ITổng Quan
Giáo Phái Thần Đạo 教派神道 là tên chung cho các giáo đoàn Thần Đạo có người sáng lập hoặc người tổ chức, có giáo lý thành lời và có hội viên ghi danh. Chính ba điểm ấy làm nó khác hẳn Thần Xã Thần Đạo, vốn không có giáo chủ và không có sổ tín đồ theo nghĩa hội viên.
Tên gọi này sinh ra từ một cách phân loại hành chính. Thời Minh Trị, nhà nước xếp thần xã vào hàng nghi lễ quốc gia, còn những nhóm giảng về kami cho dân thì được công nhận riêng thành từng giáo phái. Tới năm 1908 có mười ba giáo phái như thế, nên sách cũ hay gọi là Thần Đạo mười ba phái. Ngày nay Liên hợp hội Giáo phái Thần Đạo 教派神道連合会 có mười hai giáo đoàn thành viên. Thần xã Bản sảnh xếp dòng này là một trong bốn dạng của Thần Đạo và gọi nó là Tông Phái Thần Đạo.
IILịch Sử Hình Thành
Đầu thời Minh Trị, nhà nước mở chiến dịch giảng giáo lý quốc gia và dùng cả thần chức lẫn tăng sĩ làm giảng viên. Chiến dịch ấy thất bại vào giữa thập niên 1870. Năm 1882, một lệnh cấm thần chức của các thần xã được nhà nước xếp hạng làm việc giảng đạo và lo tang lễ. Từ đó, ai muốn tiếp tục giảng về kami phải đứng ra lập một giáo đoàn tách khỏi thần xã. Một số giáo phái là các phong trào có người sáng lập nhận mặc khải, số khác là tổ chức do thần chức hoặc học giả lập ra để giữ việc giảng dạy.
- 1876Hai giáo phái đầu tiênKurozumikyō và Shintō Shūseiha được công nhận độc lập.
- 1882Lệnh tách thần chức khỏi việc giảng đạoCùng năm, sáu giáo phái được công nhận, trong đó có Izumo Ōyashirokyō, Fusōkyō, Jikkōkyō, Shintō Taiseikyō, Shinshūkyō và Ontakekyō.
- 1886Shintō Taikyō độc lậpKhi ấy mang tên Shintō Honkyoku.
- 1894Shinrikyō và MisogikyōHai giáo phái nữa được công nhận.
- 1895Hội liên lạc đầu tiênTám giáo phái lập Shintō Dōshikai, tiền thân của Liên hợp hội.
- 1900 và 1908Konkōkyō rồi TenrikyōHai giáo phái cuối cùng, nâng tổng số lên mười ba.
- 1934Tên Kyōha Shintō RengōkaiLiên hợp hội mang tên như hiện nay.
- Sau 1945Thành viên thay đổiTenrikyō và Shintō Taiseikyō rút ra, Ōmoto gia nhập, thành mười hai giáo đoàn.
IIICác Kiểu Giáo Phái
Mười ba phái không có chung một giáo lý. Giới nghiên cứu thường chia chúng thành vài nhóm theo nguồn gốc, và chính các nhóm này cho thấy chữ Giáo Phái Thần Đạo gom những thứ rất khác nhau.
| Kiểu | Ví dụ | Đặc điểm |
|---|---|---|
| Thờ núi thiêng | Fusōkyō, Jikkōkyō, Ontakekyō | Gốc từ các phường hành hương núi Fuji và núi Ontake |
| Thanh tẩy | Misogikyō, Shinshūkyō | Nhấn vào phép tẩy và phép thở, tu luyện thân tâm |
| Pha Nho học | Shintō Shūseiha, Shintō Taiseikyō | Kết hợp kami với luân lý Nho giáo |
| Phục cổ, gắn với thần xã | Shintō Taikyō, Izumo Ōyashirokyō, Shinrikyō | Giữ lối giảng của học phái phục cổ hoặc của một thần xã lớn |
| Có người sáng lập nhận mặc khải | Kurozumikyō, Konkōkyō, Tenrikyō | Giáo lý khởi từ trải nghiệm của một người, về sau được xếp vào tôn giáo mới |
Hiểu lầm: Thiên Lý Giáo Tenrikyō vẫn là một phái Thần Đạo. Sự thật: Tenrikyō từng nằm trong mười ba phái vì khung pháp lý thời ấy, nhưng đã rút khỏi Liên hợp hội sau chiến tranh và hiện thường được coi là một tôn giáo riêng có giáo lý độc thần. Trang này không xếp Tenrikyō vào các nhánh của Thần Đạo.
IVTu Tập Và Sinh Hoạt
Mỗi giáo đoàn có nơi thờ riêng, thường gọi là giáo hội 教会 hay phân từ, có người giảng đạo được giáo đoàn phong, có kinh văn hoặc lời dạy của người sáng lập. Người vào giáo đoàn thì ghi danh, dự lễ hằng tháng, học giáo lý. Hình thức lễ nhìn bề ngoài gần với lễ thần xã: dâng lễ vật, đọc lời khấn, vỗ tay. Chỗ khác là có phần giảng, có tư vấn cho tín đồ, và có những phép tu riêng như leo núi thiêng, phép tẩy bằng nước lạnh, lễ chào mặt trời lúc bình minh, hay lối trung gian cầu thay của Konkōkyō.
VTổ Chức Và Phân Bố
Liên hợp hội Giáo phái Thần Đạo là hội liên lạc, không phải cơ quan cấp trên. Mỗi giáo đoàn là một pháp nhân tôn giáo riêng, tự quản, có trụ sở riêng. Theo bảng tổng hợp từ Niên giám Tôn giáo bản 2020 trên Wikipedia tiếng Anh, Izumo Ōyashirokyō đông nhất với 1.266.058 tín đồ, rồi tới Konkōkyō với 397.461 và Kurozumikyō với 297.351. Ōmoto được ghi 166.367. Mười hai thành viên cộng lại quãng 2,5 triệu người. Các con số do giáo đoàn tự báo lên Cục Văn hóa.
Hầu hết giáo đoàn tập trung ở Nhật Bản. Một vài giáo đoàn có chi nhánh ở nước ngoài, nhất là ở Hawaii, Bắc Mỹ và Brazil, nơi có cộng đồng người Nhật di cư.
VITại Việt Nam
Thư viện chưa tìm được nguồn nào ghi nhận hoạt động của các giáo đoàn Giáo Phái Thần Đạo tại Việt Nam. Không giáo đoàn nào có tên trong danh sách tổ chức tôn giáo được cấp đăng ký ở Việt Nam theo số liệu Ban Tôn giáo Chính phủ công bố ngày 01 tháng 8 năm 2025. Người Việt đọc tiếng Nhật có thể gặp tên các giáo đoàn này qua sách về tôn giáo mới của Nhật Bản.
VIIBiểu Tượng Của Nhánh
Nhánh này chưa có biểu tượng riêng được ghi nhận có nguồn, nên thư viện dùng biểu tượng chung của đạo.
VIIICác Nhánh Con
- Izumo Ōyashirokyō 出雲大社教
- Ōmoto 大本
- Ontakekyō 御嶽教
- Kurozumikyō 黒住教
- Konkōkyō 金光教
- Jikkōkyō 実行教
- Shinshūkyō 神習教
- Shintō Shūseiha 神道修成派
- Shintō Taikyō 神道大教
- Shinrikyō 神理教
- Fusōkyō 扶桑教
- Misogikyō 禊教
IXCác Nhánh Khác Của Thần Đạo Nhật Bản
XNguồn Tham Khảo
Thư viện đối chiếu các nguồn dưới đây. Chỗ nào các nguồn vênh nhau, bài ghi rõ cả hai.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao gọi là Thần Đạo mười ba phái?
Vì từ năm 1876 tới năm 1908, nhà nước Minh Trị công nhận riêng mười ba giáo phái Thần Đạo. Ngày nay Liên hợp hội Giáo phái Thần Đạo có mười hai thành viên, thành phần đã đổi so với trước chiến tranh.
Giáo Phái Thần Đạo khác Thần Xã Thần Đạo ở đâu?
Giáo Phái Thần Đạo có người sáng lập hoặc người tổ chức, có giáo lý thành lời và có hội viên ghi danh. Thần Xã Thần Đạo không có giáo chủ, trục là nghi lễ tại thần xã và cư dân trong địa hạt.
Tenrikyō có thuộc Giáo Phái Thần Đạo không?
Trước chiến tranh thì có, trong khung pháp lý thời ấy. Sau chiến tranh Tenrikyō rút khỏi Liên hợp hội và nay thường được coi là một tôn giáo riêng.
Giáo đoàn nào đông nhất?
Izumo Ōyashirokyō, với 1.266.058 tín đồ theo Niên giám Tôn giáo bản 2020 dẫn trên Wikipedia tiếng Anh. Kế đến là Konkōkyō và Kurozumikyō.