ITổng Quan
Giáo hội Maronite là một trong hai mươi ba giáo hội Công Giáo Đông Phương, mang tên thánh Maron, một ẩn sĩ sống ở vùng Syria, mất quãng năm 410. Đây là cộng đồng Kitô hữu lớn nhất ở Liban.
Giáo hội theo nghi lễ Syria Tây, phụng vụ bằng tiếng Syriac và tiếng Ả Rập, có Thượng phụ riêng mang tước Thượng phụ Antiochia và toàn Đông Phương của người Maronite. Tòa thượng phụ đặt ở Bkerke, phía bắc Beirut. Theo Wikipedia, chừng hai phần ba tín hữu sống ngoài Trung Đông, chủ yếu ở châu Mỹ và Úc.
IILịch Sử Hình Thành
Sau khi thánh Maron qua đời, môn đệ lập tu viện mang tên ngài ở vùng sông Orontes, Syria. Tu viện đứng về phía Công đồng Canxêđônia năm 451 trong những tranh luận thần học của thời ấy. Quãng năm 685, cộng đoàn bầu thánh Gioan Maron làm thượng phụ, từ đó có dòng thượng phụ riêng. Bị áp lực từ nhiều phía, cộng đoàn dần rút lên vùng núi Liban, dựng tu viện và làng trong các thung lũng hiểm trở.
- quãng 410Thánh Maron qua đờiẨn sĩ sống ngoài trời ở vùng Syria, được môn đệ tôn làm thầy.
- quãng 685Thượng phụ đầu tiênThánh Gioan Maron được bầu, mở dòng kế vị thượng phụ.
- 1182Tiếp xúc với Rôma thời Thập tự chinhCác nguồn Latinh ghi người Maronite xác nhận hiệp thông với Rôma.
- 1584Học viện Maronite ở RômaĐức Grêgôriô XIII lập học viện đào tạo giáo sĩ Maronite, nơi xuất thân nhiều học giả Syriac.
- 1736Công nghị núi LibanCông nghị định hình tổ chức và kỷ luật của giáo hội thời cận đại.
- 1943Hiệp ước Quốc gia LibanThỏa thuận chưa thành văn quy định Tổng thống Liban là người Maronite.
- 2011Thượng phụ Bechara Boutros al RaiĐược bầu tháng Ba năm 2011, lên Hồng y năm 2012.
IIIGiáo Lý Và Điểm Riêng
Giáo hội Maronite khẳng định mình chưa bao giờ đứt hiệp thông với Rôma, không có một ngày tách ra rồi hợp lại như nhiều giáo hội Đông Phương khác. Đây là điểm cộng đoàn rất coi trọng khi kể về mình.
Một số sử gia cho rằng trong thế kỷ 7 tới 12, cộng đoàn từng chịu ảnh hưởng thuyết một ý chí, tức monothelitism, một chủ trương bị Công đồng Constantinôpôli III năm 681 bác bỏ. Giáo hội Maronite không nhận nhận định này. Thư viện ghi cả hai phía.
Về tín lý, giáo hội tin như toàn thể Công Giáo. Qua nhiều thế kỷ gần Rôma, phụng vụ Maronite nhận khá nhiều yếu tố Latinh, như cách bài trí nhà thờ, lễ phục, và việc dùng bánh không men. Ở Liban, người đã lập gia đình có thể chịu chức linh mục. Năm 2014 Tòa Thánh bỏ hạn chế cũ đối với linh mục Đông Phương có gia đình ở ngoài các vùng truyền thống.
IVTu Tập, Nghi Lễ Và Đời Sống
Thánh Lễ Maronite gọi là Qurbono, lời truyền phép thường đọc bằng tiếng Syriac, gốc gần với ngôn ngữ Aram. Truyền thống đan tu rất đậm. Thung lũng Qadisha ở bắc Liban, nơi có nhiều tu viện và hang ẩn tu Maronite, được UNESCO ghi vào Danh sách Di sản Thế giới năm 1998 cùng rừng Tuyết tùng của Thiên Chúa.
Các vị thánh được kính nhiều nhất là thánh Charbel Makhlouf, tuyên thánh năm 1977, thánh Rafqa năm 2001, và thánh Nimatullah al Hardini năm 2004. Mộ thánh Charbel ở Annaya là nơi hành hương lớn, thu hút cả người không theo Công Giáo.
VTổ Chức Và Phân Bố
Thượng phụ do Thượng hội đồng giám mục bầu, rồi xin Giáo hoàng hiệp thông giáo hội. Theo Niên giám Tòa Thánh 2023, giáo hội có 3.543.796 tín hữu. Wikipedia ghi khoảng 28 giáo phận và hạt đại diện thượng phụ trên khắp Trung Đông, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi và châu Đại Dương. Ở Liban, theo Wikipedia, người Maronite chiếm chừng 22 tới 23 phần trăm dân số, con số ước lượng vì Liban chưa tổng điều tra dân số từ năm 1932. Cộng đồng hải ngoại đông nhất ở Brasil, rồi Hoa Kỳ, Argentina, Úc, Canada, Mexico và Pháp.
Cộng đồng hải ngoại hình thành qua hai đợt di cư lớn. Đợt thứ nhất từ cuối thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20, khi nhiều gia đình từ núi Liban sang châu Mỹ làm ăn. Đợt thứ hai trong và sau nội chiến Liban từ năm 1975 tới năm 1990. Ở nhiều nước, người Maronite nay đã sang thế hệ thứ ba, thứ tư, và phụng vụ được cử hành song ngữ, tiếng Syriac với tiếng Anh, Bồ Đào Nha hay Tây Ban Nha. Việc giữ tiếng Syriac trong phụng vụ cho thế hệ trẻ là mối bận tâm thường được các giáo phận hải ngoại nêu ra.
VITại Việt Nam
Chưa có cộng đồng Maronite đáng kể tại Việt Nam, và chưa tìm được nguồn về giáo xứ hay linh mục Maronite ở đây. Theo giáo luật Đông Phương, tín hữu sống ở nơi không có giáo phận của giáo hội mình thì thuộc quyền giám mục sở tại, nên người Liban Công Giáo ở Việt Nam, nếu có, thường tham dự Thánh Lễ tại giáo xứ Latinh.
VIIBiểu Tượng Của Nhánh
Thánh Giá Maronite
الصليب الماروني
VIIICác Nhánh Khác Của Công Giáo
IXNguồn Tham Khảo
Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.
?Hỏi Đáp Nhanh
Người Maronite có phải là người Ả Rập không?
Đa số nói tiếng Ả Rập, nhưng nhiều người Maronite nhấn mạnh gốc Syriac và Aram của mình hơn là bản sắc Ả Rập. Đây là chuyện tự nhận diện, mỗi người một khác.
Giáo hội Maronite có thuộc Công Giáo không?
Có. Đây là một giáo hội tự trị trong Giáo hội Công Giáo, hiệp thông trọn vẹn với Giáo hoàng, có Thượng phụ và Thượng hội đồng riêng.
Vì sao Tổng thống Liban phải là người Maronite?
Theo Hiệp ước Quốc gia năm 1943, một thỏa thuận chưa thành văn chia các chức vụ cao nhất theo cộng đồng tôn giáo. Tổng thống là người Maronite, Thủ tướng là người Hồi Giáo Sunni, Chủ tịch Quốc hội là người Hồi Giáo Shia.
Thánh Charbel là ai?
Một đan sĩ Maronite sống ẩn tu thế kỷ 19, được tuyên thánh năm 1977. Mộ ngài ở Annaya, Liban, là nơi hành hương của nhiều người, cả Kitô hữu lẫn người theo đạo khác.