Từ bên ngoài, tháp Thủ Thiện trông như một phiên bản thu nhỏ của những tháp Chăm quen thuộc, một khối gạch vuông trên đế cao hơi thóp ở giữa, ba tầng mái, bốn góc có tháp góc nhỏ, vòm cửa nhọn dựng nhiều lớp. Nếu quý vị chỉ đi một vòng quanh chân tháp rồi về, quý vị sẽ bỏ lỡ điều đáng xem nhất. Hãy bước qua cửa đông vào lòng tháp, đợi mắt quen với bóng tối, rồi nhìn thẳng vào bức tường phía tây.
Ở đó là một khám thờ khoét vào tường, viền bằng ô vòm cung nhọn, chi tiết mà Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi là chưa thấy ở công trình Champa nào khác. Đây là tháp Thủ Thiện, trong thư tịch cổ còn gọi Thủ Hương cổ tháp, một đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm dựng khoảng nửa đầu thế kỷ 12 bên bờ nam sông Kôn.

ITên làng, tên sách cổ và vị thần chưa rõ
Thủ Thiện là tên làng của người Việt, không phải tên Chăm của ngôi đền. Tên Chăm gốc, nếu từng có, chưa được ghi lại trong những nguồn thư viện tra được. Tháp là đền tháp của Ấn Độ Giáo Chăm, còn gọi là Bàlamôn Chăm, nhưng thần chủ chưa có văn khắc tại chỗ xác nhận. Trong lòng tháp không còn tượng thờ hay bệ thờ nguyên vị nào được giữ lại, chỉ còn nhiều vết gắn phù điêu trên tường cho biết từng có hình thờ gắn vào đây, cùng một tượng bò thần Nandin bằng đá sa thạch thế kỷ 12 trong tư thế nằm trên bệ chữ nhật từng được phát hiện tại khu di tích.
Theo giáo nghĩa Ấn Độ Giáo, vật thờ chính của một kalan đặt giữa lòng tháp, trên trục nối với cửa đông, để ánh sáng buổi sớm rọi tới. Khám thờ trên tường tây ở Thủ Thiện nằm đúng trên trục ấy, đối diện cửa vào. Đó có thể là chỗ tựa cho vật thờ chính, cũng có thể là chỗ đặt một hình thờ phụ. Hiện chưa có nguồn nào nói rõ khám ấy từng đặt gì.
Về tên Thủ Hương cổ tháp, cổng thông tin Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch dẫn sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép rằng Thủ Hương cổ tháp ở thôn Thủ Hương, huyện Tường Vân, tục hô là tháp Đồng. Ngôi tháp cũng được khảo tả trong bộ Thống kê khảo tả các di tích Chàm ở Trung Kỳ của Henri Parmentier xuất bản tại Pháp năm 1909. Còn trong dân gian Bình Định, ngọn tháp đi vào câu ca dao quen thuộc Vững vàng tháp cổ ai xây, bên kia Thủ Thiện, bên này Dương Long, đặt Thủ Thiện thành một cặp với tháp Dương Long cách đó chừng 2,9 km.
Chỗ dễ nhầm lẫn là cái tên tháp Đồng. Theo nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh trong sách Tháp cổ Chăm Pa, sự thật và huyền thoại được cổng thông tin Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch dẫn lại, sách Đại Nam nhất thống chí vốn ghi tên tục của tháp Thủ Thiện là tháp Đồng. Về sau, các nhà nghiên cứu người Pháp lại gọi tháp Cánh Tiên ở thành Đồ Bàn là tháp Đồng (Tour de Cuivre), còn gọi Thủ Thiện là Tour de Bronze (tức tháp Đồng hoặc tháp Thau). Thư viện ghi rõ nguồn gốc sách cổ này để quý vị khỏi nhầm hai ngọn tháp khi đọc các tài liệu khác nhau.
IIChín trăm năm và các đợt tu bổ
Tháp không có bia khởi dựng. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi niên đại khoảng nửa đầu thế kỷ 12, định theo phong cách nghệ thuật, cùng nhóm với Cánh Tiên và Phú Lốc. Đó là thời trung tâm Chăm Pa đặt ở Vijaya, và vùng thượng lưu sông Kôn nơi tháp đứng là phần đất phía tây của vùng ấy.
- Nửa đầu TK 12Dựng thápĐịnh niên theo phong cách nghệ thuật Bình Định, theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Không có bia khởi dựng.
- 1985Bão quật cây đa trên đỉnhTrước năm 1985, một cây đa cổ thụ mọc trùm kín đỉnh tháp mà dân làng không ai dám chặt. Trận bão lớn năm 1985 quật đổ cây đa khỏi đỉnh nhưng khối tháp gạch vẫn đứng vững.
- 1992 tới 1993Tu bổ lần đầuĐợt tu bổ đầu tiên được ghi nhận, gia cố thân và đỉnh mái tháp trước khi xếp hạng.
- 1995Di tích quốc giaNgày 20 tháng 4 năm 1995, tháp được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia, theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
- 2019Gia cố chống xuống cấpTỉnh đầu tư 1,8 tỷ đồng gia cố phần đỉnh mái và chống sụp đổ bước đầu.
- 2021 tới 2025Dự án tu bổ tổng thểDự án được phê duyệt với tổng vốn hơn 5,4 tỷ đồng, gồm diệt cây cỏ dại, mài chập gạch phục chế bằng dầu bời lời, bảo quản mặt tường và khôi phục kiến trúc mái.
- 2025Địa giới mớiXã Bình Nghi cũ cùng thị trấn Phú Phong và xã Tây Xuân gộp thành xã Tây Sơn, thuộc tỉnh Gia Lai.
Nguồn vênh nhau ở hai chỗ. Về ngày xếp hạng, bảng dữ kiện của thư viện theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi ngày 20 tháng 4 năm 1995, trang Kifa Travel ghi ngày 20 tháng 1 năm 1995. Thư viện theo ngày của Bộ. Về niên đại, Bộ ghi nửa đầu thế kỷ 12, nhưng Kifa Travel và Lữ Hành Việt Nam ghi thêm rằng một số tài liệu xếp tháp vào khoảng thế kỷ 11 hoặc cuối thế kỷ 11 sang thế kỷ 12, trong giai đoạn chuyển tiếp từ phong cách Mỹ Sơn A1 sang phong cách Bình Định. Cả hai đều là niên đại định theo phong cách.
Về các đợt tu bổ, ngoài lần đầu năm 1992 tới 1993 và đợt gia cố năm 2019, dự án giai đoạn 2021 tới 2025 do Viện Bảo tồn di tích tư vấn đã phục chế gạch theo độ chín tương tự gạch gốc, ngâm nước rồi mài chập thủ công và kết dính bằng hỗn hợp keo nhựa cây bời lời với bột gạch. Nhờ vậy quý vị có thể hiểu vì sao phần mái và mặt tường hiện nay có những mảng gạch mới mài khít xen với gạch cổ.
IIIKhám thờ vòm trong lòng tháp
Tháp đặt trên một khối nền vuông mỗi chiều chừng 8,5 mét, theo Kifa Travel. Thủ Thiện nhỏ hơn Cánh Tiên và Phú Lốc nhưng cùng dáng phong cách Bình Định, những dấu hiệu chung của phong cách ấy được giới thiệu kỹ ở bài tháp Bánh Ít. Bài này chỉ nói những gì riêng của Thủ Thiện.
Đế cao, hơi thóp lại ở quãng giữa rồi loe ra ở chân và ở mặt trên, tạo cho khối tháp nhỏ một dáng đứng vững.
Ba tầng mái cùng dáng, nhỏ dần lên trên. Bốn góc mỗi tầng trang trí bằng các khối tháp góc nhỏ nhiều tầng xếp sít nhau.
Vòm cửa nhọn như mũi lao xếp nhiều lớp, ba cửa giả còn tương đối nguyên vẹn. Các cột ốp để trơn, ô dọc giữa các cột biến thành gờ nổi lớn nhô mạnh ra ngoài.
Trong lòng tháp còn nhiều vết gắn phù điêu trên tường, dấu của những hình thờ từng đặt ở đây.
Một bàn thờ bao quanh khoét sâu vào tường hậu phía tây, viền bằng ô khám hình cung nhọn. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi chưa thấy ở công trình Champa nào khác.
Điều làm khám thờ ấy đáng chú ý là chỗ của nó. Người thợ Chăm vốn dồn trang trí ra mặt ngoài gồm vòm cửa, cột ốp, tháp góc và diềm mái. Lòng tháp thường để trơn và tối, vì đó là chỗ cho vật thờ chứ không phải cho người ngắm. Ở Thủ Thiện, họ lại đưa một hình vòm cung nhọn, chính cái hình vẫn dùng cho vòm cửa bên ngoài, vào bên trong và khoét nó lên tường hậu. Nói cách khác, dáng cửa đền được lặp lại một lần nữa ngay trong lòng đền, đúng chỗ đối diện cửa vào.
Cách đó chừng 2,9 km là tháp Dương Long với cụm ba tháp cao lớn và lối ghép đá vào gạch. Hai nơi gần nhau nhưng đi hai hướng, một bên lớn và phô ra ngoài, một bên nhỏ và giữ điều đặc biệt ở bên trong.
IVThế đất và hướng
Phần này có hai lớp, xin tách bạch. Lớp thứ nhất là lệ của người dựng tháp, khi đền tháp Ấn Độ Giáo mở cửa chính về hướng Đông đón mặt trời, thường đặt trên gò hay đồi, lấy khối tháp làm hình núi thiêng, và gắn nơi thờ với núi và nguồn nước. Ấn Độ Giáo không dạy phong thủy, người Chăm chọn đất theo lệ ấy. Lớp thứ hai là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, đặt ra cho bạn đọc quen lối người Việt có chỗ so, không phải điều ghi trong văn bản nào về tháp.
Thủ Thiện đứng trên một gò đất thấp giữa vùng đất tương đối bằng phẳng bên bờ nam sông Kôn, cách bờ sông chưa tới một cây số. Trong con mắt phong thủy, sông là mạch nước lớn, và một công trình đặt gần dòng sông được đọc là nơi thủy tụ. Người xem đất sẽ hỏi thêm dòng sông ôm lấy đất hay chảy thẳng qua, vì sông ôm thì giữ khí, sông thẳng thì cuốn khí đi. Thư viện không có bản đo địa hình cổ đủ chi tiết để trả lời câu ấy, nên chỉ ghi đây là một câu hỏi mà lối cũ sẽ đặt ra.
Với người dựng tháp, dòng sông mang một nghĩa khác. Đền tháp Ấn Độ Giáo cần nước cho nghi lễ, và nước của một dòng sông lớn gần kề là nước sẵn cho việc tắm vật thờ. Không phải khí, mà là nước dùng được.
Còn về khám thờ tường tây, lối cũ của người Việt quen đặt ban thờ ở gian giữa, lưng tựa tường hậu, mặt quay ra cửa. Khám thờ ở Thủ Thiện đứng đúng chỗ tương tự, tựa tường hậu và đối diện cửa đông. Nhưng đó là sự trùng về bố cục, không phải cùng một lý. Người Việt đặt ban thờ theo trục nhà, người Chăm đặt vật thờ theo trục mặt trời. Thư viện ghi hai lý do cạnh nhau, không đem cái này giải thích cái kia.
VLòng tháp và việc thờ xưa
Tháp Thủ Thiện nay là phế tích không còn thờ theo nghi lễ Chăm, không có nguồn nào ghi còn lễ ở đây. Vì thần chủ chưa rõ, thư viện không dựng lại một lịch lễ. Bảng dưới đây đi theo từng chỗ trong lòng tháp, ghi vai của chỗ ấy trong việc thờ của một kalan và những gì còn thấy ở Thủ Thiện.
| Chỗ trong tháp | Vai trong việc thờ | Còn thấy ở Thủ Thiện |
|---|---|---|
| Cửa đông | Lối vào duy nhất, đón ánh sáng buổi sớm tới vật thờ | Vòm cửa từng bị sập một phần, đã được tu bổ phục hồi |
| Ba cửa giả | Giữ cân xứng bốn mặt, không dùng để đi lại | Còn tương đối nguyên vẹn với vòm nhọn hình mũi lao |
| Lòng tháp | Không gian hẹp cho vật thờ và người chủ tế | Không còn tượng hay bệ thờ nguyên vị, từng phát hiện tượng bò Nandin bằng đá sa thạch quanh khu tháp |
| Vết gắn trên tường | Chỗ gắn phù điêu, hình thờ phụ | Còn nhiều vết, hình đã mất |
| Khám thờ tường tây | Chỗ đặt hình thờ trên trục cửa đông, chưa rõ đặt gì | Còn, vòm cung nhọn, chi tiết hiếm gặp |
Lễ Katê của người Chăm Bàlamôn hôm nay chỉ mở ở các đền tháp vùng Ninh Thuận và Bình Thuận cũ, như tháp Po Klong Garai, nơi quý vị còn thấy một kalan được mở cửa, tắm vật thờ và mặc y phục cho thần. Đặt cảnh ấy vào lòng tháp Thủ Thiện, quý vị sẽ hình dung được khám thờ trên tường tây từng đứng giữa ánh nến và khói trầm ra sao.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Thủ Thiện, xã Tây Sơn (xã Bình Nghi cũ, huyện Tây Sơn cũ, tỉnh Bình Định cũ), tỉnh Gia Lai. Nghị quyết sắp xếp năm 2025 gộp thị trấn Phú Phong, xã Tây Xuân, xã Bình Nghi thành xã Tây Sơn
- Đường tới
- Tháp nằm ở thôn Thủ Thiện, xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai, trước là xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn cũ, tỉnh Bình Định cũ, trên một gò thấp bên bờ nam sông Kôn, cách tháp Dương Long chừng 2,9 km.
- Toạ độ
- 13.899, 108.9913
Tháp nhỏ, lòng tháp hẹp và tối, nên lệ của nơi này là vào từng người một, đi chậm, không đứng chắn cửa đông. Quý vị không chạm tay vào khám thờ trên tường tây và các vết gắn phù điêu, không dùng đèn chớp sát mặt gạch, không cắm hương vào khe tường. Phần mái và mặt tường vừa qua đợt tu bổ, xin không trèo lên đế tháp.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tháp Thủ Thiện
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tháp Thủ Thiện thờ ai
Đây là đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm nhưng thần chủ chưa có bia ký xác nhận. Trong lòng tháp không còn tượng hay bệ thờ nguyên vị, chỉ còn các vết gắn phù điêu và một khám thờ vòm trên tường tây, còn tại khu di tích từng phát hiện một tượng bò thần Nandin bằng đá sa thạch niên đại thế kỷ 12.
Khám thờ trong tháp Thủ Thiện có gì đặc biệt
Đó là một bàn thờ khoét sâu vào tường hậu phía tây, viền bằng ô khám hình cung nhọn, nằm đúng trên trục đối diện cửa đông. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi chi tiết này chưa thấy ở công trình Champa nào khác. Muốn thấy, quý vị phải bước vào lòng tháp.
Thủ Hương cổ tháp là gì?
Là tên gọi cổ của tháp Thủ Thiện được chép trong sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn với câu 'Thủ Hương cổ tháp ở thôn Thủ Hương, huyện Tường Vân, tục hô là tháp Đồng'. Tên Thủ Thiện hay Thủ Hương là tên làng của người Việt, không phải tên Chăm gốc của ngôi đền.
Tháp Thủ Thiện xây năm nào
Không có bia khởi dựng. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi khoảng nửa đầu thế kỷ 12, định theo phong cách nghệ thuật Bình Định, cùng nhóm với tháp Cánh Tiên và Phú Lốc. Một số tài liệu khác xếp tháp vào khoảng thế kỷ 11 hoặc cuối thế kỷ 11 sang thế kỷ 12, thuộc giai đoạn chuyển tiếp từ phong cách Mỹ Sơn A1 sang phong cách Bình Định.
Tháp Thủ Thiện đã được tu bổ chưa
Tháp đã qua ba đợt tu bổ được ghi nhận. Đợt đầu năm 1992 tới 1993, đợt gia cố đỉnh mái năm 2019 với kinh phí 1,8 tỷ đồng, và dự án tu bổ giai đoạn 2021 tới 2025 với tổng vốn hơn 5,4 tỷ đồng gồm diệt cây cỏ dại, mài chập gạch phục chế bằng dầu bời lời, bảo quản mặt tường và khôi phục kiến trúc mái, theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.