Từ thôn Lạc Trị đi về phía chân núi Ông Xiêm, quý vị sẽ thấy những khối gạch đỏ không đứng trên đỉnh đồi như phần lớn tháp Chăm, mà nép sát vào vách núi đá, bậc nền này nối bậc nền kia theo sườn dốc. Sau lưng là đá xám và cây bụi, trước mặt là đồng khô của vùng Tuy Phong. Có ngọn còn giữ được vòm cửa với trụ ốp và hoa văn lá, có ngọn chỉ còn nền và gạch vụn.
Đây là tháp Pô Đam, người ta còn gọi là Po Dam, Pô Tằm, Pô Kathit hay Trà Duyệt, một cụm sáu đền tháp Ấn Độ Giáo Chăm dựng khoảng cuối thế kỷ 8 đầu thế kỷ 9 theo phong cách Hòa Lai. Người Chăm ở đây gắn cụm tháp với vua Pô Đam của Panduranga, người được nhớ vì dạy dân đắp đập dẫn nước. Nhưng tháp có trước vị vua ấy nhiều thế kỷ, và chỗ lệch ấy chính là điều đáng đọc nhất ở nơi này.
IĐền Shiva Và Vị Vua Đến Sau
Nơi này có hai lớp thờ chồng lên nhau. Lớp gốc, theo hồ sơ của Cục Di sản văn hóa, là đền Hindu thờ Shiva dưới dạng linga yoni. Lớp sau là việc người Chăm thờ vua Pô Đam cùng hoàng tộc tại chính các ngôi đền ấy. Cục Di sản văn hóa ghi tại di tích có ngẫu tượng linga yoni và các bia kút, tức bia đá tượng trưng cho Pô Đam và thân nhân hoàng tộc.
Theo giáo nghĩa Shiva giáo, linga đặt trên yoni là hình thức thờ Shiva phổ biến nhất trong đền tháp Chăm. Còn trong tín ngưỡng Chăm, một vị vua có công với dân sau khi mất có thể được đưa lên hàng thần và thờ ở đền. Kút là loại bia đá người Chăm dựng để tượng trưng cho người đã khuất trong dòng họ. Khi các bia kút của Pô Đam và hoàng tộc được đặt ở đây, ngôi đền Shiva cũ mang thêm một lớp nghĩa mới là nơi nhớ tổ tiên và người có công.
Cần nói rõ về niên đại. Tháp dựng vào khoảng thế kỷ 8 tới 9. Còn vua Pô Đam, theo Báo Lâm Đồng, trị vì 1446 tới 1472. Như vậy vị vua sống sau khi tháp được dựng chừng sáu, bảy trăm năm. Việc thờ vua ở đây là lớp tín ngưỡng về sau gán vào đền cổ, không phải lý do dựng tháp.
Báo Lâm Đồng ghi nhiều con đập ở các vùng thuộc Panduranga cũ mang tên Pô Đam, gắn với tích ông dạy dân trồng lúa, dệt vải và đắp đập. Đó là lớp tích truyện của cộng đồng, thư viện ghi lại như tích truyện, không ghi như sử biên niên.
Chỗ hay hiểu lầm lớn nhất: thấy tháp mang tên Pô Đam, nhiều người nghĩ vua Pô Đam đã dựng tháp. Không phải. Phong cách Hòa Lai và các niên đại của Cục Di sản văn hóa đặt tháp vào thế kỷ 8 tới 9, còn vị vua sống ở thế kỷ 15. Tên gọi phản ánh ai được thờ về sau, không phải ai dựng.
Chỗ thứ hai là các tên khác. Pô Tằm, Pô Kathit hay Trà Duyệt đều chỉ cùng một cụm tháp, không phải những di tích khác nhau.
IITừ Thế Kỷ 8 Tới Lớp Thờ Vua
Tháp thuộc tiểu quốc Panduranga, vùng phía nam của Champa. Niên đại được định theo phong cách, không theo bia khởi dựng, và các nguồn không hoàn toàn trùng nhau. Báo Lâm Đồng ghi cả cụm dựng khoảng cuối thế kỷ 8 tới đầu thế kỷ 9, định theo phong cách Hòa Lai. Cục Di sản văn hóa chia ra: ba tháp phía bắc thuộc cuối thế kỷ 8, sớm hơn cả nhóm Hòa Lai, còn các tháp còn lại thuộc giữa thế kỷ 9. Nghĩa là cụm tháp không dựng một lần mà qua ít nhất hai đợt.
- Cuối thế kỷ 8Nhóm tháp phía bắcTheo Cục Di sản văn hóa, ba tháp phía bắc thuộc lớp này, được xem là sớm hơn nhóm tháp Hòa Lai.
- Giữa thế kỷ 9Các tháp còn lạiTheo Cục Di sản văn hóa. Báo Lâm Đồng ghi gọn cả cụm là cuối thế kỷ 8 tới đầu thế kỷ 9.
- 1446 tới 1472Đời vua Pô ĐamNăm trị vì theo Báo Lâm Đồng. Việc thờ vua cùng hoàng tộc tại cụm tháp là lớp tín ngưỡng về sau.
- 1996Di tích quốc giaXếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 1460-QĐ/VH ngày 28 tháng 6 năm 1996.
- 2025Đổi địa giớiXã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nay là đơn vị cũ. Di tích thuộc xã Liên Hương, tỉnh Lâm Đồng.
Về số tháp còn lại, nguồn cũng vênh. Cục Di sản văn hóa ghi cụm gồm sáu tháp chia hai nhóm bắc nam. Báo Lâm Đồng ghi nay chỉ còn ba tháp tương đối. Một bài của báo Thể thao và Văn hóa năm 2013 lại ghi hai tháp trục bắc đổ hoàn toàn và bốn tháp trục nam không ngôi nào còn nguyên vẹn, tức cách chia hai nhóm cũng khác với hồ sơ di tích. Thư viện ghi cả ba cách và không chọn.
Tại di tích còn một bia đá khắc chữ Chăm, tư liệu văn tự tại chỗ mà các nguồn phổ thông chưa dịch công bố.
IIIPhong Cách Hòa Lai Nép Vào Vách Đá
Pô Đam là một trong những cụm tháp tiêu biểu của phong cách Hòa Lai, cùng lối với tháp Hòa Lai, nơi phong cách này lấy tên. Phần giới thiệu kỹ phong cách ấy đã có trong bài Hòa Lai. Ở đây chỉ xin chỉ ra chỗ quý vị nhìn để nhận ra nó: trụ ốp tường rộng bản chạy dọc thân tháp, vòm cửa cuốn nhiều lớp, và những dải hoa văn chạm thẳng lên mặt gạch. Cục Di sản văn hóa mô tả các mô típ điêu khắc ở đây phong phú, tạo nên những nhịp điệu sinh động.
Sáu tháp chia hai nhóm bắc và nam, xếp theo hai trục song song, theo hồ sơ Cục Di sản văn hóa.
Các tháp dựng trên sườn dốc chân núi Ông Xiêm, người Chăm gọi là Kađak, tận dụng nền đá chắc của chân núi.
Dấu hiệu dễ nhận của phong cách Hòa Lai, còn thấy rõ ở những tháp giữ được thân tường.
Một tấm bia văn tự còn tại di tích, bên cạnh các bia kút tượng trưng cho Pô Đam và hoàng tộc.
Điều làm Pô Đam khác hẳn các cụm tháp cùng phong cách là chỗ đứng. Lệ thường của tháp Chăm là dựng trên đỉnh đồi trống, như tháp Po Sah Inư trên đồi Bà Nài nhìn ra biển, cùng lớp thế kỷ 8, cách đây chừng 71 cây số. Còn ở Pô Đam, cụm tháp nép sát vách núi đá. Báo Thể thao và Văn hóa ghi các nhà nghiên cứu chưa có lời giải thích chính thức cho việc chọn sườn núi thay vì đỉnh đồi. Thư viện ghi nguyên như vậy.
IVThế Đất Và Hướng
Lệ đền tháp Ấn Độ Giáo mà người Chăm theo là mở cửa chính về hướng Đông, đặt tháp lên gò hay đồi, gắn khu đền với núi thiêng và nguồn nước. Pô Đam là trường hợp lệch lệ. Cục Di sản văn hóa ghi hai trục tháp hướng về phía nam chếch tây 15 độ 30 phút. Báo Thể thao và Văn hóa ghi năm trong sáu tháp quay mặt về hướng nam chếch tây, chỉ tháp Nam có cửa hướng Đông. Lý do chưa được giải thích. Ấn Độ Giáo không dạy phong thủy. Đoạn tiếp theo là thư viện thử đọc thế đất theo phong thủy cổ truyền của người Việt để quý vị đối chiếu, không phải lời giải cho chỗ lệch ấy và không chép trong văn bản nào về cụm tháp.
Với người quen phong thủy Á Đông, Pô Đam là cụm tháp Chăm dễ đọc nhất, vì nó có đúng thứ mà các tháp khác thiếu: núi làm chỗ tựa. Vách núi Ông Xiêm đứng ngay sau lưng, đồng bằng mở ra trước mặt. Đó gần với thế tựa sơn mà sách xem đất coi là nền của mọi cuộc đất tốt. Chỉ có điều người Chăm không đọc núi như thế. Với họ, núi là chỗ thiêng, và đặt đền sát núi có thể là đặt đền gần chỗ thiêng ấy.
Thứ hai là hướng nam chếch tây. Trong phép cũ của người Việt, hướng Nam thuộc hành Hỏa, là hướng đền miếu Bắc Bộ chuộng nhất vì đón nắng và gió lành. Một cụm tháp Chăm quay mặt gần về phương ấy thì với con mắt người Việt lại trông quen hơn các tháp quay Đông. Nhưng xin nhắc rằng sự trùng ấy là ngẫu nhiên. Nếu người dựng đã chọn nép vào sườn núi, thì hướng của sườn núi rất có thể đã quyết định hướng cửa, và đó chỉ là một giả thiết của thư viện, chưa nguồn nào xác nhận.
Thứ ba là nước. Tháp mang tên một vị vua được nhớ vì đắp đập. Phong thủy người Việt tìm nước trước mặt công trình để làm minh đường. Ở Pô Đam, nước không nằm trong thế đất mà nằm trong tên gọi và trong tích truyện: người được thờ là người đem nước tới cho một vùng khô hạn.
VLễ Của Người Chăm Tại Cụm Tháp
Pô Đam còn lễ. Người Chăm Bàlamôn trong vùng vẫn về đây hành lễ theo lịch Chăm. Cục Di sản văn hóa ghi ba lễ chính. Báo Lâm Đồng ghi thêm có lễ hội tổ chức ba năm một lần, nhưng không nói rõ đó là lễ nào trong số ấy, nên thư viện ghi thành một dòng riêng.
| Lễ | Thời điểm | Nội dung |
|---|---|---|
| Lễ Katê | Tháng 7 lịch Chăm | Lễ lớn nhất trong năm của người Chăm Bàlamôn, hướng về các vị thần và các vị vua được thần hóa. |
| Lễ cầu mưa | Theo lịch Chăm, nguồn không ghi tháng | Lễ cầu nước cho mùa màng, hợp với ký ức về vị vua đắp đập ở vùng khô hạn. |
| Lễ tưởng niệm Pô Đam | Tháng 4 lịch Chăm | Lễ cúng vua Pô Đam và hoàng tộc, theo Cục Di sản văn hóa. |
| Lễ hội ba năm một lần | Nguồn không ghi tháng | Báo Lâm Đồng ghi, chưa rõ trùng với lễ nào ở trên. |
Diễn trình các chặng lễ Katê thư viện đã ghi trong bài tháp Po Klong Garai. Ở Pô Đam, điều riêng là lễ tưởng niệm vào tháng 4 lịch Chăm, dành cho chính vị vua mà cụm tháp mang tên, cho thấy lớp thờ vua về sau đã trở thành phần sống nhất của nơi này.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Chân núi Ông Xiêm (người Chăm gọi Kađak), thôn Lạc Trị, xã Liên Hương (xã Phú Lạc cũ, huyện Tuy Phong cũ, tỉnh Bình Thuận cũ), tỉnh Lâm Đồng
- Đường tới
- Chân núi Ông Xiêm, thôn Lạc Trị, xã Liên Hương, tỉnh Lâm Đồng, trước thuộc xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận cũ.
- Toạ độ
- 11.2667, 108.6921
Đây là đền còn được người Chăm hành lễ, dù nhiều tháp đã đổ. Lệ ở đây là không trèo lên thân tháp và nền gạch, không chạm vào bia chữ Chăm và các bia kút, không xê dịch gạch vụn quanh chân tháp. Sườn núi dốc và nhiều đá, nên đi theo lối mòn sẵn có. Vào dịp lễ, nghi thức do chức sắc Chăm chủ trì, khách đứng ngoài xem theo lời người trông coi.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tháp Pô Đam
Contribute photos, information or video for Po Dam Cham TowersThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tháp Pô Đam thờ ai
Lớp gốc là đền Hindu thờ Shiva dưới dạng linga yoni. Về sau người Chăm thờ vua Pô Đam cùng hoàng tộc tại đây, qua các bia kút. Vua Pô Đam sống ở thế kỷ 15, muộn hơn tháp nhiều thế kỷ, nên việc thờ vua là lớp tín ngưỡng về sau.
Tháp Pô Đam xây năm nào
Niên đại định theo phong cách Hòa Lai. Báo Lâm Đồng ghi cuối thế kỷ 8 tới đầu thế kỷ 9. Cục Di sản văn hóa ghi ba tháp phía bắc thuộc cuối thế kỷ 8, các tháp còn lại giữa thế kỷ 9. Không có bia ghi năm khởi dựng.
Vì sao tháp Pô Đam không quay hướng Đông
Cục Di sản văn hóa ghi hai trục tháp hướng về nam chếch tây 15 độ 30 phút. Báo Thể thao và Văn hóa ghi năm trong sáu tháp quay về hướng ấy, chỉ tháp Nam mở cửa hướng Đông. Các nhà nghiên cứu chưa có lời giải thích chính thức.
Tháp Pô Đam còn mấy tháp
Cụm gốc có sáu tháp chia hai nhóm bắc nam. Báo Lâm Đồng ghi nay còn ba tháp tương đối. Một bài năm 2013 của báo Thể thao và Văn hóa ghi hai tháp trục bắc đổ hoàn toàn, bốn tháp trục nam không ngôi nào nguyên vẹn. Các nguồn vênh nhau.
Tháp Pô Đam có lễ Katê không
Có. Người Chăm Bàlamôn làm lễ Katê, lễ cầu mưa và lễ tưởng niệm Pô Đam vào tháng 4 lịch Chăm tại đây, theo Cục Di sản văn hóa. Báo Lâm Đồng ghi thêm có lễ hội tổ chức ba năm một lần.