VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Hà Trung

Sắc tứ Hà Trung tự, chùa Tổ Hà Trung, chùa Phổ Thành, chùa công Hà Trung

Ngôi chùa công bên đầm phá phía đông nam Huế, nơi Tổ Nguyên Thiều về trụ trì những năm cuối đời, và là cái tên được khắc lên bia tháp của ngài.

Tổ gắn với chùa
Nguyên Thiều
đời 33 Lâm Tế, 1648 tới 1728
Bia tháp Tổ
1729
mang tên Sắc tứ Hà Trung tự
Xếp hạng
Cấp tỉnh, 2006
di tích lịch sử văn hóa Thừa Thiên Huế cũ

Rời quốc lộ đi về phía đầm phá, qua những xóm cát và ruộng thấp của làng Hà Trung, quý vị gặp một cổng tam quan cũ, sau cổng là khoảng sân có đài thờ Bồ Tát Quán Thế Âm và mái chánh điện chồng diêm với đôi rồng chầu trên nóc. Chùa không lớn. Người đi lễ quanh vùng biết nơi này trước hết vì pho tượng Quán Âm bằng sa thạch đặt trong chùa.

Người trong dòng Lâm Tế thì nhớ nơi này vì một cái tên khác. Bia ký trên tháp của Tổ Nguyên Thiều, vị thiền sư đưa dòng Lâm Tế vào Đàng Trong, dựng năm 1729, mang tiêu đề Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh. Nghĩa là khi triều đình chúa Nguyễn khắc bia cho ngài, họ gọi ngài bằng tên ngôi chùa này.

INgôi Chùa Mà Bia Tháp Tổ Lấy Tên

Chùa Hà Trung thuộc Thiền phái Lâm Tế, theo dòng do Tổ Hoán Bích Nguyên Thiều truyền vào Đàng Trong. Ngài pháp danh Siêu Bạch, sinh năm 1648 ở Triều Châu, Quảng Đông, là đời 33 của Lâm Tế, viên tịch ngày 19 tháng 10 năm Mậu Thân 1728 theo bia, được ban thụy Hạnh Đoan thiền sư. Hành trạng của ngài và bài kệ Tổ Vạn Phong Thời Ủy mà dòng ngài dùng để đặt pháp danh theo đời, thư viện đã viết ở bài chùa Quốc Ân, ở đây không kể lại.

Muốn hiểu vì sao Hà Trung đứng trong hàng chốn tổ, cần đặt ba ngôi chùa gắn với Tổ Nguyên Thiều cạnh nhau. Chùa Thập Tháp Di Đà ở Quy Nhơn cũ là ngôi ngài dựng trước. Chùa Quốc Ân ở kinh đô Phú Xuân là ngôi được chúa ban biển năm 1689, nơi ngài truyền giới và giảng pháp. Hà Trung là ngôi thứ ba, nơi ngài về trụ trì trong những năm cuối đời theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu. Mỗi ngôi giữ một đoạn đời của Tổ, và Hà Trung giữ đoạn cuối.

Theo sử liệu

Bằng chứng mạnh nhất cho chỗ đứng của Hà Trung là tấm bia. Theo bài của nhà nghiên cứu Võ Vinh Quang trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học, bài ký trên tháp Tổ được dựng năm 1729 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chú, cũng đọc là Trú, và mang tên Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh. Một bài minh tháp gọi vị thiền sư theo tên chùa nào thì chùa ấy là nơi triều đình coi là chỗ gắn với ngài sau cùng.

Năm Tổ về Hà Trung thì các nguồn không khớp. Đạo Phật Ngày Nay ghi hai con số, năm 1692 hoặc năm 1695. Tạp chí Nghiên cứu Phật học chỉ ghi rằng những năm cuối đời ngài về trụ trì chùa Hà Trung, không bao lâu thì viên tịch. Hai cách ghi cách nhau hơn ba mươi năm, chúng tôi ghi cả hai và không chọn.

Dòng này khác các dòng Lâm Tế khác ở chỗ nào. Ở miền Trung, từ cùng một gốc Lâm Tế mọc ra nhiều dòng, mỗi dòng mang tên vị tổ đã đặt một bài kệ riêng, như dòng Liễu Quán ở Thuận Hóa hay dòng Chúc Thánh ở Hội An, và tổ của hai dòng ấy là người Việt. Dòng của Tổ Nguyên Thiều là lớp sớm hơn, do một thiền sư từ Quảng Đông sang, đặt pháp danh theo bài kệ có sẵn của các tổ bên Trung Hoa chứ không đặt kệ mới. Các dòng Việt về sau đều nối vào đúng chỗ bài kệ cũ đã đi tới, nên khi kể ngược lên gốc, người trong nhà Lâm Tế miền Trung và miền Nam đều đi qua tên ngài.

Chỗ hay hiểu lầm

Có người đọc tên bia rồi tin rằng tháp Tổ Nguyên Thiều nằm ở Hà Trung. Các nguồn không nói vậy, và còn vênh nhau về cả nơi ngài viên tịch lẫn nơi đặt tháp. Tạp chí Nghiên cứu Phật học chép tháp Hóa Môn dựng trên một khu đồi nhỏ ở làng Dương Xuân Thượng để an trí nhục thân ngài. Sách Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, được cùng tạp chí dẫn lại, ghi ngài viên tịch ở chùa Kim Cang thuộc Đồng Nai, và có nguồn nói tới tháp ở Kim Cang. Tên Hà Trung trên bia là tên chùa ngài trụ trì, không phải chỉ dẫn vị trí tháp.

IIMột Ngôi Chùa Công Bên Đầm Phá

Người lập chùa đầu tiên chưa tra được có nguồn. Năm khởi dựng cũng vậy. Nhà nghiên cứu Võ Vinh Quang cho rằng chùa có từ thế kỷ 16, sau khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận Hóa. Tạp chí Nghiên cứu Phật học, trong bài về hành trạng Tổ Nguyên Thiều, viết chùa có lẽ được dựng ngay sau khi chúa Nguyễn Phúc Chu lên ngôi. Bài chùa Thập Tháp của thư viện, theo tư liệu tiểu sử Tổ, lại ghi Tổ ra Thuận Hóa lập chùa Vĩnh Ân và chùa Hà Trung. Ba cách ghi đặt khởi điểm của chùa ở ba chỗ khác nhau, nên chúng tôi chỉ nói chắc được một điều: chùa đã là một ngôi lớn khi Tổ về trụ trì.

Điều chắc ấy có chứng. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn kể chùa công Hà Trung cùng hàng với chùa Thiên Mụ, trong số những ngôi chùa lớn do nhà chúa quản. Chùa công là chùa do nhà nước đương thời trông coi và cấp dưỡng, khác chùa làng do dân lập. Biển Sắc tứ trên tên chùa cũng nói cùng một điều.

  • Thế kỷ 16Có thể đã có chùa
    Theo nhận định của nhà nghiên cứu Võ Vinh Quang, sau khi chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa. Các nguồn khác đặt mốc muộn hơn.
  • 1672Chuông đồng
    Đạo Phật Ngày Nay ghi chùa giữ một quả chuông đồng đúc năm này.
  • 1692 hoặc 1695Tổ Nguyên Thiều về trụ trì
    Theo Đạo Phật Ngày Nay, Tổ được chúa Nguyễn Phúc Chu cử về. Tạp chí Nghiên cứu Phật học chỉ ghi là những năm cuối đời của Tổ.
  • 1728Tổ viên tịch
    Ngày 19 tháng 10 năm Mậu Thân theo bia. Nơi viên tịch các nguồn ghi khác nhau.
  • 1729Dựng bia tháp Tổ
    Bài ký mang tên Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chú.
  • 1995Trùng tu
    Chùa được trùng tu, theo Đạo Phật Ngày Nay.
  • 2006Di tích cấp tỉnh
    Ngày 13 tháng 10, được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh Thừa Thiên Huế cũ.
  • 2009Đại trùng tu
    Lần đại trùng tu gần nhất, tạo nên diện mạo chùa hiện nay.

Các đời trụ trì sau Tổ Nguyên Thiều chưa tra được có nguồn, nên chúng tôi không lập bảng đời ở đây. Điều còn lại rõ nhất qua ba trăm năm là cái tên của chùa trên bia tháp Tổ và vị trí của chùa trong hàng chùa công thời các chúa.

IIIKiến Trúc Và Pho Tượng Quán Âm Sa Thạch

Diện mạo chùa hôm nay phần lớn là kết quả của hai lần tu sửa năm 1995 và năm 2009. Theo Đạo Phật Ngày Nay, chánh điện làm theo lối mái chồng diêm, tức hai lớp mái chồng lên nhau, trên hai nóc mái trước và sau đắp các cặp rồng chầu mặt nguyệt. Sân trước chùa có đài thờ Bồ Tát Quán Thế Âm và một cổng tam quan xưa. Quanh chùa có những cây tùng cổ thụ, cây mà người viết bài ấy đoán đã mấy trăm năm tuổi.

Tượng Quán Thế Âm sa thạch

Tượng ngồi kiết già trên tòa sen, hai tay chắp trước ngực, đầu đội mũ Quán Âm, bệ chạm hoa văn. Ngày 5 tháng 5 năm 2008 được ghi nhận là pho tượng Quán Âm bằng sa thạch xưa và lớn nhất Việt Nam.

Chuông đồng

Đạo Phật Ngày Nay ghi chuông đúc năm 1672. Đây là một trong những hiện vật có niên đại sớm nhất được nhắc tới ở chùa.

Tượng thờ khác

Tượng Phật A Di Đà bằng gỗ phủ sơn và tượng Bồ Tát Địa Tạng bằng đồng, theo Đạo Phật Ngày Nay.

Cổng tam quan xưa

Đạo Phật Ngày Nay gọi là cổng tam quan xưa, đứng ở mặt trước cùng đài Quán Âm ngoài sân. Tên chữ Hán ở đầu trang do thư viện suy từ tên chùa, không chép từ biển ở cổng.

Theo sử liệu

Số đo của pho tượng hai nguồn lệch vài phân. Đạo Phật Ngày Nay ghi tượng cao 2,43 mét tính cả bệ, phần thân tượng cao 1,33 mét, ngang gối 0,87 mét. Phatgiao.org.vn ghi cao 2,46 mét, thân tượng 1,36 mét, ngang gối 0,87 mét, và cho rằng tượng do nghệ nhân Trung Hoa đầu đời Thanh chạm. Chúng tôi ghi cả hai bộ số. Về niên đại và nơi làm ra tượng, nhận định đầu đời Thanh là của một nguồn, chưa thấy bản khảo cứu thứ hai xác nhận.

Chỗ hay hiểu lầm

Đạo Phật Ngày Nay viết chùa có tên chính thức là chùa Phổ Thành. Nhà nghiên cứu Võ Vinh Quang thì giải thích khác: tên Phổ Thành là chữ khắc trên một quả chuông đồng vốn từ một ngôi chùa khác đưa về, người ta đọc chữ trên chuông rồi gọi chùa theo đó, và chùa đã mang nhầm tên ấy suốt một thời gian. Theo cách giải thích này, tên đúng của chùa là tên ghi trên bia tháp Tổ, tức Hà Trung. Hai cách hiểu cùng lưu hành, và chuyện một quả chuông làm lệch tên cả một ngôi chùa là chi tiết đáng nhớ khi quý vị đứng trước lầu chuông.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong văn bản của chùa. Các nguồn chúng tôi đọc không ghi ai chọn đất cho chùa và chọn theo phép nào, cũng không ghi hướng chánh điện. Chúng tôi nói rõ như vậy để quý vị phân biệt tư liệu với kiến giải.

Thế đất và hướng

Làng Hà Trung nằm ở vùng đất thấp giữa đồng ruộng và hệ đầm phá phía đông nam Huế. Không có núi để tựa, thứ làm chủ cảnh ở đây là nước. Bài trên Đạo Phật Ngày Nay dẫn một đoạn tả chùa xưa: nước bao quanh ba mặt, ngoài cửa chừng trăm bước là nơi bùn lầy, tôm cá ẩn nấp. Đọc theo phép xem đất, đất có nước ôm ba mặt là thế thủy bao, nước giữ khí lại không cho tán, và một mặt còn lại nối vào đất liền làm lối ra vào.

Ở vùng cát ven phá, chỗ thiếu là hậu chẩm, tức vật cao sau lưng. Lối cổ truyền của người miền Trung khi không có núi là lấy hàng cây lớn làm chỗ dựa. Những cây tùng cổ quanh chùa, nếu đúng là đã đứng mấy trăm năm như lời tả, là thứ đã làm việc ấy cho chùa: chắn gió từ phía biển thổi vào qua phá, giữ cho khuôn viên một vùng lặng.

Còn một lớp nghĩa nữa không thuộc về đất mà thuộc về người. Nếu theo cách ghi của Tạp chí Nghiên cứu Phật học rằng Tổ về đây những năm cuối đời, thì một ngôi chùa công ở làng ven đầm, xa kinh thành, là chỗ nhà chúa dành cho một vị thiền sư đã cao tuổi. Chỗ xa kinh đô và gần nước ấy hợp với một đoạn đời lui về tĩnh hơn là một đoạn đời hoằng pháp giữa triều. Đó là kiến giải của thư viện, không có văn bản nào ghi lý do chọn chùa này cho Tổ.

VNgày Tổ Viên Tịch Và Các Lễ Trong Năm

Hà Trung giữ lịch lễ của một ngôi chùa Bắc Tông Huế, tính theo âm lịch. Ngày đáng nhớ riêng với chùa là ngày Tổ Nguyên Thiều viên tịch, ghi trên bia là 19 tháng 10. Các nguồn chúng tôi đọc không tả một lễ giỗ Tổ riêng được tổ chức ở Hà Trung, nên bảng dưới ghi ngày ấy như một mốc của dòng chứ không như một lễ hội của chùa.

Các lễ chính trong năm, tính theo âm lịch. Nguồn: Ngày Tổ viên tịch theo bia tháp do Tạp chí Nghiên cứu Phật học dẫn, các lễ khác theo nếp chung của chùa Bắc Tông..
Ngày âm lịchLễNội dung
19 tháng 10Ngày Tổ Nguyên Thiều viên tịchNgày ghi trên bia tháp năm 1729. Các chùa trong dòng Tổ Nguyên Thiều lấy ngày này làm ngày giỗ Tổ.
Rằm tháng GiêngThượng nguyênLễ cầu an đầu năm theo nếp chung của chùa Huế.
Rằm tháng 4Phật ĐảnLễ mừng ngày Đức Phật đản sinh.
Rằm tháng 7Vu LanLễ báo hiếu, cũng là ngày khép mùa an cư.
19 tháng 2, 19 tháng 6, 19 tháng 9Vía Quán Thế ÂmBa ngày vía của Bồ Tát theo nếp Bắc Tông, có ý riêng ở một ngôi chùa mà hiện vật chính là tượng Quán Âm.

Người làng Hà Trung và các làng ven phá quen đến chùa vào dịp đầu xuân và những ngày rằm, mùng một. Với người trong dòng Lâm Tế, việc tìm về Hà Trung thường đi cùng một lộ trình ba nơi: Thập Tháp ở phía nam, Quốc Ân ở kinh đô, rồi Hà Trung bên phá, theo đúng thứ tự ba đoạn đời của Tổ.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Làng Hà Trung, xã Phú Vang (xã Vinh Hà cũ, huyện Phú Vang cũ), thành phố Huế
Đường tới
Chùa ở làng Hà Trung, xã Phú Vang, thành phố Huế, trên đất xã Vinh Hà thuộc huyện Phú Vang cũ, phía đông nam trung tâm Huế, gần vùng đầm phá.
Toạ độ
16.3726, 107.8127
Khi tới nơi

Hà Trung là chùa làng đang có người tu, lệ của chùa là lệ phải theo. Quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện, đi nhẹ nói khẽ. Pho tượng Quán Âm sa thạch là hiện vật cổ đã được ghi nhận, xin không chạm tay, không tựa lên bệ tượng khi chụp ảnh. Quả chuông đồng cũ cũng vậy, xin đừng tự ý thỉnh chuông khi chưa hỏi người trông coi chùa.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Hà Trung

Contribute photos, information or video for Ha Trung Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

chùa hà trung huế thuộc dòng nào

Chùa thuộc Thiền phái Lâm Tế, theo dòng do Tổ Nguyên Thiều truyền vào Đàng Trong. Tổ được chúa Nguyễn Phúc Chu cử về trụ trì chùa, và bia tháp của ngài dựng năm 1729 mang tên Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh. Chùa từng là chùa công, cùng hàng với chùa Thiên Mụ theo Phủ biên tạp lục.

tượng quán âm chùa hà trung cao bao nhiêu

Hai nguồn lệch vài phân. Đạo Phật Ngày Nay ghi tượng cao 2,43 mét tính cả bệ, thân tượng 1,33 mét. Phatgiao.org.vn ghi 2,46 mét, thân tượng 1,36 mét. Ngày 5 tháng 5 năm 2008 tượng được ghi nhận là pho tượng Quán Âm bằng sa thạch xưa và lớn nhất Việt Nam.

chùa hà trung và chùa phổ thành có phải một không

Là một chùa. Đạo Phật Ngày Nay ghi tên chính thức là Phổ Thành. Nhà nghiên cứu Võ Vinh Quang cho rằng tên Phổ Thành đến từ chữ khắc trên một quả chuông đồng vốn của ngôi chùa khác đưa về, nên chùa bị gọi nhầm theo tên ấy một thời gian. Tên trên bia tháp Tổ là Hà Trung.

tháp tổ nguyên thiều ở đâu

Các nguồn ghi khác nhau và không nguồn nào đặt tháp ở Hà Trung. Tạp chí Nghiên cứu Phật học chép tháp Hóa Môn ở làng Dương Xuân Thượng, Huế. Có nguồn nói Tổ viên tịch ở chùa Kim Cang, Đồng Nai, và có tháp ở đó. Tên Hà Trung trên bia là tên chùa Tổ trụ trì cuối đời.

chùa hà trung xây năm nào

Chưa khảo được năm khởi dựng. Nhà nghiên cứu Võ Vinh Quang cho rằng chùa có từ thế kỷ 16, Tạp chí Nghiên cứu Phật học cho rằng chùa dựng sau khi chúa Nguyễn Phúc Chu lên ngôi. Tổ Nguyên Thiều về trụ trì năm 1692 hoặc 1695 theo Đạo Phật Ngày Nay. Chùa trùng tu năm 1995 và năm 2009.

Đọc Tiếp