tích không còn thờ, không có cộng đồng Chăm nào hành lễ tại chỗ, và cũng không có lớp thờ tự của người Việt đè lên như ở một số tháp Chăm khác.
Theo giáo nghĩa Ấn Độ Giáo mà người Chăm tiếp nhận, ngôi đền là nơi thần hiện diện qua vật thờ, và tháp là hình ảnh thu nhỏ của núi thiêng trung tâm vũ trụ. Một khu đền thường có một tháp thờ chính, chung quanh là tháp cổng, nhà giữ lễ vật và các công trình phụ. Hai tháp thờ chính đứng cạnh nhau là điều ít gặp, và chính chỗ ít gặp ấy làm giới nghiên cứu phải dè dặt, vì hai tháp có thể thờ hai vị khác nhau, hoặc một vị dưới hai dạng, hoặc dựng ở hai thời điểm nối tiếp. Khi chưa có vật thờ nguyên vị và văn khắc hoàn chỉnh thì mọi cách đọc đều còn ở dạng giả thiết.
Đợt khai quật lần thứ nhất từ cuối tháng 4 tới đầu tháng 6 năm 2024 trên diện tích hơn 80 mét vuông, do Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế cũ phối hợp với Bảo tàng Lịch sử quốc gia thực hiện theo Quyết định 898/QĐ-BVHTTDL, thu được 4.807 tiêu bản. Số này gồm 3.936 tiêu bản vật liệu kiến trúc, 50 mảnh trang trí góc bằng đá sa thạch tạo hình đầu bò thần Nandin, 3 mảnh bia đá khắc chữ Phạn thế kỷ 10, 3 bình vôi Champa thế kỷ 9 tới 11 và một đồng tiền kim loại tròn lỗ vuông đúc bốn chữ Nguyên Phong thông bảo có niên đại thế kỷ 13. Chi tiết được nhắc nhiều là một đầu phù điêu Phật bằng đá phiến xám tím cao 20 xăng ti mét, rộng 15 xăng ti mét, dày 10 xăng ti mét, được VOV và Dân Việt xếp vào khoảng thế kỷ 11 tới 12, trong khi VTV ghi thế kỷ 10 tới 11.
Niên đại của đầu tượng muộn hơn niên đại dựng tháp từ một tới hai thế kỷ. Cách đọc thận trọng là coi đó như dấu vết Phật Giáo từng có mặt ở khu đền về sau, chứ không coi đó là bằng chứng rằng tháp được dựng để thờ Phật. Người Chăm trong lịch sử có cả Ấn Độ Giáo lẫn Phật Giáo Đại Thừa, và việc hai dòng ấy cùng để lại dấu vết trên một khu đất thờ không phải chuyện lạ, nhưng ở Liễu Cốc thì các nguồn chưa giải thích thêm.
Chỗ hay hiểu lầm thứ nhất là thấy tin tìm được đầu tượng Phật, nhiều người suy ra tháp Liễu Cốc là tháp Phật Giáo. Các nguồn không nói như vậy. Đầu tượng là một hiện vật giữa hàng nghìn tiêu bản, có niên đại muộn hơn công trình, và không nằm ở vị trí thờ chính.
Chỗ thứ hai là tên tháp đôi dễ làm người ta nghĩ tới tháp Đôi ở Quy Nhơn. Hai nơi khác nhau hoàn toàn về vùng đất, niên đại và kiểu thức. Chữ đôi ở đây chỉ nói số lượng tháp thờ chính trong khu đền.
IITừ Bàu Tháp Tới Hai Đợt Khai Quật
Liễu Cốc không còn bia khởi dựng nguyên vẹn, chỉ mới tìm được 10 mảnh bia đá sa thạch khắc chữ Phạn thế kỷ 10 qua hai đợt đào, nên các con số niên đại ở đây đều đến từ khảo cổ và so sánh kiến trúc. Ở chỗ này nguồn vênh nhau, thư viện ghi đủ cả các bên. Theo kết quả khai quật năm 2024 và 2025 trên VOV, Dân Việt và VTV, khu đền tháp được dựng vào khoảng cuối thế kỷ 9 tới đầu thế kỷ 10, sớm hơn niên đại ước đoán trước đó chừng một thế kỷ. Báo Dân trí lại ghi khả năng cuối thế kỷ 8 hoặc đầu thế kỷ 9. Hai khoảng niên đại đều là ước định khảo cổ chứ không phải một năm cụ thể.
Về vùng đất, Liễu Cốc thuộc phần bắc Champa. Các nguồn đã tra không ghi khu đền thuộc tiểu quốc nào, nên thư viện không gán tên tiểu quốc cho nơi này.
- Cuối thế kỷ 9Dựng khu đềnNiên đại theo kết quả khai quật năm 2024 và 2025, trong đó tháp Bắc dựng trước và tháp Nam dựng sau khoảng 10 tới 20 năm. Một nguồn khác ghi khả năng cuối thế kỷ 8 hoặc đầu thế kỷ 9.
- Thế kỷ 11 tới 12Dấu vết Phật GiáoNiên đại của đầu phù điêu Phật bằng đá phiến xám tím theo VOV và Dân Việt (VTV ghi thế kỷ 10 tới 11), muộn hơn lớp dựng tháp ban đầu.
- Thế kỷ 13Đồng tiền Nguyên Phong thông bảoMột đồng tiền kim loại tròn lỗ vuông đúc chữ Nguyên Phong thông bảo thế kỷ 13 nằm trong số hiện vật khai quật, cho thấy khu đất còn có người qua lại ở thời kỳ này.
- 1926 và 1994Xếp hạng di tíchNăm 1926 được Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) xếp vào danh mục cổ tích Đông Dương. Ngày 20 tháng 7 năm 1994 được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định 921/QĐ-BT.
- 2024Khai quật lần thứ nhấtTừ cuối tháng 4 tới đầu tháng 6 trên diện tích hơn 80 mét vuông, thu 4.807 tiêu bản, làm lộ toàn bộ mặt bằng móng tháp Bắc, vị trí tháp Cổng, tháp Hỏa, tường bao phía đông và đường đi nối hai tháp.
- 2025Khai quật lần thứ haiTheo Quyết định 1064/QĐ-BVHTTDL ngày 17 tháng 4 năm 2025, mở 60 mét vuông hố khai quật và 6 mét vuông hố thăm dò từ giữa tháng 5 tới cuối tháng 6, thu 9.380 tiêu bản và mảnh hiện vật, làm rõ thêm quy mô móng tháp Nam và tường bao.
Về tình trạng công trình, cả hai tháp đều bị hư hại nặng, mất mái và nhiều mảng tường. Dù vậy, báo Pháp Luật TP HCM ghi đây vẫn là cụm di tích Chăm được đánh giá còn giữ tốt trong các di tích Chăm quanh Huế. Hai nhận định ấy không mâu thuẫn vì các di tích Chăm khác trong vùng phần lớn chỉ còn nền móng hoặc gò gạch vụn, nên hai khối tường còn đứng ở Liễu Cốc đã là nhiều.
Về địa danh, di tích trước thuộc phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, nay đều là đơn vị cũ. Theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15 năm 2025, Hương Xuân được gộp cùng Hương Chữ và Hương Toàn thành phường Kim Trà, thành phố Huế.
IIIHai Tháp Thờ Chính Trong Một Khu Đền
Điều làm Liễu Cốc khác các khu đền Chăm khác không nằm ở chạm khắc trên tường, vì phần trang trí gắn trên thân tháp gần như đã rụng, mà nằm ở mặt bằng. Các nhà khảo cổ cho rằng đây là di tích hiếm hoi trong hệ thống đền tháp Champa ở Việt Nam có hai đền tháp thờ chính nằm song song, trong khi các cụm tháp Chăm thường có một hoặc ba tháp chính. Qua hai đợt đào, đoàn khảo cổ xác định tháp Bắc được xây dựng trước, còn tháp Nam được xây sau khoảng 10 tới 20 năm với quy mô móng lớn hơn tháp Bắc khoảng 0,4 mét và tịnh tiến lệch về phía đông khoảng 0,2 mét.
Báo Dân trí gọi kỹ thuật dựng tháp ở đây là thuộc giai đoạn chuyển tiếp trong kỹ thuật dựng đền tháp. Nền hai tháp đều được gia cố bằng đất sét pha cát, bề mặt đầm chắc bằng đất đá ong (laterit) màu đỏ sẫm. Các nguồn đã tra không gắn khu đền với một tên phong cách cụ thể trong hệ phân loại nghệ thuật Chăm, nên thư viện không tự đặt tên phong cách cho công trình.
Được xây dựng trước. Hai đợt khai quật năm 2024 và 2025 đã làm lộ toàn bộ mặt bằng, quy mô, kết cấu tiền sảnh và đường vào ở phía đông. Thân tháp còn đứng nhưng đã mất mái, tường nhiều chỗ sứt vỡ.
Đứng song song cạnh tháp Bắc, cùng là tháp thờ chính, xây sau khoảng 10 tới 20 năm, quy mô lớn hơn tháp Bắc khoảng 0,4 mét và lệch về phía đông 0,2 mét. Chân móng vùi dưới đất, ngoài tường còn dấu vết cột góc, cột áp tường và cửa giả.
Khu đền trung tâm được bao bọc bởi tường gạch ở các phía bắc, nam, đông, lối vào đi qua tháp Cổng ở phía đông, bên trong có nền tháp Hỏa và đường đi lát gạch nối từ tháp Nam sang tháp Bắc.
Tổng cộng 114 mảnh trang trí góc tạo hình đầu bò thần Nandin (50 mảnh đợt một, 64 mảnh đợt hai), 4 mảnh chóp tháp đá hình bát giác và mảnh hình thủy quái Makara thu được trong lòng đất cho biết các tầng mái từng gắn trang trí đá sa thạch.
Muốn nhìn ra dấu vết thời đại khi đứng trước hai khối tháp đã mất trang trí, quý vị có thể để ý ba chỗ. Thứ nhất là viên gạch, gạch Chăm xếp khít, mạch gần như không thấy vữa, và ở những mảng tường còn nguyên thì vẫn đọc được lối xây ấy. Thứ hai là độ dày tường so với lòng tháp, tường dày, lòng hẹp, đúng lối kalan dành chỗ cho vật thờ chứ không cho đám đông. Thứ ba là khoảng cách giữa hai tháp, hai khối đặt gần, song song, không có tháp thứ ba xen vào, cho thấy người dựng coi hai ngôi ngang vai nhau.
Để thấy một khu đền Chăm còn đủ nếp và còn trang trí, quý vị nên đối chiếu với thánh địa Mỹ Sơn. Liễu Cốc đáng xem ở chỗ khác, nó cho thấy một khu đền trơ ra phần xương, nơi khảo cổ đang từng mùa ghép lại hình hài ban đầu.
IVThế Đất Và Hướng
Người Chăm dựng đền theo lệ của Ấn Độ Giáo chứ không theo phong thủy. Lệ ấy khá nhất quán, cửa chính của tháp thường quay về hướng Đông, nơi mặt trời mọc, tháp đặt trên chỗ đất cao như gò hay đồi, và khu đền gắn với ý niệm núi thiêng cùng nguồn nước. Ở Liễu Cốc, kết quả khai quật năm 2024 và 2025 cho biết khu vực tiền sảnh, đường vào của tháp và hệ thống tường bao chính kèm tháp Cổng đều nằm ở phía đông hai tháp thờ, đúng với lệ mở lối vào về hướng Đông của đền tháp Chăm. Đoạn dưới là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền của người Việt, đặt cạnh lệ Ấn Độ Giáo để quý vị so, không phải điều chép trong văn bản nào về khu đền, và hai hệ ấy khác nhau từ gốc.
Điều đầu tiên người quen xem đất sẽ để ý là cái tên Bàu Tháp. Bàu là chỗ đất trũng đọng nước. Theo lối cổ truyền, nước đọng trước nơi thờ là nước tụ, giữ khí lại chứ không cho tán đi. Người Chăm có lẽ không nghĩ theo lối ấy, nhưng việc đền của họ gắn với nguồn nước lại gặp đúng chỗ phong thủy Á Đông coi trọng. Hai lý khác nhau cùng dẫn tới một mảnh đất có nước.
Thứ hai là vị trí trên gò phù sa thấp gần sông Bồ, giữa vùng đồng thấp và dải gò đồi phía bắc. Liễu Cốc nằm cách trung tâm Huế chừng 11 cây số về phía bắc, thuộc lưu vực hạ lưu sông Bồ, trên phần đất chuyển từ đồng thấp lên vùng gò đồi. Theo mắt phong thủy, chỗ chuyển thế ấy là chỗ đất bắt đầu có lưng, phía sau cao, phía trước thấp dần về đồng. Đọc như vậy thì khu đền ngồi đúng ở mép một thế tựa, dù không có ngọn núi lớn nào kề sát.
Thứ ba là hai tháp ngang vai. Phong thủy người Việt quen đọc công trình theo trục giữa, một chính hai phụ. Hai khối ngang nhau không có khối giữa là bố cục lạ với con mắt ấy, và nó nhắc quý vị rằng người dựng tháp theo một phép khác, mỗi tháp là một ngôi đền trọn vẹn chứ không phải một cánh của ngôi nhà chung.
Cuối cùng là quan hệ với Huế về sau. Chùa Thiên Mụ trên đồi Hà Khê cách đây chừng 6,8 cây số. Người Việt khi chọn đồi dựng chùa đã nhìn đất bằng phép của mình, người Chăm nhiều thế kỷ trước chọn gò dựng đền bằng phép của họ. Hai lớp chọn đất nằm gần nhau trên cùng một vùng, và điều đáng ghi là cả hai đều tìm tới chỗ đất cao bên nguồn nước.
VDấu Vết Thờ Tự Dưới Lòng Đất
Liễu Cốc không còn lễ Chăm. Không có cộng đồng Chăm Bàlamôn nào về đây hành lễ, và các nguồn đã tra không ghi một lễ hội nào gắn với tháp. Vì vậy phần này không kể lịch lễ mà ghi những dấu vết thờ tự đã được khai quật qua hai năm 2024 và 2025, cùng điều mỗi dấu vết cho biết về đời sống của khu đền qua các thế kỷ.
| Hiện vật | Niên đại | Điều nó cho biết |
|---|---|---|
| Gạch và ngói kiến trúc (hơn 12.700 tiêu bản qua hai đợt) | Cuối thế kỷ 9 tới đầu thế kỷ 10 | Lớp dựng đền gốc có cả gạch xây tháp và ngói lợp các công trình phụ, kỹ thuật thuộc giai đoạn chuyển tiếp. |
| Phù điêu đá đầu bò Nandin (114 mảnh), chóp tháp và mảnh nghi yoni, linga | Cuối thế kỷ 9 tới thế kỷ 10 | Khu đền từng có trang trí góc bằng đá sa thạch gắn với biểu tượng bò thần Nandin của Shiva giáo. |
| 10 mảnh bia đá sa thạch khắc chữ Phạn | Thế kỷ 10 | Khu đền từng có bia ký ghi việc dựng đền hoặc dâng cúng bằng chữ Phạn, nay đã vỡ thành mảnh nhỏ. |
| Đồ gốm và 5 bình vôi Champa | Thế kỷ 9 tới 11 và các lớp sau | Dấu vết sinh hoạt, ăn trầu và dâng cúng quanh khu đền. |
| Đầu phù điêu Phật bằng đá phiến xám tím (20 x 15 x 10 cm) | Thế kỷ 11 tới 12 (VOV, Dân Việt) hoặc 10 tới 11 (VTV) | Dấu vết Phật Giáo có mặt ở khu đền về sau, muộn hơn lớp dựng tháp. |
| Đồng tiền kim loại Nguyên Phong thông bảo | Thế kỷ 13 | Khu đất còn có người qua lại ở thời kỳ muộn. |
Muốn thấy một đền tháp Chăm còn lễ, còn người hành lễ, quý vị có thể đọc bài tháp Po Klong Garai, nơi người Chăm Bàlamôn vẫn mở cửa tháp làm lễ Katê mỗi năm. Liễu Cốc thuộc lớp khác, một khu đền đã ngừng thờ từ lâu mà câu chuyện của nó giờ do các lớp đất kể lại.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Khu Bàu Tháp, làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà (phường Hương Xuân cũ, thị xã Hương Trà cũ), thành phố Huế. Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15 gộp Hương Xuân, Hương Chữ, Hương Toàn thành phường Kim Trà. Cách trung tâm Huế chừng 11 km về phía bắc
- Đường tới
- Khu Bàu Tháp, làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, thành phố Huế, cách trung tâm Huế chừng 11 cây số về phía bắc.
- Toạ độ
- 16.5081, 107.5165
Đây là phế tích khảo cổ, không phải nơi hành lễ, lệ của nơi này là lệ giữ đất và giữ gạch. Không trèo lên thân tháp, không bước xuống các hố khai quật hay lấy mảnh gạch, mảnh gốm làm kỷ niệm. Khi khu vực đang khai quật thì đứng ngoài ranh giới đã căng dây. Nếu có lệ thắp hương thì chỉ thắp ở chỗ người trông coi bố trí, không cắm vào khe gạch.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tháp Liễu Cốc
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tháp Liễu Cốc thờ ai
Chưa định được chắc chắn. Các đợt khai quật chưa tìm thấy bộ linga, yoni hay tượng thần nguyên vẹn nằm ở vị trí thờ gốc trong lòng tháp, chỉ mới thu được hai mảnh đá nghi thuộc bệ yoni, một mảnh nghi thuộc linga và 114 mảnh đá tạc đầu bò thần Nandin trong tầng đất. Tháp là đền của người Chăm theo lối Ấn Độ Giáo, nhưng thư viện không khẳng định đích danh thần chủ khi chưa có vật thờ nguyên vị hay văn bia giải đọc trọn vẹn.
Tháp đôi Liễu Cốc có niên đại bao nhiêu năm
Theo kết quả khai quật năm 2024 và 2025 trên VOV, Dân Việt và VTV, khu đền được dựng vào khoảng cuối thế kỷ 9 tới đầu thế kỷ 10, trong đó tháp Bắc xây trước và tháp Nam xây sau khoảng 10 tới 20 năm. Báo Dân trí ghi khả năng cuối thế kỷ 8 hoặc đầu thế kỷ 9. Hai nguồn vênh nhau, và cả hai đều là khoảng ước định khảo cổ.
Tháp Liễu Cốc có phải tháp Phật Giáo không
Không có căn cứ để nói vậy. Đầu phù điêu Phật bằng đá phiến xám tím tìm được trong đợt khai quật năm 2024 có niên đại thế kỷ 11 tới 12 theo VOV và Dân Việt (hoặc thế kỷ 10 tới 11 theo VTV), muộn hơn niên đại dựng tháp, nên được hiểu là dấu vết Phật Giáo có mặt ở khu đền về sau chứ không cho biết tháp dựng để thờ Phật.
Tháp Liễu Cốc ở đâu
Tháp ở khu Bàu Tháp, làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, thành phố Huế, trên gò đất phù sa thấp gần sông Bồ, cách trung tâm Huế chừng 11 cây số về phía bắc. Trước đây nơi này thuộc phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, nay đều là đơn vị cũ.
Vì sao gọi là tháp đôi
Vì khu đền có hai tháp thờ chính (tháp Bắc và tháp Nam) đứng song song cạnh nhau, không phải một tháp chính với tháp phụ. Các nhà khảo cổ cho rằng đây là di tích hiếm hoi trong hệ thống đền tháp Champa ở Việt Nam có bố cục hai đền tháp chính như vậy. Tên này không liên quan tới tháp Đôi ở Quy Nhơn.